Luận văn: Những bất cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý NSNN ở Việt nam trong điều kiện hiện nay - Pdf 14



Luận văn

Những bất cập và giải pháp
hoàn thiện chế độ phân cấp quản
lý NSNN ở Việt nam trong điều
kiện hiện nay
3

mục lục
Mở đầu
4

For evaluation only.

4

Mở đầu
Với mục tiêu quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng
Ngân sách Nhà nớc (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nớc; tăng tích luỹ để thực
hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc theo định hớng XHCN, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân;
đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại, luật NSNN-một đạo luật quan
trọng trong hệ thống tài chính- đã đợc Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 20-3-1996; sau đó đợc sửa đổi, bổ sung bởi luật số
06/1998/QH 10 ngày 20-5-1998, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong
công tác quản lý, điều hành NSNN ở nớc ta, tạo cơ sở pháp lý cao nhất
cho hoạt động của NSNN.
Sau bốn năm thực hiện luật NSNN, thực tiễn đã khẳng định vai trò của
luật trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Hoạt động NSNN dần
đợc quan tâm không chỉ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nớc mà còn từ
phía ngời dân và các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cũng dựa trên cơ sở phản
hồi từ phía ngời dân và doanh nghiệp, luật đã bộc lộ nhiều bất cập không
chỉ giữa văn bản và thực tế áp dụng mà cả những bất cập trong công tác chỉ
đạo điều hành. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên
là việc quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi tiêu cho các cấp ngân
sách và phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan trong bộ máy
quản lý Nhà nớc vẫn còn tồn tại nhiều nhợc điểm cần xem xét lại.
Để góp phần tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa luật NSNN nói chung và chế
độ phân cấp quản lý nhân sách nói riêng, tác giả chọn đề tài: Những bất
cập và giải pháp hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý NSNN ở Việt nam
trong điều kiện hiện nay. Từ đó muốn thông qua thực tiễn để làm sáng tỏ

Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và
chi bằng tiền của Nhà nớc trong một giai đoạn nhất định.
Một cách hiểu tơng tự, ngời Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài
liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nớc
trong một năm.
Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoài
của NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nớc và NSNN.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

6

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nớc.
Tại Việt nam, định nghĩa về NSNN đợc nêu rõ trong luật NSNN
(20/3/1996): NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nớc trong
dự toán đã đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc
thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nớc.(Điều1- luật NSNN).
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu
(sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nớc, làm cho nguồn tài chính vận động giữa
một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản
phẩm quốc dân dới hình thức giá trị và một bên là Nhà nớc. Đó chính là
bản chất kinh tế của NSNN. Đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan
hệ kinh tế giữa Nhà nớc và các chủ thể kinh tế, xã hội. Nói cách khác,
NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc với các chủ thể trong
phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ
tập trung của Nhà nớc, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của
các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nớc và Nhà nớc chuyển dịch thu
nhập đó đến các chủ thể đợc thực hiện để thực hiện các chức năng, nhiệm

chung nó có các u điểm cơ bản sau:
* Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và
tạo đIều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền
kinh tế phát triển năng động, phát huy đợc các nguồn lực của xã hội vào
phát triển kinh tế.
* Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức
thấp nhất có thể đợc bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào
sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao năng
suất lao động, nâng cao chất lợng và số lợng hàng hoá.
* Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa
khối lợng và cơ câú sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ
đó có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng
ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác nhau.
* Trong cơ chế thị trờng tồn tại sự đa dạng của các thị trờng. Bên
cạnh thị trờng hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trờng về vốn, lao
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

8

động phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận
động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ.
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị
trờng là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao.
Song, cơ chế thị trờng không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa
đựng trong nó nhều trục trặc.
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp lá tối đa hoá lợi nhuận.
Ngành nào, lĩnh vực nào có khả năng đem lại lợi nhuận cao thì các doanh
nghiệp sẽ đổ xô vào sản xuất mặt hàng, lĩnh vực đó. Từ đó dẫn đến sự phát
triển mất cân đối giữa các khu vực,các ngành nghề trong nền kinh tế quốc

