Giáo trình đo đạc lâm nghiệp-Phần 3 pot - Pdf 14

Phần thứ hai ĐO ĐẠC TRONG LÂM NGHIỆP
Chương 3 SỬ DỤNG BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TRONG LÂM NGHIỆP
3.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
3.1.1. Khái niệm bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình trước hết thuộc bản đồ địa lý chung có tỷ lệ lớn ( ≥ 1:1.000.000).
Bản đồ địa hình thể hiện chính xác đầy đủ các đối tượng. Thể hiện đồng đều các yếu
tố địa hình, tự nhiên, kinh tế xã hội. Mức độ tỉ mỉ của nội dung phải phù hợp với mục đích
sử dựng, tỷ lệ bản đồ và khu vực thành lập bản đồ. Bản đồ địa hình được dùng trong các
ngành kỹ thuật khác nhau, trong quân sự quốc phòng, trong điều tra quy hoạch, trong khảo
sát thiết kế trồng rừng, trong giảng dạy học tập và quan trọng hơn là để thành lập các bản
đồ tỷ lệ nhỏ hơn.
3.1.2. Phân loại
bản đồ địa hình
Để tiện lợi
cho việc quản lý
và sử dụng bản
đồ địa hình,
trong sản xuất
hiện nay bản
đồđịa hình được
chia thành ba loại
cơ bản sau đây:
Bản đồ địa hình tỷ lệ lớn: ( 1:200 và 1:5.000)
Bản đồ địa hình tỷ lệ trung bình: (từ 1:5.000 đến 1:10.000)
Bản đồđịa hình tỷ lệ nhỏ: (các mảnh bản đồ trên 1: 10.000)
Hiện nay, bản đồ địa hình sử dụng trong lâm nghiệp vẫn chủ yếu là bản đồ tỷ lệ
1: 10.000 và mảnh bản đồ 1:50.000. Đặc biệt trong thiết kế trồng rừng hay xây dựng bản
đồ hiện trạng rừng chúng ta đều sử dụng bản đồ địa hình 1:10.000 là chính.
Bên cạnh đó việc phân loại bản đồ địa hình còn được quy định bởi màu sắc của bản
đồđịa hình đó:
Ví dụ: Màu nâu, lục, xanh

giá trị độ dài mỗi vạch sẽ có độ lớn khác nhau. Thông thường đối với bản đồ tỷ lệ trung
bình, mỗi vạch đen trắng có giá trị là một phút, phần lẻ nhỏ hơn một phút của kích thước

bản đồ chỉ xuất hiện ở đầu hoặc cuối của khung đen trắng đó.
3.2.1.2. Xác định tọa độ vuông góc của một điểm
Muốn xác định tọa độ vuông góc của một điểm phải dựa vào vị trí tương đối của
điểm đó với các trục tọa độ vuông góc. Trục đứng kí hiệu và x chính là kinh tuyến giữa
của múi đã tịnh tiến về bên trái 500 km, còn trục nằm ngang là xích đạo.
Để thuận lợi cho việc xác định vị trí các điểm, người ta đã kẻ lên bản đồ một mạng
lưới ô vuông hay còn gọi là lưới tim. Các đường thẳng đứng của lưới ô vuông là những
đường thẳng song song với kinh tuyến giữa, còn các đường nằm ngang thì song song với
xích đạo.
Tuỳ theo tỷ lệ bản đồ mà cạnh của ô vuông có độ lớn khác nhau và được chọn là một
số chẵn km hay mét (hình 3-03). Công thức tính như sau:
XA = xa + at
YA = ya + ak
Ởđây xa và ya là các tọa độ của
điểm a.
Như vậy kể cả hệ tọa độ địa lý hay
hệ tọa độ vuông góc đều có thể giúp cho
ta xác định chính xác tọa độ bất kỳ một
điểm nào trên bản đồ.
3.2.2. Vẽ lát cắt theo địa hình
Việc vẽ lát cắt này có ý nghĩa
quan trọng trong thiết kế công trình, đặc
biệt là công trình giao thông. Để vẽ
được lát cắt theo đường đồng mức
chúng ta làm như sau:
-Chọn lát cắt AB: Lát cắt AB phải
đi qua khu đặc trưng của địa hình.

