Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH š&›
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
NÂNG CAO
ĐỀ BÀI: Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng Á Châu năm 2010
GVHD: TRẦN ĐỨC VUI
Lớp QTKD1 – K19
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm tòi tài liệu, tham khảo trong giáo trình cùng với sự
hướng dẫn của Thầy giảng viên bộ môn Quản trị tài chính doanh nghiệp nâng
cao chúng em đã hoàn thành xong đề tài tiểu luận: “Phân tích báo cáo tài
chính ngân hàng Á Châu năm 2010”. Bài tiểu luận này, thực sự là dấu ấn
quan trọng trong quá trình học tập của mỗi thành viên trong nhóm. Mỗi thành
viên đều phải vượt qua những hạn chế của bản thân về thời gian, phương tiện
đi lại, kiến thức… để cùng nhau hoàn thành bài tiểu luận với một chất lượng tốt
nhất.
Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của
thầy mà chúng em đã nhận được trong suốt thời gian qua. Thay mặt nhóm, Nhóm trưởng
Nguyễn Thị Ngọc Dịu
3
Quách Anh Dũng
4
Nguyễn Xuân Kỷ
5
Đào Minh Nguyệt
6
Hoàng Đức Nhuận
7
Nguyễn Xuân Tiến
8
Bùi Thị Huyền Trang
9
Phạm Bích Vui
Trang 4
Mục lục
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG Á CHÂU
1.1. Bối cảnh thành lập và thông tin liên lạc:………… …… ……………5
1.2. Phân tích ý nghĩa logo……………………………… …… … …… 5
1.3. Vốn điều lệ……….…………………………………… …… … ……6
1.4. Nhân sự ……………….……………………………… … … ………6
1.5. Lịch sử hình thành………………………………………… … ……6
1.6. Lĩnh vực kinh doanh……………………… ………… … … ……7
1.7. Vị thế của công ty…………………………….……….……….… ……7
1.8. Chiến lược phát triển và đầu tư……… …….……………… ….……8
1.9. Phân tích mô hình SWOT……… …….………………………………9
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Á CHÂU NĂM 2010
1.2. Phân tích ý nghĩa logo
1 ACB là chữ viết tắt của Asia Commercial Bank
2 3 chữ cái A, C, B lần lượt được giải thích với ý nghĩa:
o A (Attitude: Thái độ): Nhân viên ACB luôn có thái độ tôn trọng
khách hàng, lắng nghe khách hàng xem khách hàng là đối tác
trong quan hệ, quan hệ lợi ích hỗ tương.
o C (Capability: Năng lực): ACB cung cấp đầy đủ nguồn lực vật
chất, tài chính và nhân sự để đảm bảo quá trình cung cấp sản
phẩm dịch vụ và các tiện nghi giao dịch được thuận lợi và an
toàn.
o B (Behaviour: Hành vi): Nhân viên ACB luôn ứng xử lịch sự,
thân thiện với khách hàng.
3 Logo của ngân hàng ACB có màu xanh biểu trưng của niềm tin, hy
vọng, sử trẻ trung và năng động. Đồng thời logo có 12 gạch chạy ngang
Trang 6
ba chữ A, C, B và có vị trí trung tâm. Số 12 đại diện cho 12 tháng năm
trong và các vạch ngang biểu trưng cho dòng lưu thông tiền tệ trong
hoạt động tài chính ngân hàng, vị trí trung tâm biểu trưng cho trạng thái
cân bằng. Có thể nói dòng lưu thông tiền tệ của ACB luôn ở trạng thái
ổn định, cân bằng giữa hai mặt an toàn và hiệu quả, và luôn luôn như thế
theo thời gian.
1.3. Vốn điều lệ:
Kể từ ngày 31/12/2010 vốn điều lệ của ACB là 9.376.965.060.000 đồng
(Chín nghìn ba trăm bảy mươi sáu tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu
không trăm sáu mươi nghìn đồng)
1.4. Nhân sự:
ngân hàng cốt lõi, hợp tác với Microsoft về việc áp dụng công nghệ thông
tin vào vận hành và quản lý, hợp tác với Ngân hàng Standard Chartered về
việc phát hành trái phiếu. ACB phát hành 10 triệu cổ phiếu mệnh giá 100 tỷ
đồng, với số tiền thu được là hơn 1.800 tỷ đồng.