NSNN đợc sử dụng nh là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm
đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh
doanh. Trớc xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong
nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính
sách u đãi, đầu t vào các lĩnh vực mà t nhân không muốn đầu t vì hiệu
quả đầu t thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào
những hàng hoá, dịch vụ của t nhân có khả năng thao túng trên thị trờng;
đồng thời, áp dụng mức thuế suất u đãi đối với những hàng hoá mà Chính
phủ khuyến dụng. Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong
nền kinh tế.
Giá cả trên thị trờng biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng
hoá, dịch vụ. NSNN cũng đợc sử dụng nh là công cụ đảm bảo sự ổn định
giá cả của thị trờng. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những
ngời có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà
ngời bán đợc phép đa ra và mức này thờng là thấp hơn mức giá cân
bằng trên thị trờng, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trờng.
để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng
cách cung phần thiếu của hàng hoá, lợng hàng hoá này đợc lấy từ quỹ dự
trữ của Nhà nớc thuộc NSNN, tức là trong khoản chi ngân sách phải có
khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho ngời sản
xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó đợc khuyến khích thì sẽ đặt
giá sàn là mức giá thầp nhất mà ngời bán đợc phép đa ra và mức này
thờng lớn hơn giá cân bằng trên thị trờng. Điều này sẽ dẫn đến sự d
thừa hàng hoá trên thị trờng và khi đó là sự can thiệp của Chính phủ bằng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

10

cách mua hết lợng hàng thừa. Khoản tiền sử dụng để thanh toán cho ngời


11

Hệ thống NSNN đợc hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan
hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp
ngân sách.
Tại nớc ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ
máy Nhà nớc và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc theo Hiến pháp. Mỗi cấp chính quyền có một
cấp ngân sách riêng cung cấp phơng tiện vật chất cho cấp chính quyền đó
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Việc hình
thành hệ thống chính quyền Nhà nớc các cấp là một tất yếu khách quan
nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc trên mọi vùng lãnh thổ
của đất nớc. Chính sự ra đời của hệ thống chính quyền Nhà nớc nhiều
cấp đó là tiền đề cần thiết để tổ chức hệ thống ngân sách nhà nớc nhiều
cấp.
Cấp ngân sách đợc hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nớc,
phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nớc ta hiện nay,
hệ thống ngân sách nhà nớc bao gồm ngân sách trung ơng và ngân sách
địa phơng:
* Ngân sách trung ơng phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai
trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nớc. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai
trò của chính quyền trung ơng đợc Hiến pháp quy định đối với việc thực
hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc. Ngân sách trung
ơng cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nớc trung ơng (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự
an toàn xã hội, đầu t phát triển). Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt
động ngân sách của địa phơng. Trên thực tế, ngân sách trung ơng là ngân
sách của cả nớc, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm
bảo các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nớc. ngân sách

mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực
hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn.
Trong hệ thống ngân sách Nhà nớc ta, ngân sách trung ơng chi phối
phần lớn các khoản thu và chi quan trọng, còn ngân sách địa phơng chỉ
đợc giao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa
phơng. Quan hệ giữa các cấp ngân sách đợc thực hiện theo nguyên tắc
sau:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

13

Ngân sách trung ơng và ngân sách các cấp chính quyền địa phơng
đợc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.Thực hiện việc bổ sung từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dới để đảm bảo công bằng, phát
triển cân đối giữa các vùng, các địa phơng. Số bổ sung này là khoản thu
của ngân sách cấp dới.Trờng hợp cơ quan quản lý Nhà nớc cấp trên uỷ
quyền cho cơ quan quản lý Nhà nớc cấp dới thực hiện nhiệm vị chi thuộc
chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho
ngân sách cấp dới để thực hiện nhiệm vụ đó.Ngoài việc bổ sung nguồn thu
và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không đợc dùng ngân sách cấp này
để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác trừ trờng hợp đặc biệt theo
quy định của Chính phủ.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

14

Chơng II: phân cấp quản lý ngân sách nhà nớc và thực
trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nớc ở việt nam

15

quyền ngân sách từ trung ơng đến điah phơng mà còn tạo điều kiện phát
huy đợc các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phơng trong cả
nớc. Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá NSNN đợc tốt hơn, điều chỉnh
mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng nh quan hệ giữa các cấp ngân
sách đợc tốt hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của
NSNN. Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN còn có tác động thúc đẩy phân
cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết
mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nớc trung ơng và các cấp chính
quyền địa phơng trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành
NSNN đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý
NSNN.
2. Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp
chính quyền Nhà nớc về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành
NSNN.
Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các
nguyên tắc sau đây:
Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nớc. Phân
cấp quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp
quản lý NSNN. Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối
quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu,
nhiệm vụ chi của các cấp. Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối
quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi phải tơng xứng với nhiệm
vụ đợc giao. Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tơng
đối trong phân cấp quản lý NSNN ở nớc ta.
Hai là: ngân sách trung ơng giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn
lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả

hoạch nh trớc đây.
Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách. Phân cấp ngân
sách phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nớc, cố gắng hạn chế
thấp nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

