Ngộ độc thủy ngân ở trẻ em
Trẻ nhỏ dễ nuốt phải Hg
Cháu N.H.L., 2 tuổi, nhà ở quận 5 (TP.HCM) được mẹ đưa đến
bệnh viện vì nuốt phải Hg. Mẹ cháu rất lo lắng cho biết, bà để
nhiệt kế trên giường sau khi đo nhiệt độ cho em của L Cháu
đang nằm chơi cạnh đó, thấy nên cầm lấy chơi rồi cho vào
miệng. Người nhà phát hiện khi nhìn thấy cháu nhợn ói, trên tay
còn cầm chiếc nhiệt kế không còn Hg. Thân nhân cố gắng móc
họng để gây ói đã làm cháu ho sặc sụa nhiều, thấy cháu tím tái
nên người nhà đưa cháu đến bệnh viện. Chụp phim Xquang
kiểm tra phổi, có tình trạng viêm phổi nhưng rất may cháu
không bị hít Hg. Sau 7 ngày điều trị và theo dõi, cháu được xuất
viện và tiếp tục tái khám sau đó.
Có nhiều dạng Hg
Hg hiện diện rất nhiều trong thức ăn, thuốc và môi trường sống
con người, được sử dụng chủ yếu trong sản xuất các hóa chất,
trong kỹ thuật điện và điện tử. Hg tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối
với môi trường, vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể
sinh vật. Đây là một kim loại, dạng nguyên tố ở thể lỏng, màu
óng ánh như bạc, không tan trong nước và có thể bốc hơi tương
đối dễ ở nhiệt độ phòng. Khi đặt giọt Hg ở trên mặt bàn, nó có
dạng giống hạt ngọc trai và rất dễ tan thành hạt nhỏ li ti và bay
hơi. Có 3 dạng Hg tồn tại dưới dạng nguyên tố hay kết hợp với
chất khác:
Hg nguyên tố: có trong nhiệt kế, máy đo huyết áp, các thiết bị
điện, bóng đèn, pin, sơn.
Hg vô cơ: dạng đôi hoặc đơn hóa trị, được sử dụng điều chế
thuốc sát trùng, làm thuốc lợi tiểu, tẩy giun.
Hg hữu cơ: gồm hợp chất chuỗi alkyl ngắn có nhiều trong môi
trường bị ô nhiễm, đáng lưu ý là trong thức ăn hải sản vùng bị ô
Hg hữu cơ hấp thu tốt qua hít, nuốt và cả qua da. Hấp thu ở ống
tiêu hóa với tỉ lệ 90%, ít hơn đối với chuỗi dài. Độc tính của Hg
hữu cơ thường xảy ra với các chuỗi alkyl ngắn, đặc biệt methyl
Hg. Nuốt 10 – 60mg/kg đủ gây tử vong, và nuốt lượng ít trong
một thời gian dài, chỉ cần lượng 10μg/ kg đủ tác hại lên hệ thần
kinh và khả năng sinh sản của người lớn. Do có khả năng tan
trong mỡ nên Hg hữu cơ nhanh chóng vào màu phân bố khắp cơ
thể, tích tụ trong não, thận, gan, tóc và da. Tác dụng độc rõ ràng
đầu tiên và nguy hiểm nhất là ở não.
Hg kết hợp và bất hoạt gây thoái hóa tế bào thần kinh ở vỏ não
va tiểu não, dẫn đến triệu chứng liệt, thất điều, điếc, thu hẹp thị
trường. Chất này qua nhau dễ dàng và tập trung trong thai gây
độc tính nặng cho bào thai. Thời gian bán hủy của Hg ở người
lớn là 40 – 50 ngày, đào thải chủ yếu qua phân (90%) và nước
tiểu. Như vậy trên cơ thể người, Hg không chỉ có độc tính cao
mà còn tồn tại dai dẳng gây tác hại kéo dài. Được giải thích nhờ
vào các đặc tính sinh học của Hg là (1) khả năng kết hợp chặt
chẽ, loại thải chậm và không hoàn toàn. (2) có tính tập trung,
tích lũy cao và (3) khuyếch đại tác dụng sinh học khi vào cơ thể
người. Riêng đối với trẻ em, đặc biệt thai nhi và trẻ em nhỏ rất
nhạy cảm với tác dụng độc của Hg. Khi so sánh với người lớn
thì thấy mức độ nhạy cảm này nhiều hơn 10 – 15 lần, do vậy mà
ngộ độc Hg ở trẻ em thường để lại hậu quả tổn thương não nặng
hơn và không hồi phục