DIA LY DU LICH - Pdf 14

Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên:
+ Địa hình.
+ Khí hậu.
+ Nguồn nước.
+ Sinh vật.
- Tài nguyên du lịch nhân văn:
+ Các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc.
+ Các lễ hội.
+ Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học.
+ Các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác.
1 Tài nguyên du lịch nhân văn
- quan niệm :
TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho
nhu cầu du lịch.
A, Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.
* Di sản văn hoá thế giới .
- Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn).
+ Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.
+ Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định,
trong một khung cảnh văn hoá nhất định.
+ Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất.
+ Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.
+ Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến
động không thể cưỡng lại được.
+ Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách
tạo lập cũng như về vị trí.
- Nhìn chung, các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu
có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài
nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế.
Hết năm 2006, trên toàn thế giới Hội đồng di sản thế giới đã công nhận được 840 di sản. Nước ta có 7 di sản thế giới, trong đó có 5 di

+ Di tích lịch sử – văn hoá là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá khảo cổ.
+ Những điểm khung cảnh ghi dấu về một dân tộc học.
+ Những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước, lịch sử địa phương phát triển .
+ Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức.
+ Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, khoa học.
+ Những công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực.
+ Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn và có bàn tay con người tạo dựng thêm vào, được xếp vào một loại hình trong
các loại hình di tích lịch sử – văn hoá.
Di tích lịch sử – văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa dựng những giá trị điển hình lịch sử, do tập
thể hoặc do cá nhân con người hoạt động sáng tạo trong lịch sử để lại.
- Phân loại di tích lịch sử – văn hoá
Di tích lịch sử – văn hoá chứa dựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau. Mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hoá, lượng thông tin riêng
biệt. Cần phải phân biệt các loại di tích để xác định tên gọi đúng với nội dung của nó và khai thác, sử dụng và bảo vệ di tích một cách
có hiệu quả.
Có 4 loại di tích lịch sử – văn hoá:
+ Loại hình di tích văn hoá khảo cổ: là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá, thuộc về một thời kỳ lịch sử – xã hội loài
người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại.
Đại đa số các di tích văn hoá khảo cổ nằm trong lòng đất, cũng có trường hợp tồn tại trên mặt đất (các bức chạm khắc trên vách đá).
Di tích văn hoá khảo cổ còn được gọi là di chỉ khảo cổ, nó được phân thành di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng, ngoài ra còn có cả những
công trình kiến trúc cổ, những thành phố cổ, tàu thuyền cổ bị chìm đắm.
+ Loại di tích lịch sử.
Di tích lịch sử là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát
triển lịch sử của mình. Lịch sử của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài với nhiều sự kiện được ghi dấu, do vậy những di tích nào gắn
với các sự kiện tiêu biểu mới được coi là di tích lịch sử.
Loại hình di tích lịch sử bao gồm:
Di tích ghi dấu về dân tộc học: Sự ăn ở, sinh hoạt của các tộc người.
Di tích ghi dấu những sự kiện lịch sử chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng của đất nước, của địa phương .
Di tích ghi dấu chiến công xâm lược.
Di tích ghi dấu những kỷ niệm.
Di tích ghi dấu sự vinh quang lao động.

ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một
dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân,
hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí. Nhìn chung, các lễ hội nổi tiếng có tính hấp dẫn rất lớn đối với du
khách.
Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ hội.
- Phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ).
Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian. Tuỳ
theo tính chất của lễ hội mà nội dung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng.
Phần lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc
có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội.
Nghi thức tế lễ nhằm tỏ lòng tôn kính vớ các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà.
Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hoá thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi
hội trước khi chuyển sang phần xem hội.
- Phần hội.
Là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn… mang bản sắc văn hoá dân gian. Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn
hoá truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó thường không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những
yếu tố văn hoá mới. Tuy nhiên những nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi
mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị cao và có sức hấp dẫn du khách. Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên
nam nữ (hội Lim…).
Cũng có những lễ hội ở đó cả phần lễ và phần hội hoà quyện vào nhau, trong đó trọng tâm là phần hội, nhưng bản thân phần hội mang
tính tâm linh của phần lễ (hội chọi trâu ở Đồ Sơn…).
Hội làng của người Việt ở đồng bằng sông Hồng là loại lễ hội truyền thống rất tiêu biểu cho xã hội nông thôn Việt Nam. Có quan điểm
cho rằng đồng bằng sông Hồng là quê hương của văn hoá lúa nước, của hội làng.
Như vậy để tìm hiểu văn hoá Việt Nam, văn hoá làng xã cũng như văn hoá lúa nước, người ta có thể tìm hiểu qua lễ hội, hoặc trực tiếp
tham gia vào lễ hội. Từ đó có thể thấy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo.
- Ở nước ta trong một năm có nhiều lễ hội, tập trung chủ yếu vào mùa xuân, ngoài ra còn có hội thu. Các lễ hội thường gắn với sinh
hoạt văn hoá dân gian như hát đối đáp của dân tộc Mường; ném cò, múa xoè của người Thái; hát Sli, hát lượn, hát then của người
Nùng; lễ đâm trâu, hát trường ca thần thoại của các dân tộc Tây Nguyên…
Về quy mô, có những lễ hội diễn ra trên một vùng rộng lớn, ngược lại có lễ hội chỉ bó hẹp trong vài (thậm chí một) làng (xã). Có lễ hội
kéo dài tới 3 tháng (như lễ hội chùa Hương), nhưng có lễ hội chỉ một vài ba ngày. Một số lễ hội tiêu biểu thu hút đông đảo du khách và

thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.
2 . TÀI NGUYÊN DU LỊCH THIÊN NHIÊN
TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao
động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch.
A Địa hình.
- Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với
du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.
- Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình.
+ Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch.
+ Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã
ngoại, rất thích hợp với loại hình du lịch cắm trại, tham quan…+ Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động
du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu
mát mẻ, không khí trong lành. Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch. Đó là các sông suối, thác nước, hang
động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người
với đời sống và nền văn hoá đa dạng đặc sắc.
Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực – động vật và bản sắc văn hoá của cộng đồng
các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức
hấp dẫn rất lớn đối với du khách.
- Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình Karst và địa hình ven bờ có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch.
+ Địa hình Karst là kiểu địa hình được thành tạo do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hoà tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn,
thạch cao, muối mỏ…). ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Địa hình Karst có một số kiểu:
* Hang động Karst là một kiểu Karst được quan tâm đối với du lịch. Vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động Karst rất hấp
dẫn khách du lịch. Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hoá sinh ra. Nhiều hang động chứa đựng
những di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hoá. Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến
trúc như chùa chiền để thờ tự tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn… Như vậy, có thể nói hang động Karst là một loại tài
nguyên du lịch – một loại hàng hoá đặc biệt có thể sinh lợi cao.
Trên thế giới có hơn 650 hang động đã được khai thác phục vụ du lịch, hàng năm thu hút được vài chục triệu khách tới thăm.
Người ta đã thống kê được 25 hang động Karst dài nhất và 25 hang động Karst sâu nhất. Điển hình là hang Flint Mammauth
Cave System dài 530km ở Mỹ, hang Optimisticeskaya dài 157km ở Ucraina, hang Holloch dài 133,5km ở Thụy Sỹ; hang
Rescau Jecan Bernard sâu 1.535m ở Pháp, hang Sistema de Trave sâu 1.380m ở Tây Ban Nha…

Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ
và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời, các hiện
tượng thời tiết đặc biệt.
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi
có khí hậu ôn hoà thường được du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp với phát triển du lịch. Mỗi
loại hình du lịch thường đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn
những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Như vậy, ở mức độ nhất định cần phải chú ý đến
những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở đến kế hoạch du lịch. Đó là bão trên các vùng biển, duyên hải, hải đảo, gió
mùa đông bắc, gió tây khô nóng, lốc, lũ… vẫn xảy ra ở nước ta.
Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch
khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể
diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng.
+ Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa
hè). Ở vùng có khí hậu nhiệt đới như các tỉnh phía Nam nước ta, mùa du lịch hầu như chưa diễn ra quanh năm.
+ Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông…
+ Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch
trên núi và khu vực đồng bằng – đồi; khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.
C. Nguồn nước
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. Nó bao
gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước…
Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia. Nói chung giới hạn về
nhiệt độ của lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180C đối với người lớn, trên 200C đối với trẻ em, ngoài ra
còn phải chú ý tới tần số, tính chất của sóng, độ sạch của nước…
Đối với du lịch thể thao nên đánh giá tài nguyên cá, khả năng đánh bắt cá, bảo vệ cá…
Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trường
sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ.
Hiện nay, trên thế giới đã mọc lên nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển, ven hồ,… đã thu hút một lượng lớn du khách.
Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói tới tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài
nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh. Tính chất chữa bệnh của các nguồn nước khoáng đã được phát hiện từ thời
đế chế La Mã. Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là Liên bang Nga, Bungri, Italia, CHLB Đức, CH Séc… cũng là

nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình Du lịch sinh thái.
Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái, mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng
nguyên sinh hoặc thuần chủng. Tất nhiên không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tượng tham du lịch. Để phục vụ
các mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu sau đây:
- Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch:
+ Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình.
+ Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước.
+ Có một số động vật (chim, thú, bò sát, côn trùng, cá…) phong phú và điển hình cho vùng.
+ Có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu cầu của khách du lịch.
+ Thực động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến có thể quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe
được tiếng hót, tiếng kêu và chụp ảnh.
+ Đường giao thông đi lại thuận tiện.
- Chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn thể thao:
+ Quy định loài được săn bắn là loài phổ biến, không ảnh hưởng đến số lượng quỹ gen.
+ Loài động vật nhanh nhẹn.
+ Ngoài ra khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đối rộng, có địa hình tương đối dễ vận động, xa dân cư, đảm bảo
tầm bay của đạn và sự an toàn tuyệt đối cho khách. Cấm dùng súng quân sự, mìn chất nổ nguy hiểm.
- Chỉ tiêu đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học:
+ Nơi có động thực vật phong phú và đa dạng.
+ Nơi có tồn tại loài quý hiếm.
+ Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh.
+ Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý…
Về phương diện tài nguyên du lịch, cần chú ý đến các khu bảo tồn thiên nhiên. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự
nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia (VQG), 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử, môi trường với tổng diện
tích khoảng 2.092 ha (2003).
Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống VQG là bảo vệ các khu cảnh quan tự nhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo
dục và du lịch sinh thái.
E. Bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên
Một trong những vấn đề của địa lí du lịch là bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên.
Bảo vệ môi trường sống và nghỉ ngơi là một bộ phận không thể thiếu được của chính sách sinh thái toàn vẹn. Cần hiểu rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status