đó đối chiếu hướng của các địa vật ở thực địa với các hướng của địa vật đã được biểu thị
trên bản đồ. Do hướng của địa vật trên bản đồ cố thể dựa vào trục hoành độ X để xác định
theo một trong các cách nói trên nên theo hướng này ta biết được hướng của địa vật ở thực
địa. Việc định hướng bản đồ có thể được xác định theo một trong các cách sau:
Định hướng bản đồ bằng địa bàn
Định hướng bản đồ theo địa vật dài, thẳng
Định hướng bản đồ theo phương hướng hai địa vật. 3.3. TÍNH TOÁN TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
3.3.1. Tính độ dài
3.3.1.1. Các dụng cụ thường dùng khi sử dụng bản đồ trong phòng
Muốn sử dụng bản đồ trong phòng vào các việc xác định độ dài, độ cao, độ dốc, cần
phải có các dụng cụ chuyên dùng như các loại thước tỷ lệ để xác định độ dài nằm ngang và
thước đo đường cong ở trên bản đồ.
* Thước tỷ lệ thẳng:
Cấu tạo cơ bản của thước tỷ lệ thẳng dùng cho bản đồ là những đoạn thẳng liên tiếp
bằng nhau. Mỗi đoạn gọi là "đơn vị cơ bản", độ dài của một đơn vị cơ bản phải chọn sao
cho nó tương ứng với một độ dài chẵn ngoài mặt đất để dễ nội suy.
Ví dụ: Hình 3-06 là thước tỷ lệ 1:5000. Đơn vị cơ bản của nó bằng 2cm tương ứng
với độ dài mồm ở mặt đất.

Đoạn đầu của thước ở phía trái chia làm 10 đoạn nhỏ bằng nhau và ghi số như hình
vẽ. Sử dụng com pa đo đoạn thẳng đo trên bản đồ và giữ nguyên khẩu độ compa, đặt lên
thước tỷ lệ thẳng sao cho một đầu của com pa trùng với trị số tròn trục nằm ở bên phải
vạch không (0), còn đầu kia là phần lẻ nằm ở bên trái vạch không (0) (hình 306) có độ dài
nằm ngang của đoạn thẳng MN = 220 m.
Thước tỷ lệ thẳng độ chính xác không cao vì khi khoảng cách có số lẻ bằng 1/10 đơn
vị cơ bản thì chỉ ước lượng lấy kết quả.
* Thước tỷ lệ xiên Hình 3-07 là thước tỷ lệ xiên dùng cho bản đồ tỷ lệ 1:5000. Cũng

của máy, tuỳ theo tỷ lệ sẽ biết được độ dài
quãng đường cần go.
3.3.1.2. Xác định độ dài một đoạn
trên bản đồ
Muốn xác định độ dài một đoạn thẳng trên bản đồ có thể dùng com pa đo, bấm hai
đầu của đoạn thẳng rồi đặt lên thước tỷ lệ, đọc dược ngay độ dài nằm ngang tương ứng ở
ngoài mặt đất. Cũng có thể dùng com pa do bấm trực liếp lên thước kẻ lắm, rồi nhân tố
sốđo được với mẫu số tỷ lệ bản đồ. Trường hợp biết toạ độ vuông góc của hai điểm đầu
đường thẳng, có thể lính ra độ dài đường thẳng đó (giải bài toán nghịch).
Muốn đo độ dài một đường cong trên bản đồ, người ta thường chia đường cong đó ra
nhiều đoạn ngắn coi nhưđoạn thảng, tiến hành đo trực tiếp từng đoạn rồi lấy tổng lại. Hiện
nay để đo đường cong trên bản đồ thường sử dụng máy đo độ dài.
Khi sử dụng chỉ cần đưa bánh xe của máy di động bám sát từ đầu đến cuối đường
cong, tuỳ theo tỷ lệ bản đồ sẽ đọc được độ dài quãng đường định đo.
3.3.2. Tính độ dốc
Nếu muốn xác định độ dốc một cách chính xác của địa hình theo một hướng nào đó,
nhất là đối với những khu vực có địa hình phức tạp thì phải tiến hành vẽ mặt cắt địa hình
theo hướng đã định. Nội dung đã được giới thiệu ở phần trên.
Để tiện sử dụng, người ta đã vẽ biểu đồ tương quan giữa khoảng cao đều và góc hoặc
độ dốc được gọi là thước độ dốc.

