(1) (1) (1) (1) (1)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : TRƯỜNG THPT TRẤN BIÊN
Mã số : SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG
GẮN VỚI THỰC TIỄN
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 10 Người thực hiện: Th.S Ngô Ngọc Minh Châu
Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Có đính kèm: Phim ảnh
Đồng Nai - 2013 SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Tình huống dạy học 3
1.2.1 Khái niệm tình huống dạy học 3
1.2.2 Tiêu chuẩn của một tình huống tốt 4
1.3 Dạy học tình huống 4
1.3.1 Khái niệm dạy học tình huống 4
1.3.2 Ưu điểm của dạy học tình huống 4
1.3.3 Nhược điểm của dạy học tình huống 5
1.3.4 Cơ hội của dạy học tình huống 6
1.3.5 Thách thức đối với dạy học tình huống 6
Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG GẮN VỚI THỰC TIỄN
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 10 8
2.1 Nguyên tắc thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học 8
2.2 Quy trình thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học 8
2.3 Hệ thống tình huống gắn với thực tiễn môn Hóa học lớp 10 9
2.4 Một số bài lên lớp có sử dụng tình huống đã thiết kế 25
2.4.1 Giáo án bài “Oxi - Ozon” - Lớp 10 25
2.4.2 Giáo án bài “Hiđrosunfua -Lưu huỳnh đioxit - Lưu huỳnh trioxit” - Lớp10 . 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Năm 1870, Christopher Columbus Langdell là người khởi xướng và sử dụng
các tình huống trong giảng dạy về quản trị kinh doanh tại Đại học kinh doanh
Havard. Đây là phương tiện đột phá khỏi cái hệ thống đọc - nghe - ghi chép truyền
thống của giáo dục kinh viện với tác dụng rõ rệt là sinh viên có thể trao đổi, phản
biện, tích cực tham gia vào bài giảng.
Năm 1921, quyển sách đầu tiên về tình huống ra đời, tác giả cuốn sách
Copeland đã nhìn thấy tầm quan trọng và tác dụng to lớn của việc áp dụng phương
pháp tình huống trong giảng dạy quản trị nên đã nỗ lực phổ biến phương pháp giảng
dạy này trong toàn trường. Phương pháp này sau đó dần dần đã được áp dụng phổ
biến trong hầu hết các ngành nghề đào tạo như y dược, luật, hàng không, và trong
các trường học ở tất cả các cấp bậc đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học. Không chỉ
trong lĩnh vực giảng dạy kinh doanh mà cả trong y học, phương pháp tình huống
cũng đã được đưa vào giảng dạy tương đối sớm.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đang diễn ra một quá trình cải cách
tương đối toàn diện trong giáo dục. Một trong những vấn đề trọng tâm của cải cách
là nhu cầu đưa vào sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại và phù hợp để
nâng cao chất lượng đào tạo dạy học. Mặc dù được áp dụng từ khá lâu đời ở các
nước phát triển trên thế giới; song phương pháp dạy học tình huống vẫn là phương
pháp khá mới đối với Việt Nam. Vì vậy phương pháp này đang được kỳ vọng sẽ
đem đến một luồng gió mới cho mối quan hệ dạy - học giữa giáo viên và học sinh
để đưa những kiến thức khoa học khô khan trở nên gần gũi với học sinh hơn và tăng
khả năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.
Phương pháp dạy học tình huống được nhiều tác giả nghiên cứu và áp dụng
trong giảng dạy ở các lĩnh vực như :
- Quản trị kinh doanh với những tác giả như: Nguyễn Hữu Lam (2003), Vũ Từ
hình và phục vụ tốt cho mục đích và mục tiêu giáo dục, tức là giúp cho người học
có thể hiểu và vận dụng tri thức cũng như rèn luyện được các kỹ năng và kỹ xảo.