17

3. Nội dung của phân cấp quản lý NSNN.
Dựa trên cở quán triệt những nguyên tắc trên, nội dung của phân cấp
quản lý NSNN đợc quy định rõ trong chơng II và III của luật NSNN bao
gồm:
Nội dung thứ nhất là phân cấp các vấn đề liên quan đế quản lý, điều
hành NSNN từ trung ơng đến địa phơng trong việc ban hành, tổ chức
thực hiện và kiểm tra, giám sát về chế độ, chính sách.
Tiếp theo là phân cấp về các vấn đề liên quan đế nhiệm vụ quản lý và
điều hành NSNN trong việc ban hành hệ thống biểu mẫu, chứng từ về trình
tự và trách nhiệm của các cấp chính quyền trong xây dựng dự toán ngân
sách, quyết toán ngân sách và tổ chức thực hiện kế hoạch NSNN.
Cụ thể:
Quốc hội quyết định tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn
bù đắp bội chi; phân tổ NSNN theo từng loại thu, từng lĩnh vực chi và theo
cơ cấu giữa chi thờng xuyên và chi đầu t phát triển, chi trả nợ. Quốc hội
giao cho Uỷ ban thờng vụ Quốc hội quyết định phơng án phân bổ ngân
sách trung ơng cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách trung
ơng cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng. Nh vậy, Quốc hội
quyết định những vấn đề then chốt nhất về NSNN, đảm bảo cơ cấu thu, chi
NSNN hợp lý và cân đối NSNN tích cực, đồng thời giám sát việc phân bổ
ngân sách trung ơng và ngân sách của các địa phơng.

quyết toán NSNN trình Chính phủ.
Bộ kế hoạch và đầu t có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án kế hoạch
phát triển kinh tế, xã hội của cả nớc và cân đối chủ yếu của nền kinh tế
quốc dân, trong đó có cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu t xây dựng cơ bản
làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách; phối hợp với bộ
tài chính lập dự toán và phơng án phân bổ NSNN trong lĩnh vực phụ trách;
phối hợp với bộ tài chính và các bộ ngành hữu quan kiểm tra đánh giá hiệu
quả của vốn đầu t các công trình xây dựng cơ bản.
Ngân hàng Nhà nớc có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chímh trong việc
lập dự toán NSNN đối với kế hoạch và phơng án vay để bù đắp bội chi
NSNN; tạm ứng cho NSNN để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ NSNN theo
quyết định của thủ tớng Chính phủ.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

19

Các bộ, ngành khác có nhiệm vụ phối hợp với bộ tài chính, UBND cấp
tỉnh để lập, phân bổ, quyết toán NSNN theo ngành, lĩnh vực phụ trách ;
kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ
trách; báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc
ngành, lĩnh vực phụ trách; phối hợp với bộ tài chính xây dung định mức
tiêu chuẩn chi NSNN thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
Hội đồng nhân dân có quyền quyết định dự toán và phân bổ ngân sách
địa phơng, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phơng; quyết định các
chủ trơng, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phơng; quyết
định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phơng trong thời gian cần thiết;
giám sát việc thực hiện ngân sách đã quyết định. Riêng đối với HĐND cấp
tỉnh, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên còn đợc quyền quyết định
thu, chi lệ phí, phụ thu và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định

Theo phân loại thống kê của liên hiệp quốc, thu NSNN gồm hai loại:
- Các khoản thu từ thuế, trong đó chia ra thuế trực thu và thuế gián thu.
- Các khoản thu ngoài thuế nh phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt động
kinh tế của Nhà nớc và các khoản chuyển giao vào NSNN khác.
Tại Việt nam, trớc đây, việc phân chia nội dung thu của các cấp ngân
sách dựa vào cơ sở kinh tế của chính quyền tức là những tổ chức kinh tế do
trung ơng quản lý thì nguồn thu của các tổ chức này tập trung vào ngân
sách trung ơng, các tỏ chức kinh tế do địa phơng quản lý thì sẽ ghi thu
vào ngân sách địa phơng. Điều này đã dẫn đến tình trạng xây dựng chồng
chéo các cơ sở kinh tế của trung ơng và địa phơng, tranh giành nguồn
nguyên vật liệu, thị trờng tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác, nó không gắn
trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phơng trong việc quan tâm tới
những tổ chức kinh tế do trung ơng quản lý ở địa phơng. Do vậy, để khắc
phục những nhợc điểm trên, chế độ phân cấp đợc điều chỉnh theo hớng
thay đổi tỷ lệ ghi thu vào ngân sách trung ơng và ngân sách địa phơng
nhng do vẫn dựa trên cơ sở cũ nên nguồn thu vẫn không đợc đảm bảo.
Hiện nay, theo luật NSNN sửa đổi, việc phân chia nội dung thu NSNN
không dựa vào tính chất sở hữu, tổ chức của cơ sở kinh tế mà theo cơ chế:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

