SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHẮC PHỤC
BỎ HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
135 TỈNH KIÊN GIANG
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển và hội nhập, giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò
vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển
của mỗi cá nhân nói riêng. Vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”. Để đạt
được mục tiêu đề ra, ngành giáo dục và đào tạo có vai trò vô cùng quan trọng và
nhu cầu phát triển giáo dục là bức thiết.
Vì vậy, mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010- 2020
là: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp
thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt
coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối
sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về
chất lượng. Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội, phối hợp chặt chẽ với nhà
trường trong giáo dục thế hệ trẻ. Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất -
kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục và đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng
đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu là: Phát triển giáo
dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2015
nhằm tạo bước đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững của vùng và
cả nước.
Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ , ngành giáo dục các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long trong đó có tỉnh Kiên Giang đã áp dụng nhiều giải
pháp nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, tạo điều kiện thuận lợi cho
người học có cơ hội học tập trong những hoàn cảnh tự nhiên, xã hội thuận lợi,
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục, hạn chế lãng phí sự đầu tư của
nhà nước và nhân dân do tình trạng học sinh bỏ học gây ra, từng bước nâng dần
chất lượng giáo dục ngang bằng các tỉnh, thành khác trong cả nước.
Đồng thời trong bối cảnh kinh tế - xã hội của các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long đang phát triển đi lên, thì nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng lớn.
Trong khi đó giáo dục trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn phát triển
chưa tốt, hiện tượng học sinh bỏ học càng nhiều, học sinh đến trường ít. Qua
thực tiễn học sinh bỏ học trong tỉnh, cũng như qua công tác quản lý giáo dục
thời gian qua, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong việc phòng, chống
học sinh bỏ học ở các xã thuộc chương trình 135 của tỉnh. Những kinh nghiệm
này xin được trình bày qua sáng kiến kinh nghiệm có tên: “Biện pháp giáo dục
học sinh trung học phổ thông khắc phục bỏ học ở các trường trung học phổ
thông thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang”.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sáng kiến này nhằm mục đích nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình
giáo dục học sinh trung học phổ thông khắc phục tình trạng bỏ học ở tỉnh Kiên
Giang, đặc biệt ở các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135. Trên
cơ sở đó, có những biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông ở các
bằng cách đi xuống địa phương, trường học quan sát các hiện tượng liên quan
đến học sinh bỏ học và các biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục, phương pháp này nhằm tổng kết
tình trạng bỏ học, cũng như những biện pháp giáo dục học sinh khắc phục bỏ
học đã có ở các trường và địa phương cần nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng An- két: Phương pháp này được tiến hành
bằng cách xây dựng những câu hỏi kín và câu hỏi mở cho các đối tượng được
nghiên cứu như: Thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, học sinh và các nhà quản lý
giáo dục.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Phương pháp này chúng tôi xin ý
kiến các chuyên gia giáo dục, các chuyên gia xã hội học… để rút ra những kết
luận cho đề tài.
Ngoài hai nhóm phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng
phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu đã thu thập được.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ VÀ CÁC KHÁI NIỆM
2.1. Thực trạng vấn đề
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng như ngày nay, nền kinh
tế, chính trị, văn hoá và xã hội…ở các quốc gia trên thế giới đều phát triển
nhanh chóng, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững các nước đã chọn đầu tư
cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Tuy nhiên, tình trạng học sinh
bỏ học vẫn xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó nặng nề nhất là các
nước đang phát triển và các nước chậm phát triển. Tình trạng học sinh bỏ học
tồn tại ở hầu hết các quốc gia, cho dù giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát
triển và nhiều nước đã phải bỏ ra nhiều công sức và tiền của để cải thiện tình
trạng này nhằm giải tỏa những nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của học sinh và
đưa những em này trở lại nhà trường tiếp tục học bằng nhiều biện pháp khác
nhau. Theo UNESCO công bố trong “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho
mọi người năm 2010”, tính ở khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam cùng với
Philippin, Myanmar, Thái Lan và Indonesia đang phải đối mặt với những thách
hướng giải quyết vấn đề học sinh kém. TTKHGD, số 43/94;31-32].
- Nguyễn Hữu Chùy [Nguyễn Hữu Chùy, Vấn đề lưu ban, bỏ học xét từ
bình diện tâm lý xã hội. NCGD số 7/92;32].