Tình huống được sử dụng để khuyến khích người học phân tích, bình luận, đánh
giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó, từng bước chiếm lĩnh tri thức
hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp thực tế. Tình huống
yêu cầu người đọc phải từng bước nhập vai người ra quyết định cụ thể.
1.2.2 Tiêu chuẩn của một tình huống tốt [5]
Một tình huống dạy học tốt phải chịu sự tác động của cả 2 yếu tố : Nội dung
và hình thức trình bày.
Về nội dung tình huống:
- Chứa đựng vấn đề mang tính giáo dục, phù hợp với trọng tâm bài học.
- Phù hợp với trình độ, nhu cầu tâm sinh lý của người học.
- Có chứa đựng mâu thuẫn, có tính thúc ép, kích thích người học đưa ra quyết
định để giải quyết vấn đề.
- Nội dung tình huống có tính thời sự hoặc gần gũi với người học.
Về hình thức trình bày:
- Có sự đa dạng trong việc giới thiệu và giải quyết tình huống.
- Các chi tiết trong tình huống được sắp xếp logic, hợp lý.
- Cách hành văn cần ngắn gọn, súc tích, mạch lạc để tránh gây nhiễu cho
người học khi giải quyết vấn đề.
1.3 Dạy học tình huống
1.3.1 Khái niệm dạy học tình huống [3],[5],[10]]
Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều : “Dạy học tình huống là một PPDH được tổ
chức theo những tình huống có thực của cuộc sống, trong đó người học được kiến
tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập”[3].
Theo TS. Nguyễn Văn Cường : “Dạy học tình huống là một quan điểm dạy
- Dạy học tình huống đòi hỏi giáo viên phải luôn đổi mới, cập nhật các thông
tin, kiến thức và kỹ năng mới.
- Dạy học tình huống đòi hỏi giáo viên phải mất nhiều thời gian chuẩn bị các
phương án giải quyết để tìm ra phương án tối ưu.
- Dạy học tình huống đòi hỏi giáo viên hiểu rõ các tính chất của học sinh và
các yếu tố tác động để có sự phối hợp nhuần nhuyễn và cân đối các phương pháp
truyền thống.
- Dạy học tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp hơn trong giảng dạy,
như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức và khuyến khích
học sinh thảo luận, nhận xét, phản biện. Đây là sự thách thức lớn đối với giáo viên.
- Dạy học tình huống đòi hỏi người học có tính năng động, sự say mê, yêu
thích kiến thức và khả năng tư duy độc lập cao.Tuy nhiên do đã quá quen thuộc với
cách tiếp thu kiến thức thụ động nên khi chuyển qua phương pháp mới thì một bộ
phận học sinh khó thích ứng được.
- Dạy học tình huống tốn nhiều thời gian của người học.
1.3.4 Cơ hội của dạy học tình huống
Làn sóng đổi mới PPDH đang diễn ra trên thế giới nói chung và Việt Nam
nói riêng luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cơ quan giáo dục từ trung
ương đến địa phương. Đây là niềm khuyến khích, động viên to lớn để giáo viên có
thể tiếp cận được các PPDH hiện đại, tích cực thông qua các chương trình tập huấn,
bồi dưỡng nâng cao kiến thức.
Trước đây, việc nghiên cứu và xây dựng tình huống gặp nhiều khó khăn do
sự thiếu thốn về tư liệu và tài liệu tham khảo. Hiện nay, với sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin như internet, ti vi, sách điện tử, báo điện tử, các phần mềm dạy học,… là
nguồn cung cấp thông tin phong phú cho giáo viên thiết kế những tình huống hay,
hấp dẫn và mang tính thời sự. Chương 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG TÌNH HUỐNG
GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 10
2.1 Nguyên tắc thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy
học Hóa học
Đảm bảo tính chính xác, khoa học
Đảm bảo tính thực tiễn
Đảm bảo tính trọng tâm
Đảm bảo tính logic, ngắn gọn
Đảm bảo tính giáo dục
Đảm bảo tính sư phạm
Kích thích hứng thú, khả năng sáng tạo của người học
2.2 Quy trình thiết kế hệ thống tình huống gắn với thực tiễn trong dạy
học Hóa học
Tình huống dạy học là một vấn đề cần phải được giải quyết. Điều đầu tiên
cần phải nhớ khi thiết kế tình huống là tình huống phải chứa đựng vấn đề để người
học giải quyết. Các tình huống phải có đủ thông tin mà trong đó người học có thể
hiểu vấn đề đó là gì và sau khi suy nghĩ, phân tích thông tin thì người học có thể đề
xuất phương án giải quyết.