21

* Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu đợc hởng 100%. Nh vậy,
có thể giúp chính quyền địa phơng chủ động bố trí cân đối ngân sách cấp
mình
* Các khoản thu đợc phân chia theo tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân
sách.
Trớc đây, tỷ lệ điều tiết này đợc xác định bởi công thức:
X= [(Q- T): K]*100

Gọi:
- Tổng số chi ngân sách các cấp chính quyền địa phơng(không bao bồm
số bổ sung) là A.
- Tổng số các khoản thu ngân sách các cấp chính quyền địa phơng hởng
100% (không bao gồm số bổ sung) là B.
- Tổng số các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp chính
quyền địa phơng đợc hởng là C.
- Tổng số các khoản thu đợc phân chia giữa NSTƯ và ngân sách tỉnh là D.
Nếu A-(B+C)< D thì tỷ lệ phần trăm phân chia đợc tính theo công thức:
Tỷ lệ phần trăm = [(A-B)+C]: D * 100%
Nếu A-(B+C) > D thì tỷ lệ phần trăm chỉ đợc tính bằng 100% và phần
chênh lệch sẽ thực hiện cấp bổ sung.
Nếu A-(B+C) =D thì tỷ lệ phần trăm là 100% và tỉnh tự cân đối.
* Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phơng do UBND tỉnh quy định.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

23

Các khoản thu phân chia:
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế nhà, đất.
- Tiền sử dụng đất.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Thuế tài nguyên.
- Lệ phí trớc bạ.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nớc thu vào các mặt hàng bài
lá, hành mã, vàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trờng, mát xa, ka ra ô
kê, kinh doanh gôn, bán thẻ hội viên và vé chơi gôn, trò chơi bằng các máy

6.các khoản phí, lệ phí theo
quy định
7.các khoản đóng góp tự
nguỵện của cá nhân, tổ chức
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

24

của Chính phủ các nớc
8.các khoản phí, lệ phí theo
quy định
9.thu kết d NSTƯ
10.các khoản thu khác.

trong và ngoài nớc
8.thu kết d NSĐP
9.thu bổ sung từ NSTƯ
10.các khoản thu khác theo
quy định.
Các khoản thu
phân chia theo
tỷ lệ phần trăm
giữa NSTƯ và
ngân sách tỉnh.

1.thuế GTGT (trừ thuế GTGT hàng nhập khẩu và hoạt động sổ
xố kiến thiết)
2.thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ các đơn vị hạch toán toàn
ngành và hoạt động xổ số kiến thiết)

cơ quan Nhà nớc địa phơng). Nếu để đáp ứng yêu cầu kiểm tra, kiểm
soát của Nhà nớc đối với việc lập dự toán, quyết định dự toán, thực hiện
phân cấp và quản lý, sử dụng kinh phí NSNN cho từng mục đích và từng
đối tợng cụ thể, ngời ta phân loại theo mục đích sử dụng cuối cùng: chi
lơng, phụ cấp lơng, chi mua sắm hàng hoá, dịch vụNói chung, mỗi
cách phân loại đều có mục đích và ý nghĩa riêng, chúng có nét chung là cho
biết một cách toàn diện ảnh hởng ngắn hạn hoặc dài hạn của việc chi tiêu
quốc gia vào phát triển kinh tế, thấy rõ mục đích kinh tế, xã hội mà Chính
phủ đang theo đuổi.
Theo luật NSNN, nội dung chi NSNN đợc phân loại theo tổ chức kinh
tế, từ ngân sách trung ơng đến ngân sách các cấp địa phơng đều có các
khoản chi cơ bản giống nhau:
Chi thờng xuyên: là những khoản chi hết sức cần thiết và không thể trì
hoãn, phải thực hiện thờng xuyên hàng tháng, hàng năm để duy trì sự tồn
tại của bộ máy Nhà nớc.
Chi đầu t, phát triển: là những khoản chi để hình thành tài sản cố định
nh mua sắm tài sản cố định, đầu t xây dựng các công trình kinh tế mũi
nhọn, xây dung cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, xây dựng nhà cửa, đầu t vào
các động sản tài chính, sửa chữa lớn tài sản cố định, chi trả nợ gốc tiền
vay những khoản chi này gắn với việc điều chỉnh vĩ mô của Nhà nớc,
tạo môi trờng và điều kiện cho các TPKT hoạt động và phát triển.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

26

Sự khác nhau cơ bản giữa hai nhóm chỉ tiêu trên thể hiện ở chỗ: chi
thờng xuyên có tính chất tiêu hao trực tiếp, còn chi đầu t phát triển có
tính chất thu hồi trong những điều kiện nhất định.
Theo thứ tự u tiên thì chi thờng xuyên đợc u tiên trớc hết, sau đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status