- Trần Kiểm [Trần Kiểm, Trẻ em bỏ học và trách nhiệm của các bậc cha
mẹ. TTKHGD số 43/94;19-24]…
Các tác giả đã khảo sát các đặc điểm tâm lý của học sinh học kém, lưu
ban, thử nghiệm tổ chức học riêng cho học sinh học kém, trên cơ sở đó đề ra các
biện pháp khắc phục học kém nhằm ngăn ngừa hiện tượng bỏ học.
* Các nghiên cứu tình trạng bỏ học ở Kiên Giang: Hiện tại ngoài thống kê
báo cáo hàng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo, chưa có công trình nghiên cứu
nào trên địa bàn tỉnh Kiên Giang về tình trạng học sinh bỏ học.
Qua đó chúng ta thấy các nghiên cứu đã đề cập sâu đến nhiều vấn đề lý
luận liên quan đến tình trạng học sinh bỏ học như bản chất của tình trạng học
sinh bỏ học, tác động, hậu quả của bỏ học đến phổ cập giáo dục, đến chiến lược
phát triển nguồn nhân lực, cách tiếp cận trong nghiên cứu mô tả hiện tượng bỏ
học, các cơ sở tâm lý của hiện tượng bỏ học…Các lý luận liên quan đến tình
trạng bỏ học được phân tích, lý giải sâu, sử dụng các phương pháp nghiên cứu
phù hợp.
Tuy nhiên hạn chế của các nghiên cứu trên chủ yếu chưa khai thác sâu
khía cạnh quản lý của ngành giáo dục nói chung, chứ chưa đề cập đến tình hình
học sinh học sinh các trường trung học phổ thông ở vùng thuộc chương trình
135 bỏ học, đồng thời nêu lên vai trò của các nhà quản lý giáo dục, nhất là của
người Hiệu trưởng trong việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học.
Muốn khắc phục tình trạng học sinh bỏ học cần quan tâm nghiên cứu biện
pháp quản lý của Hiệu trưởng, nhất là ở vùng thuộc chương trình 135 có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống như địa bàn tỉnh Kiên Giang.
2.2. Các khái niệm
2.2.1. Khái niệm biện pháp
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết những vấn đề, những công việc cụ
cho học sinh tại trường. Bởi chỉ trong cuộc sống, trong hoạt động thông qua giao
lưu, giao tiếp thì nhân cách con người mới được hình thành và phát triển. Điều
này biểu hiện cụ thể của một nguyên tắc giáo dục quan trọng, thể hiện phương
châm của giáo dục “Học đi đôi với hành”. Đúng vậy, sự thông hiểu những kiến
thức, lý thuyết… mới chỉ là yếu tố cân đối với nhân cách của con người; chúng
phải được trải nghiệm ở cuộc sống thực thì mới có cơ hội chuyển hóa vào bên
trong các cá nhân một cách bền vững.
Như vậy, nhân cách của con người cần được mài luyện thì mới được bộc
lộ, mới sáng tỏ, đúng với câu nói mà người xưa đã tổng kết: “Nhân bất học, bất
tri lý, ngọc bất trác, bất thành khí”. Câu nói trên cho ta thấy, nhân cách của
con người được hình thành và phát triển thông qua con đường học tập và giao
tiếp giữa cá nhân và xã hội, chỉ thông qua con đường đó thì nhân cách con người
mới được bộc lộ, mới được đánh giá. Đồng thời cũng chỉ qua đó con người mới
có thể nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói
quen, hành vi ứng xử văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội.
2.2.3. Khái niệm bỏ học và khắc phục bỏ học
* Bỏ học: Là những học sinh đang trong tuổi đi học nhưng đã không đến
học ở bất cứ ở loại trường học nào. Học sinh bỏ học có ở bất kì cấp học nào,
trong khi đó nền giáo dục của chúng ta đảm bảo cho tất cả mọi học sinh đang
trong tuổi học đều được đến trường học tập.
Giáo sư Đặng Vũ Hoạt cho rằng: Khác với lưu ban, bỏ học trong mọi
trường hợp là “Hiện tượng không bình thường”.
Theo Đặng Thành Hưng xét bỏ học theo 2 mặt: Mặt hình thức và mặt
bản chất: “ Về hình thức bỏ học cũng là sự sàn lọc sản phẩm…bỏ học có bản
chất xã hội - sư phạm phức tạp hơn lưu ban”. Tác giả cho rằng: “Bỏ học
không phải là sự cố nhất thiết xảy ra, không phải thuộc tính cố hữu của dạy
học”.