Có tám bước cơ bản khi thiết kế tình huống gắn với thực tiễn :
Bước 1 : Xác định mục tiêu và nội dung bài học
Bước 2 : Thiết lập hệ thống câu hỏi cần nghiên cứu
Bước 3 : Lựa chọn chính xác vấn đề để xây dựng tình huống
Bước 4 : Thu thập dữ liệu
Bước 5 : Đánh giá và phân tích dữ liệu
Bước 6 : Lựa chọn hình thức và kỹ thuật thiết kế
Bước 7 : Thiết kế tình huống
hồ bơi như thế nào?
Bài 23: Clo
4
Phân biệt muối ăn
và muối iot
Bài 24: Hidro clorua. Axit clohiđric
và muối clorua
Bài 25: Flo - Brom - Iot
5 Trứng nổi - Trứng chìm
Bài 24: Hidro clorua. Axit clohiđric
và muối clorua
x
6 Kính đổi màu
Bài 24: Hidro clorua. Axit clohiđric
và muối clorua
x
7 Bí mật bình dưỡng khí Bài 29: Oxi - Ozon
8 Giàn mưa
Bài 29: Oxi - Ozon
Bài 32: Hợp chất của sắt (Lớp 12)
9 Máy tạo ozon Bài 29: Oxi - Ozon x
10 Thu gom thủy ngân Bài 30: Lưu huỳnh x
11 Thử tài mua trứng
Bài 32: Hidro sunfua - Lưu huỳnh
đioxit - Lưu huỳnh trioxit
12
chiều dài 3,3 mét, đường kính 0,7 mét, nặng 4 tấn chứa 1kg nhiên liệu Uranium đã
được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm
1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" có chiều dài 3,25 mét, đường kính 1,52
cm, nặng 4,5 tấn chứa vài kg Plutonium đã phát nổ trên bầu trời thành phố
Nagasaki.
Rất nhiều nạn nhân chết sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm bởi hậu quả
của phóng xạ. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng
như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000 người.
Hình 2.1 Vết tích tàn khốc của thành phố Nagasaki và Hiroshima
sau khi bị bom nguyên tử rơi xuống
Vậy, bom nguyên tử là gì? Tại sao bom nguyên tử lại có khả năng phá hủy
và gây ra tác hại cho con người trong và sau chiến tranh?
Hướng dẫn trả lời:
Bom A hay còn gọi là bom nguyên tử hay vũ khí hạt nhân (tiếng Anh:
atomic bomb) là loại vũ khí hủy diệt hàng loạt mà năng lượng của nó do các phản
ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra. Bom phân hạch hoạt động trên nguyên lý
1 hạt nhân nặng nhận được sự bắn phá của 1 hạt (nơtron, electron, proton) sẽ vỡ
thành 2 hay nhiều hạt nhân nhỏ hơn và năng lượng.
Thực tế, chỉ có hai loại đồng vị U
235
và Pu
239
là có khả năng gây ra các phản
ứng phân hạch dây chuyền. Dưới tác dụng của nơtron, hạt nhân U
235
hay Pu
239
được
phân ra hai mảnh, toả ra một năng lượng lớn khoảng 200 MeV, đồng thời giải
Trong đó U là urani, Y là ytri, I là iot.