Năm 2008: ACB thành lập mới 75 chi nhánh và phòng giao dịch, hợp tác
với American Express về séc du lịch, triển khai dịch vụ chấp nhận thanh
toán thẻ JCB. ACB tăng vốn điều lệ lên 6.355.812.780 tỷ đồng. ACB đạt
danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2008" do Tạp chí Euromoney
trao tặng tại Hong Kong 1.6 Lĩnh vực kinh doanh
Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm,
tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận
vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; cho vay ngắn, trung và dài
hạn; chiết khấu thương phiếu, công trái và giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng
khoán và các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; thanh toán quốc tế, môi giới và tư vấn đầu tư
chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành;
cung cấp các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản, cho thuê tài
chính và các dịch vụ ngân hàng khác.
1.7 Vị thế của công ty Trang 8
Với hơn 200 sản phẩm dịch vụ, ACB được khách hàng đánh giá là một trong
các ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất, dựa
trên nền công nghệ thông tin hiện đại. Hiện nay, ACB tích cực phát triển
mạng lưới kênh phân phối với 167 chi nhánh và phòng giao dịch, đồng thời
2011, Tập đoàn ACB dự kiến có quy mô vốn chủ sở hữu khoảng 15 ngàn tỷ
đồng, tổng tài sản vào khoảng 315 ngàn tỷ đồng và lợi nhuận khoảng 7 ngàn
tỷ đồng. 1.9. Phân tích mô hình SWOT
a. Điểm mạnh:
o Là ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam với
mạng lưới kênh phân phối trên 133 chi nhánh tại các vùng kinh tế
phát triển trên toàn quốc. Các sản phẩm tín dụng phong phú đặc
biệt là cho khách hàng cá nhân.
o Các nghiệp vụ được chuẩn hoá theo qui trình ISO 9001:2000
o Đội ngũ cán bộ có trình độ cao trên 86% có trình độ trên đại học
và được công ty tài chính quốc tế IFC hỗ trợ chuyên về đào tạo
nghiệp vụ.
o Các giao dịch được trực tuyến hoá từ năm 2001 thông qua hệ
quản trị nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ và có thể phục vụ khách
hàng 24/24 giờ.
o ACB là thành viên của SWIFT (Society for Worldwide Interbank
Financial Telecommunication), tức là Hiệp hội Viễn thông Tài
chính Liên ngân hàng Toàn Thế giới, bảo đảm phục vụ khách
hàng trên toàn thế giới trong suốt 24 giờ mỗi ngày.
o Có sự hậu thuẫn lớn về tài chính và các công nghệ ngân hàng do
có các cổ đông chiến lược nước ngoài là Connaught Investor,
Dragon Financial Holding, Ltd, ngân hàng Standard Chartered.
o Đa ngành nghề kinh doanh về tiền tệ đặc biệt là kinh doanh vàng.
ACB liên doanh SJC xây dựng sàn giao dịch vàng đầu tiên và lớn
nhất VN.
b. Điểm yếu:
Trang 11
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Á
CHÂU NĂM 2010
2.1. Tình hình chung của thế giới, Việt Nam:
Trong suốt 16 năm nay, có thể nói môi trường kinh doanh năm 2008 thuộc
loại khó khăn nhất, cả điều kiện bên trong lẫn bên ngoài. Ở ngoài nước, cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới nặng nề nhất từ sau chiến
tranh thế giới lần thứ hai nổ ra từ Mỹ và lây lan rất nhanh đến các khu vực và
quốc gia khác trên thế giới kéo theo suy thoái toàn cầu. Trong nỗ lực phục hồi
kinh tế và hoạt động thị trường tài chính, Ngân hàng trung ương nhiều nước
đồng loạt cắt giảm lãi suất đến mức kỷ lục cũng như liên tục đưa ra các gói cứu
trợ và kích thích kinh tế khổng lồ. Đặc biệt, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đây
là lần đầu tiên đưa lãi suất về mức 0%.