Muốn biết góc dốc mặt đất giữa 2 đường đồng mức tại 1 nơi nào đó thì đo khoảng
cách S giữa 2 đường đồng mức rồi đặt đoạn S lên biểu đồ theo hướng trục đứng và đọc trị
số góc dốc trên trục ngang.
Nếu muốn biết độ dốc mặt đất tính theo phần trăm hoặc phần nghìn, cũng đo khoảng
cách S giữa 2 đường đồng mức, đặt đoạn S lên biểu đồ độ dốc theo hướng trục đứng rồi
đọc trị số độ dốc trên trục ngang.
i = tgα = h/a
a = h.cotg α


Trong công tác kỹ thuật nói chung và điều tra
quy hoạch rừng nói riêng, thường phải đo diện tích
một khu vực trên bản đồ. Để xác định được diện tích
trên bản đồ, người ta thường dùng mấy phương
pháp sau đây: * Phương pháp hình học
Phương pháp hình học được sử dụng cho trường hợp diện tích con do dược bao
quanh bởi những đường thẳng. Khi đó, chia diện tích thành những hình có dạng cơ bản
như tam giác, chữ nhật rồi tiến hành đo các yếu tố chiều dài cạnh và độ cao của từng hình,
dùng công thức toán để tiên ra diện tích mỗi hình. Sau đó, cộng diện tích các hình lại đem
nhân với bình phương mẫu số tỷ lệ bản đồ sẽ được diện tích của khu vực đó ngoài thực
địa. Ví dụ: hình 3-11. Chia đa giác ABCDEG thành 4 hình tam giác, tiến hành đo a1, a2, a3,
a4 và h1, h2, h3, h4.
-Tính diện tích các hình tam
giác
Gọi diện tích ngoài thực địa là S thì:
Trong đó:
n: Số hình cơ bản trong đa giác
M: Mẫu số tỷ lệ bản đồ
* Phương pháp giải tích
Chúng ta biết tại bất kỳđiểm nào trên mặt đất đều có tọa độ. Để tính diện tích.hình 3-
12 có tọa độ tại các điểm 1,2,3,4,5 ta làm như sau: Toạ độ các đỉnh ta đánh số theo chiều
thuận kim đồng hồ, khi đó diện tích được tính
theo công thức
Hay Từ công thức trên ta cũng có thể viết
Ví dụ:

Trong đó: M là mẫu số tỷ lệ bản đồ
* Phương pháp phân mảnh dài
Trên tờ giấy bóng mờ kẻ các đường
song song cách đều nhau một đoạn là d, kẻ
các đường nằm giữa mỗi dải bằng nét đứt
đoạn rồi đặt tờ giấy bóng mờđó lên màn
hình cần đo (hình 3-14).
Trên hình 3-14 tiến hành đo độ dài
nằm giữa mỗi dải là li
Gọi diện tích mỗi dải chắn bởi chu vi
hình cần đo là si, có độ lớn tương
đương
với diện tích của một hình chữ nhật có kích thước dài, rộng là li và d Vậy: si = d.li Diện
tích hình cần đo là:
Diện tích tương ứng ở ngoài
thực địa của hình cần đo là
Trong đó:
M: Mẫu số tỷ lệ bản đồ
N: Diện tích dưở trên giấy tự ước lượng S': Diện
tích khu vực đo ở trên giấy
S: Diện tích khu vực đo tương ứng ở ngoài thực địa
* Đo diện tích bằng máy Máy đo diện tích là dụng cụ áp dụng nguyên tắc cơ học, để
xác định diện tích của
một hình bất kỳ trên bình đồ hoặc bản đồ. Phổ biến nhất thường dùng là máy đo diện tích
LASICO.
+ Cấu tạo của máy đo diện tích