Nguyên lý chung của năng lượng hạt nhân là khi có sự hao hụt về khối lượng
(vật chất chuyển thành năng lượng) thì năng lượng sinh ra sẽ tính theo phương trình
của A.Einstein: E = m.c
2
.
Trong đó: E : năng lượng thoát ra khi phân rã hạt nhân;
m (g): độ hụt khối;
c = 2,988.10
8
m/s : vận tốc ánh sáng trong chân không.
Lượng năng lượng giải thoát phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi
trường vụ nổ hạt nhân xảy ra. Tuy nhiên, sau khi bom A nổ sẽ giải phóng một năng
lượng khổng lồ và một đám mây bụi cực lớn phóng ra kèm theo các mảnh vỡ là các
hạt nhân phóng xạ phát ra các bức xạ như tia gamma γ, hạt beta β, hạt alpha α.
- Tia α có lực xuyên suốt nhỏ, chỉ cần nguồn tia bức xạ không vào trong cơ
thể thì ảnh hưởng sẽ không lớn. Con đường chính để vào cơ thể là qua đường hô
hấp và thức ăn và qua các vết thương.
- Tia β có độ xuyên suốt nằm ở giữa tia α và γ, dễ bị lớp tế bào biểu bì da
hấp thụ, gây ra tổn thương bức xạ ở các lớp mô tế bào.
- Độ xuyên suốt của tia γ là mạnh nhất, có thể xuyên cơ thể và các vật liệu
xây dựng, có tầm ảnh hưởng rộng nhất.
Tia phóng xạ có thể gây ra các triệu chứng sau: mệt mỏi, đau đầu hoa mắt,
mất ngủ, da mẫn đỏ, lở loét, xuất huyết, rụng tóc, bệnh máu trắng, nôn mửa, đau
bụng đi ngoài Do tế bào bạch cầu không ngừng hạ thấp, thậm chí còn tăng thêm tỉ
lệ phát bệnh ung thư, các bệnh di truyền và quái thai. Nếu lượng tia phóng xạ chiếu
o
C. Ở nhiệt độ này
khí halogen mới bốc hơi. Người ta sử dụng phần lớn thủy tinh thạch anh để làm
bóng vì loại vật liệu này chịu được nhiệt độ và áp suất rất cao (khoảng 5 đến 7 bar)
cao hơn thủy tinh bình thường làm cho dây tóc đèn sáng hơn và tuổi thọ cao hơn
bóng đèn thường.
Thêm vào đó, một ưu điểm của bóng halogen là chỉ cần một tim đèn nhỏ hơn
so với bóng thường, điều này cho phép điều chỉnh tiêu điểm chính xác hơn.
2.3.1.3 Tình huống 3 : DUNG DỊCH CLO LÀM SẠCH HỒ BƠI NHƯ
THẾ NÀO?
Khi đến các hồ bơi, chúng ta thường nghe mùi hắc rất đặc trưng của khí clo.
Như vậy quá trình khử khuẩn của dung dịch clo hòa trong các bể bơi diễn ra như
thế nào? Có tác dụng ra sao?
Hướng dẫn trả lời:
Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy
hại cho con người. Dung dịch clo khi hòa vào trong nước sẽ phân hủy thành axit
hypoclorơ (HClO) và ion hypoclorit (ClO
-
) theo phương trình:
Cl
2
+ H
2
O HCl + HClO
HClO H
+
+ ClO
-
Cả hai chất này giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào
Cơ thể tiếp nhận được một phần iot cần thiết dưới dạng hợp chất của iot có
sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu
quả rất tai hại như: bệnh bướu cổ, đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt tứ
chi, lùn và hàng loạt các rối loạn khác Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta
phải cho thêm hợp chất của iot vào thực phẩm như : muối ăn, bột canh, nước mắm,
sữa kẹo…Muối Iot là muối ăn có trộn thêm một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường
là KI).