Việt Nam không được loại trừ, thậm chí còn bị tác động nặng nề hơn so với
nhiều nước khác trong khu vực và đương nhiên gây ra rất nhiều khó khăn cho
các hoạt động tài chính ngân hàng. Ở trong nước, do nhiều nguyên nhân, cả
trước mắt và lâu dài, cả khách quan và chủ quan, kinh tế tăng trưởng chậm hẳn
lại, đạt mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000; nhập siêu cao nhất từ trước đến
nay; lạm phát đầu năm tăng rất cao, cuối năm xuất hiện hiện tượng thiểu phát,
tính chung cả năm chỉ số giá tiêu dùng cao nhất kể từ năm 1992, hoạt động sản
xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước thu hẹp đáng kể; thị trường bất động
sản bị đóng băng; thị trường chứng khoán tụt dốc
Hoạt động tài chính ngân hàng phải hứng chịu những thử thách lớn, trái chiều
- Nhìn chung nợ phải trả của ngân hàng ACB tăng khá nhiều, tăng từ
157.774.760 triệu đồng năm 2009 lên 193.726.193 triệu đồng năm 2010,
tăng gần 30%. Trong đó hầu như tất cả các khoản nợ phải trả đều tăng:
Trang 13
· Các khoản nợ ngắn hạn và ngân hàng nhà nước năm 2009 là 9.451.677
triệu đồng, giảm so với 10.256.943 triệu đồng năm 2010.
· Tiền gửi các tổ chức tín dụng khác tăng từ 10.449.825triệu đồng năm
2009 lên 28.129.963 triệu đồng năm 2010, tức tăng 180 %.
· Tiền gửi của khách hàng tăng từ 86.919.196 triệu đồng năm 2009 lên
106.936.611 triệu đồng năm 2010, tăng 23.2%
· Các công cụ tài chính phái sinh và các khoản nợ tài chính khác tăng
23.351 triệu đồng.
· Trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi từ 26.582.588 triệu đồng lên
38.254.151 triệu đồng.
· Các khoản phải trả và công nợ khác cũng tăng.
- Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư , cho vay tổ chức tín dụng chịu rủi ro tăng từ
270.304 triệu đồng năm 2009 lên 379.768 triệu đồng năm 2010
- Nhìn chung tài sản của ngân hàng tăng nhưng nợ phải trả của ngân hàng cũng
tăng, điều này cho thấy ACB đang trong thời kỳ mở rộng hệ thống ngân hàng,
phát triển mạng lưới cho vay và đầu tư nhiều sang các lĩnh vực khác.
2 Vốn chủ sở hữu:
- Nguồn vốn của doanh nghiệp tăng một phần là do nguồn vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp tăng khá nhanh.
- Cụ thể là:
- Vốn điều lệ tăng 7.814.138 triệu đồng lên 9.376.965 triệu đồng, tăng
1.562.827 triệu đồng
- Các quỹ dự trữ tăng 256.603 triệu đồng.
- Lợi nhuận chưa phân phối giảm xuống nhanh còn 790.240 triệu đồng,
giảm 40,99% so với năm 2009.
trung tâm giao dịch vàng.
2.4. Kết quả hoạt động
Quy mô hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng được tăng lên đáng
kể, đặc biệt là các mảng hoạt động truyền thống như huy động vốn và cho vay.
Tuy vậy, sau một năm tăng trưởng nóng, hệ thống ngân hàng phải đối mặt với
nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn trong năm 2008
lần lượt đạt khoảng 21% và 20%, tụt giảm hơn gấp đôi sovới mức tăng năm
trước đó.