+ Sử dụng máy đo diện tích
Để xác định diện tích một khu vực nào đó ta tiến hành như sau
-Đặt điểm cực của máy ngoài hình vẽ. Khi chọn điểm để đặt cực, cần chọn sao cho
điểm tâm điểm cần di chuyển nằm ở tâm của hình cần đo, di chuyển ra một điểm A bất kỳ
của cạnh hình cần đo đọc số n1.1. Tiến hành di chuyển đều và chính xác trên cạnh của hình
theo chiều thuận kim đồng hồ về tới điểm A ta đọc được số n1.2. Sau đó tại để từđiểm A và
đọc được số n2.l và tiến hành di chuyển theo chiều ngược kim đồng hồ vềđiểm A và đọc
được số n2.2. Sau đó ta tính được diện tích hình ta cần đo bằng công thức:
Diện tích đo lần 1: S1 = P.(n1.2 - n1.1)
Diện tích đo lần 2: S2 = P.(n2.2 - n2.1) Như vậy diện tích của hình cần đo được tính bằng công thức:
S = (S1 +S2)/2 Trong công thức trên đối với
mỗi độ dài nhất định của tay đòn (3) thì trị số P là một hằng số, gọi là giá trị
khoảng chia của máy đo diện tích. Cánh tay đòn dài hay ngắn thì hệ số P hoàn
toàn phụ thuộc vào nó.
Nếu số đọc thứ hai là n1.2 nhỏ hơn số đọc thứ nhất nợ thì cần cộng thêm 10.000 hoặc
bội số là 10.000, tuỳ theo số lần quay của đĩa tròn D.
+ Những điều cần chú ý khi sử dụng máy đo diện tích
Để đạt được kết quảđo diện tích với độ chính xác cao, trước khi sử dụng, máy phải
kiểm nghiệm và cần tuân theo những điều chú ý sau:
1 - Khu vực cần xác định diện tích trên giấy phải đặt lên một bề mặt thật phẳng
2 - Chọn điểm cực cho hợp lý, sao cho hai cánh tay đòn của máy đo diện tích không
tạo với nhau một góc quá nhỏ hoặc một góc quá lớn.
3 - Khi di chuyển kim đo của máy theo đường biên của khu vực đó, cần đưa kim đều
tay và giữ cho kim chạy đúng đường biên của khu vực đó.
Lưu ý: Khi khu vực đo quá lớn ta có thể chia làm nhiều phần nhỏ hợp lí, tiến hành
đặt cực ở ngoài đo từng phần, sau đó tính toán và lấy tổng diện tích các hình nhỏ lại, sẽ
được điện tích của từng khu vực.

Núi Cốc, hồ Ba Bể ), hay một con đập nào đó, chúng ta phải quan tâm đến các yếu tố địa
hình Trước hết, ta phải xác định rõ các dạng địa hình cơ bản: đồi núi lòng chảo, dông, khe
và yên ngựa chân, sườn, đỉnh. Dựa vào bản đồ địa hình đó ta tiến hành xác định lưu vực
cho một đập nước hay một hồ chứa nước bằng cách xác định toàn bộ diện tích có đường
tập trung nước (khe hay trũng máng) đổ vềđó Căn cứ vào các yếu tố địa hình như đỉnh đồi,
dông và sườn đồi (hình 3-17).
3.3.6. Thiết kế đường ô tô lâm nghiệp
3.3.6.1. Ý nghĩa
Trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, việc thiết kế các công trình lăm nghiệp phục
vụ là cần thiết, trong đó công trình đường ô tô lâm nghiệp là hết sức quan trọng bởi:
-Giúp cho chúng ta xác định được tuyến đường hợp lý phục vụ vận chuyển, vận xuất
gỗ tiết kiệm chi phí và thời gian.
-Vận chuyển cây giống, vật tư phục vụ trồng chăm sóc rừng thuận lợi.
-Tăng khả năng quản lý bảo vệ, phòng chống cháy rừng.
-Tạo đường du lịch sinh thái rừng
3.3.6.2. Phương pháp xác định
Để xác định được tuyến đường ô tô phục vụ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp chúng
ta dựa trên bản đồ địa hình để thiết kế. Việc thiết kế đảm bảo các bước sau:
Bước 1: Xác định điểm đầu và điểm cuối (M&N) của tuyến đường trên bản đồ địa
hình cần thiết kế có tỷ lệ là bao nhiêu? Có khoảng cao đều đường đồng mức là bao nhiêu?
Bước 2: Tính toán khoảng cách
ngoài thực địa tương ứng trên bản đồ
có độ dốc cho
phép 5%;
10% bằng
công thức:
Trong đó:
St: Chiều dài ngoài thực địa
HAB: Khoảng cao đều của đường
đồng mức A đến đường đồng mức B


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status