Tại Trung Quốc, nạn bán muối giả có dán nhãn chứa iot đang tăng lên ở và
giới chức y tế nước này khuyến cáo rằng nó sẽ gây ra sự rối loạn phát triển cho trẻ
sơ sinh. Khoảng 30% số muối ăn ở Tây Tạng và 16% ở Bắc Kinh thiếu iot, theo kết
quả cuộc khảo sát do Bộ Y tế Trung Quốc tiến hành, tình trạng thiếu iot cũng rất
phổ biến ở khu tự trị Tân Cương, tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc, Hải Nam, Thanh Hải và
Trùng Khánh. "Nạn bán muối iot giả tràn lan ở Bắc Kinh", Li Sumei, giám đốc
Phòng thí nghiệm quốc gia về rối loạn do thiếu iot, cho biết. "Người tiêu dùng
thường không thể phân biệt được muối thường và muối giả iot vì tất cả các gói đều
giống nhau và đều in chữ "có iot "".
Vậy, làm thế nào để người tiêu dùng phân biệt được muối ăn và muối iot ?
Hướng dẫn trả lời:
Để phân biệt muối ăn và muối Iot, người tiêu dùng có thể dùng cách đơn
giản sau : Vắt nước chanh vào muối, sau đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy
màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ muối đó là muối iot.
Nước chanh có môi trường axit. Trong môi trường axit, KI không bền bị
phân hủy một phần thành I
2
. I
2
Kính đổi màu là gì? Nguyên tắc chế tạo kính đổi màu như thế nào?
Hướng dẫn trả lời:
Để chế tạo các loại kính đổi màu từ các loại thủy tinh đổi màu, khi chế tạo
người ta thêm vào nguyên liệu muối halogenua bạc như bạc clorua AgCl làm thành
phần cảm quang, một lượng nhỏ đồng Cu làm chất tăng nhạy, sau đó đem nung
chảy. AgCl khi gặp ánh sáng bị phân giải thành bạc kim loại ở dạng hạt rất bé, làm
mắt kính bị sẫm màu, độ trong suốt của kính thay đổi tương đối nhiều.
PTHH: 2AgCl
→ 2Ag + Cl
2
Nhưng tại sao kính đổi màu lại trở thành bình thường? Nguyên do là khi chế
tạo mắt kính người ta thêm một chất keo làm sáng, có tác dụng khi không có ánh
sáng mặt trời chiếu vào loại keo này làm cho bạc và clo tác dụng trở lại thành bạc
clorua làm cho màu ở mắt kính bị mất và kính trở lại bình thường.
2.3.1.7 Tình huống 7 : BÍ MẬT BÌNH DƯỠNG KHÍ
Chúng ta hít thở không khí hàng ngày trong điều kiện thường của môi
trường sống. Tuy nhiên, đối với người thợ lặn khi lặn dưới biển sâu thì phải mang
bình dưỡng khí. Người ta thấy rằng nếu hàm lượng oxi trong bình thấp hơn 10% thì
người thợ lặn sẽ bất tỉnh. Còn nếu ở độ sâu 10-15m mà thở bằng oxi tinh khiết thì
sau 2-3h cũng sẽ bị co giật, bất tỉnh.
Vậy thành phần khí trong bình dưỡng khí gồm những khí gì? Cơ chế hoạt
động ra sao?
Hướng dẫn trả lời:
Càng xuống sâu, không khí càng bị nén. Áp suất càng cao thì lượng Oxi
trong không khí thở phải càng giảm, nên người ta thở bằng hỗn hợp khí oxi - heli.
Quá trình này vừa tách khí CO
2
vừa sinh khí O
2
2.3.1.8 Tình huống 8 : GIÀN MƯA
Ở những bể cá hoặc trong các đầm nuôi tôm, người ta sử dụng giàn mưa để
xử lý nước ngầm. Do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng, thời tiết, nắng mưa và các
quá trình phong hóa, sinh hóa trong khu vực nên thành phần đáng quan trọng trong
xử lý nước ngầm là các tạp chất hòa tan (chủ yếu là các ion sắt hoặc ion mangan).