Trong 7 tháng đầu năm 2010, các chính sách thắt chặt tiền tệ được nới lỏng
Trang 15
linh hoạt, cùng với các gói kích cầu được quyết liệt thực hiện và tín dụng tiêu
dùng được thận trong triển khai trở lại sau một thời gian tạm ngừng, tất cả yếu
tố đó sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển hoạt động tín dụng trong
năm nay. Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong 7 tháng đầu năm đạt 19,53%, huy
động vốn nền kinh tế đạt 20,92%, tương đương với mức tăng cả năm 2008. Tỷ
lệ nợ xấu toàn hệ thống ước tính giảm xuống còn 2,5% so với mức 3,5% vào
đầu năm.
Mặt khác, ngành ngân hàng vẫn còn phải đối mặt với một số rào cản ảnh hưởng
đến tình hình hoạt động kinh doanh trong thời gian tới. Cơ chế trần lãi suất cho
vay vẫn còn thực hiện trong khi lãi suất huy động đầu vào đang có chiều hướng
tăng lên, làm cho khoảng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động thấp.
Tốc độ giải ngân cung cấp vốn cho nền kinh tế trong thời gian qua tăng nhanh
chóng, nỗi lo lạm phát trở lại, dẫn đến NHNN hạ mức tăng trưởng tín dụng
chung toàn hệ thống từ 30% xuống còn 27%.
Trong khi tỉ lệ nợ xấu (NPL) của STB tăng dần từ cuối năm qua Q1 và Q2/
2010 thì NPL của ACB giảm mạnh trong Q2/2010. Hệ số an toàn vốn luôn
được ACB duy trì ở mức cao và đến cuối năm 2008 đạt 12,44%, cao hơn khá
nhiều so với mức 9,87% của toàn ngành. Rủi ro tín dụng cũng được Ngân hàng
Ngoài ra, ACB là một trong 50 doanh nghiệp lớn nhấtViệt Nam năm 2010.
Trong năm 2010, ACB hoàn thành cơ bản chương trình tái cấu trúc nguồn nhân
lực, tái cấu trúc hệ thống kênh phân phối, xây dựng mô hình chi nhánh theo
định hướng bán hàng. Tăng thêm 51 chi nhánh và phòng giao dịch. Hệ thống
chấm điểm tin dụng đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp cũng đã hoàn
thành và áp dụng chính thức. Hệ thống bảo trợ giúp (help desk) bắt đầu được
triển khai. Và lần đầu tiên tại Việt Nam, chỉ có ACB nhận được 6 giải thưởng
“Ngân hàng tốt nhất Việt nam năm 2010” do 6 tạp chí tài chính ngân hàng danh
tiếng quốc tế bình chọn.
Các thách thức đến từ môi trường kinh doanh nêu trên phần nào tác động đến
mức độ hiện thực hóa định hướng hoạt động năm 2010 “quản lý tốt, lợi nhuận
hợp lý, tăng trưởng bền vững” của ACB, đặc biệt ở mục tiêu tăng trưởng.
Về quản lý rủi ro, tỷ lệ nợ xấu của Tập đoàn cuối năm 2010 chỉ là 0,4%. Với
kết quả này, ACB tiếp tục là ngân hàng duy nhất trong nhóm các NHTM cổ
phần hàng đầu có tỷ lệ nợ xấu dưới 0,5%. Chất lượng tín dụng của ACB tiếp
Trang 17
tục được khẳng định. Bên cạnh đó, việc quản lý thanh khoản của ACB được
thực hiện tốt. Trong khi nhiều NHTM bị tác động mạnh bởi quy định mới của
NHNN là giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài
hạn, đồng thời thay đổi theo.
Các thách thức đến từ môi trường kinh doanh nêu trên phần nào tác động đến
mức độ hiện thực hóa định hướng hoạt động năm 2010 “quản lý tốt, lợi nhuận
hợp lý , tăng trưởng bền vững” của ACB, đặc biệt ở mục tiêu tăng trưởng.