Vậy theo hai tác giả bỏ học là hiện tượng không nên có, cố gắng khắc
phục mọi nguyên nhân để không nên có học sinh bỏ học. Cách đây 20 đến 25
- Xã hội:
+ Dựa vào chính quyền địa phương, hội cha học sinh, các cơ quan đoàn
thể, tổ chức đại hội giáo dục các cấp cơ sở để bàn biện pháp giải quyết vấn đề
giáo dục ở trường, ở địa phương.
Theo Phạm Thanh Bình [Về nguyên nhân và biện pháp bỏ học; 31], có
các biện pháp khắc phục tình trạng bỏ học sau đây:
- Thay đổi mục đích giáo dục theo tinh thần Đại hội XI của Đảng nhằm
chuẩn bị cho học sinh sống và làm việc theo yêu cầu mới của kinh tế - xã hội.
- Nhà trường phải đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục để
giảm bớt nặng nề căng thẳng.
- Phải quản lý tốt hình thức dạy thêm học thêm.
- Tổ chức toàn xã hội tham gia chống bỏ học.
Theo Nguyễn Văn Tường [Tình hình lưu ban, bỏ học ở một số trường
kinh tế mới;30], có các biện pháp sau:
- Ổn định tổ chức, đưa dần việc giảng dạy học tập vào nề nếp.
- Tăng cường kiểm tra đôn đốc, hoạt động chủ nhiệm, nhất là coi trọng
mối quan hệ với cha mẹ học sinh.
- Động viên giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh bỏ học trở lại
trường tiếp tục học.
- Miễn giảm học phí cho học sinh nghèo.
- Khuyến khích giáo viên dạy thêm đúng quy định.
Qua các tác giả nêu trên, có thể thấy rằng biện pháp khắc phục tình trạng
học sinh bỏ học bao hàm cả biện pháp giáo dục và biện pháp quản lý đối với tất
cả các đối tượng có liên quan, tác động đến nguyên nhân bỏ học ở cấp vi mô và
vĩ mô.
2.2.4. Khái niệm biện pháp giáo dục học sinh THPT khắc phục bỏ học
2.2.4.1. Khái niệm biện pháp giáo dục học sinh THPT khắc phục bỏ học
Biện pháp giáo dục học sinh trung học phổ thông khắc phục bỏ học là
cách làm, cách giải quyết những vấn đề, những công việc cụ thể nhằm đạt được
sinh. Nhận thức hạn hẹp về mục đích học tập, trình độ giáo dục thấp, phương
pháp giáo dục của cha mẹ học sinh không phù hợp với tâm sinh lý của con cái,
hoàn cảnh sống, nề nếp gia đình … cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập
của học sinh. Mặt khác sự tác động của xã hội đến gia đình và thông qua gia
đình tác động đến học sinh. Về mặt này có thể kể đến những ảnh hưởng tiêu cực
của kinh tế thị trường hoặc sự phân hóa xã hội mạnh mẽ như đã nói ở trên làm
thay đổi sâu sắc định hướng giá trị của cha mẹ học sinh về việc học tập của con
cái mình.
- Về phía những nhân tố khác: Ngoài những nhân tố nêu trên, còn có
những yếu tố khác như điều kiện học tập và các hoạt động giáo dục toàn diện
như an ninh trường học, an toàn xã hội, các điều kiện hạ tầng cơ sở đáp ứng nhu
cầu vui chơi, giải trí; môi trường, điều kiện sống của từng địa phương, mỗi gia
đình; các quan hệ giao lưu, quan hệ xã hội; sự quan tâm của gia đình, nhà trường
và xã hội với việc học và với các hoạt động của nhà trường; vấn đề sử dụng học
sinh tốt nghiệp ra trường ở các bậc học và sự phân luồng học sinh trung học phổ
thông; vấn đề cơ chế và sự phân cấp quản lý giáo dục trên địa bàn dân cư.