Nước có hàm lượng sắt cao, làm cho nước có mùi tanh và có màu vàng, gây ảnh
hưởng không tốt đến chất lượng nước ăn uống sinh hoạt và sản xuất. Do đó, khi
nước có hàm lượng sắt cao hơn giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn thì chúng ta phải
tiến hành khử sắt.
Vậy phương pháp xử lý sắt của giàn mưa hoạt động ra sao?
Hướng dẫn trả lời:
Tùy theo mục đích sử dụng hoặc tùy theo chất lượng nguồn nước mà người
ta thiết kế sử dụng giàn mưa để lọc sắt và mangan. Trong nước ngầm, sắt thường
tồn tại ở dạng ion sắt Fe
2+
, là thành phần của các muối hoà tan như: Fe(HCO
3
)
2
;
FeSO
4
…Hàm lượng sắt có trong các nguồn nước ngầm thường cao và phân bố
không đồng đều trong các lớp trầm tích dưới đất sâu. Nguyên lý của phương pháp
3
theo
phản ứng: 4Fe(OH)
2
+ 2H
2
O + O
2
→ 4Fe(OH)
3
↓.
Sắt (III) hyđroxit trong nước kết tủa thành bông cặn màu vàng và có thể tách
ra khỏi nước một cách dễ dàng nhờ quá trình lắng lọc.
Kết hợp các phản ứng trên ta có phản ứng chung của quá trình oxi hoá sắt
như sau: 4Fe
2+
+ 8HCO
3
-
+ O
2
+ H
2
O → 4Fe(OH)
3
+ 8HNhiệt kế là một dụng cụ quen thuộc trong tủ thuốc gia đình. Tuy nhiên, nhiệt
kế rất dễ vỡ, đặc biệt khi vỡ chất thủy ngân trong nhiệt kế sẽ tràn ra ngoài và đây là
một chất độc cực mạnh, có thể gây ngộ độc cho mọi người.
Nêu cách xử trí khi bị vỡ nhiệt kế. Tại sao khi chúng ta làm vỡ nhiệt kế thủy
ngân lại sử dụng bột lưu huỳnh để thu gom?
Hướng dẫn trả lời:
Thủy ngân trong cặp nhiệt độ dù với một lượng rất ít nhưng khí độc của nó
có thể ảnh hưởng mạnh đến phổi của mọi người, đặc biệt là trẻ nhỏ trong nhà.
Ngoài ra, chất thủy ngân dễ dàng liên kết với chất béo trong máu và mô khiến nội
tạng của con người bị ảnh hưởng, đặc biệt là hệ thần kinh.
Cách xử trí:
Một là, nhanh chóng đưa mọi người trong nhà, nhất là trẻ em sang phòng
khác ngay. Đóng cửa phòng lại để tránh hít phải hơi bốc của thủy ngân. Mở cửa sổ,
bật quạt điện để tăng cường lưu thông không khí trong phòng. Tắt điều hoà nhiệt độ
hoặc lò sưởi để giảm thủy ngân bốc hơi.
Hai là, rắc một chút bột lưu huỳnh vì lưu huỳnh và thủy ngân kết hợp thành
HgS khó bốc hơi theo phương trình: Hg + S HgS. Ở gia đình không có bột lưu
huỳnh, có thể sử dụng lòng đỏ trứng gà sống, cũng đạt được hiệu quả như trên.
Sau đó thu hết những hạt thủy ngân trên mặt đất bằng cách đeo khẩu trang,
dùng que bông ướt hoặc tờ danh thiếp (card) hay giấy Pơluya thu gom thủy ngân lại
và cho vào lọ thủy tinh có bịt kín. Động tác phải hết sức nhẹ nhàng nhằm tránh các
hạt thủy ngân lại phân li, chia thành nhiều hạt nhỏ, không thể thu hồi được.