Về tăng trưởng quy mô, mặc dù các chỉ tiêu tổng tài sản, tổng dư nợ tín dụng
và huy động tiền gửi khách hàng của ACB mới đạt lần lượt 99%, 96% và 84%
kế hoạch đề ra nhưng tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi khách hàng và cho
vay của ACB đều cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngành. Huy động tiền gửi
khách hàng của Tập đoàn năm 2010 tăng trưởng 45% bằng 1,6 lần của ngành
hoàn thành các mục tiêu về quản lý, tăng trưởng và lợi nhuận, là ACB là ngân
hàng Việt Nam đầu tiên nhận được 6 danh hiệu Ngân hàng tốt nhất Việt Nam
của 6 tạp chí tài chính ngân hàng uy tín trên thế giới: Asiamoney, FinanceAsia,
Euromoney, Global Finance, The Asset và The Banker. Thị phần huy động và
cho vay của Ngân hàng cũng đã tăng lần lượt là 2,49% và 0,84% so với đầu
năm.
2.5. Kế hoạch hoạt động năm 2011
Nhìn lại năm 2010 đầy biến đổi và thách thức từ môi trường, có thể nói ACB
đã hoàn thành kế hoạch lợi nhuận, duy trỳ tốc độ tăng trưởng khá cao và đáp
ứng tốt yêu cầu về đảm bảo an toàn.
Với những kết quả trên, ACB chứng tỏ là ngân hàng luôn đem lại giá trị gia
tăng cao và bền vững cho cổ đông cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Tiến tới năm 2011, Ban lãnh đạo ACB cho rằng có khó khăn nhưng cơ hội
cũng không ít. Cơ hội đến từ sự phục hồi của kinh tế thế giới nói chung (trong
đó khu vực châu Á tiếp tục làm đầu tàu) và kinh tế trong nước nói riêng. Còn
khó khăn đến từ việc các nghiệp vụ kinh doanh đặc trưng của ngân hàng phần
nào bị thu hẹp, khả năng tăng trưởng mạng lưới hoạt động bị giới hạn trong khi
các loại rủi ro đều gia tăng (thanh khoản, tỷ giá, pháp luật, vận hành). Câu hỏi
là làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới và tiếp tục tiến bước
trên con đường thực hiện mục tiêu chiến lược. Đối với ACB, việc đa dạng hóa
thu nhập tiếp tục là trọng tâm với việc điều chỉnh chính sách khách hàng và
nâng cao chất lượng tín dụng để tăng thu nhập từ phát triển các dịch vụ mới và
Trang 19
đặc biệt cải tổ hoạt động thẻ nhằm tạo tiền đề cho việc thu hút thêm thị phần và
tăng nguồn thu phí dịch vụ. ACB dự định kết thúc năm 2010 với 3.600 tỷ đồng
lợi nhuận trước thuế của Tập đoàn, 210.000 tỷ đồng tổng tài sản, 170.000 tỷ
đồng huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế, 96.000 tỷ đồng dư nợ cho vay,
trong khi nợ xấu duy trì ở mức dưới 1%. Ngoài ra, ACB sẽ tiếp tục kiện toàn
KẾT LUẬN
Ước tính năm 2011, dù thị trường tài chính còn nhiều diễn biến bất lợi, biên
lãi suất thu hẹp dần nhưng nhờ phát triển mảng dịch vụ và kinh doanh trên thị
trường liên ngân hàng cũng như hoạt động qua thị trường mở, kết quả
kinh doanh của ACB vẫn được duy trì ở mức cao.
ACB với hơn 200 sản phẩm dịch vụ được đánh giá là một trong các
ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt và phong phú nhất hiện nay dựa trên
nền công nghệ hiện đại. Trong môi trường kinh doanh nhiều khó khăn thử
thách, ACB luôn giữ vững vị thế của một ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Bênh
cạnh đó, ACB còn sở hữu các lợi thế về thị phần, quy mô, tăng trưởng,
thương hiệu, chất lượng tài sản có, sản phẩm, khách hàng, công nghệ và
nhân lực, đó là những yếu tố tạo nên sự khác biệt và tính cạnh tranh cho ngân
hàng ACB.