Ba là, sau khi thu hồi thủy ngân vào lọ thủy tinh, miệng lọ phải đậy nắp (nút)
rồi quấn chặt, bịt kín bằng băng dính và ghi rõ nhãn ở bên ngoài rồi để vào thùng
rác phân loại. Hết sức tránh đổ thủy ngân đã thu thập được xuống các cống rãnh
thoát nước để tránh làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
nguyên chất) sẽ có các thành phần tạp chất như Si, Mg, Cu, Zn hoặc Pb (thường có
nhiều trong các nồi nhôm tái chế). Dung dịch axit này tác dụng với tạp chất tạo
thành các muối sunfua có màu đen bám vào thành nồi. Vì vậy, nồi nhôm sẽ có màu
xám đen ở phần chứa nước luộc.
Để nồi trắng sáng lại như ban đầu, ta có thể đun nhẹ các dung dịch có tính
axit như: nước giấm loãng, nước có vài giọt chanh hoặc nước me thì nồi sẽ trắng
sáng trở lại.
2.3.1.12 Tình huống 12 : KHỬ MÙI HÔI CHO NƯỚC UỐNG
Thỉnh thoảng, khi tắm bằng máy nước nóng ở nhà thì Bình ngửi thấy có mùi
khó chịu như mùi trứng thối trong nước nhưng khi tắm bằng nước lạnh thì lại
không ngửi thấy mùi ấy nữa. Không hiểu lý do vì sao, Bình bèn hỏi An, chuyên gia
hóa học của lớp:
“Này An, khi tớ tắm nước nóng thì thấy có mùi trứng thối nhưng khi tắm
bằng nước lạnh thì thấy bình thường. Vậy tại sao lại xảy ra sự khác biệt này?”
An trả lời: “Là vì trong máy nước nóng có thanh Mg để ngăn cho máy không
bị ăn mòn.”
Bình liền hỏi: “Tại sao có thanh Mg lại có thể tạo mùi hôi như vậy? Ta có
thể khắc phục bằng cách nào?”
Em có thể trả lời thay bạn An được không?
Hướng dẫn trả lời:
Vì không thể tráng men phủ kín toàn bộ lòng bình nước nóng, đặc biệt là các
khu vực mối hàn hai nửa bình nước nóng và mối hàn của đường nước ra, nước vào
nên nhà sản xuất tạm thời đưa một chất hóa học vào trong bình nóng lạnh có thể
tham gia phản ứng hóa học với một số tạp chất có trong nước để chống lại sự bán
cặn trên thanh đốt và gây ra các ăn mòn hóa học tại các mối hàn.
Vì vậy thanh Mg là một giải pháp an toàn để bảo vệ lõi của bình nóng lạnh
học Việt Nam đã khẳng định chắc như bắp rằng mây phóng xạ, mưa axit không thể
thổi tới Việt Nam được.”
(Trích http://www.tienphong.vn/Khoa-Giao/531142/Bac-tin-don-mua-axit-
mua-phong-xa-o-Viet-Nam-tpp.html)
Vậy, mưa axit là gì? Nguyên nhân nào gây ra mưa axit? Tác hại của nó ra
sao? Ở Việt Nam có mưa axit hay không?
Hướng dẫn trả lời:
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Ðiển. Thuật ngữ
“mưa axit” được đặt ra bởi Robert Angus Smith vào năm 1972. Nguyên nhân là vì
con người đốt nhiều than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường chứa một
lượng lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều khí nitơ. Trong quá trình đốt có
thể sinh ra các khí SO
2
, NO
2
. Các khí này hoà tan với hơi nước trong không khí tạo
thành các hạt axit sunfuric H
2
SO
4
, axit nitric HNO
3
.
Hình 2.5 Chu trình của nước và sự hình thành mưa axit
Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước
mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ chua
khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và oxit kim loại có trong