Với những cơ sở lý luận nêu trên, là cơ sơ cho việc nghiên cứu tình trạng
học sinh trung học phổ thông bỏ học, nhất là các trường trung học phổ thông
thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang hiện nay, để đề ra những biện pháp hạn
chế tình trạng ấy là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Tình trạng học sinh bỏ học rất phức tạp, đa dạng, xuất phát từ nhiều
nguyên nhân: Xã hội, gia đình, nhà trường và bản thân học sinh. Muốn khắc
phục tình trạng bỏ học cần phải có một hệ thống các biện pháp toàn diện và
hoàn chỉnh. Đặc biệt là phải tiến hành thực hiện các biện pháp có tính chiến lược
của Đảng và Nhà nước. Xã hội hóa công tác giáo dục, dân chủ hóa giáo dục và
đa dạng hóa hoạt động giáo dục. Các biện pháp này có mối quan hệ chặt chẽ,
biện chứng tạo cơ sở gắn bó nhà trường trung học phổ thông với cộng đồng, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng làm tiền đề cho sự phát triển
giáo dục một cách ổn định và bền vững.
đoàn thể quần chúng trong tất cả các hoạt động, kêu gọi thành lập quỹ khuyến
học để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh trung học phổ thông nói chung,
ở các trường trung học phổ thông thuộc chương trình 135 nói riêng là một mục
tiêu trước mắt và lâu dài, có nhiều khó khăn phức tạp, chịu tác động của nhiều
yếu tố, đòi hỏi nhà quản lý phải biết năng động, nhạy bén áp dụng các đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các lý luận khoa học… trên cơ
sở đó đề ra một hệ thống các biện pháp phù hợp của từng địa phương để khắc
phục được tình trạng bỏ học của học sinh trong điều kiện kinh tế xã hội chưa
phát triển, chất lượng cuộc sống còn thấp kém.
2.2.4.3. Vài nét về học sinh THPT ở vùng 135 tỉnh Kiên Giang
Học sinh trung học phổ thông thuộc vùng 135 tỉnh Kiên Giang có những
đặc điểm giống học sinh ở những vùng miền khác trong cả nước. Song do điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng đã tác động không nhỏ đến
điều kiện học tập, cũng như tâm sinh lý của học sinh.
Những năm gần đây, quy mô trường, lớp trong vùng ngày càng phát triển
tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong độ tuổi đến trường. Nhận thức của xã
hội về giáo dục và đào tạo được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện nên
đầu tư cho học hành ngày càng cao. Chính quyền địa phương, các ban ngành -
đoàn thể chính trị xã hội cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.
Tuy sự đầu tư của nhà nước và nhân dân cho giáo dục trong vùng có tăng
nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Điều kiện học tập của học sinh còn
nhiều khó khăn như: Chưa có nhiều trường đạt chuẩn quốc gia, trường đạt Xanh
- Sạch - Đẹp. Dụng cụ thực hành thí nghiệm, phòng học bộ môn, thư viện, sân
chơi và bãi tập còn thiếu nhiều. Đội ngũ giáo viên còn hạn chế về trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ. Điều kiện đi lại còn khó khăn. Nhiều nguyên nhân làm
cho các em có thể bỏ học giữa chừng… từ đó chất lượng dạy và học chậm phát
triển.
Nhiều học sinh đi học muộn nên lớp học có nhiều độ tuổi khác nhau (học
tuổi đền trường ở vùng này đạt thấp (6 - 10 tuổi đạt 80%, 11 - 14 tuổi đạt 70%).
Trong khi đó tỷ lệ học sinh bỏ học cao, năm học 2010 - 2011, tiểu học 1,24%,
THCS 4,10%, THPT 7,32%.
Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng về số lượng, nhưng chất lượng còn
nhiều hạn chế, nhất là trong áp dụng phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học. Nguyên nhân là do những năm 80 đội ngũ giáo viên
trong tỉnh thiếu trầm trọng, phải chọn học sinh có trình độ lớp 5, lớp 9 đào tạo
cấp tốc, từ xa…để giảng dạy.
Hệ thống trường lớp tuy đáp ứng nhu cầu nhưng đa số là điểm trường lẻ
(toàn tỉnh có hơn 1.700 điểm trường); cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu trang thiết
bị dạy và học. Kinh phí đầu tư cho giáo dục chủ yếu chi lương (phụ cấp giáo
viên vùng này là 150% - đến nay không còn thụ hưởng), chi cho hoạt động thấp,
thậm chí chí lương hơn 90% (quy định của Chính phủ 80% chi lương, 20% chi
hoạt động giáo dục).
Chất lượng dạy và học tuy có được các ngành, các cấp quan tâm nhưng
vẫn còn chênh lệch và thấp so với các vùng khác. Sự bất đồng về ngôn ngữ giữ
thầy cô giáo với học sinh là người dân tộc Khmer cũng ảnh hưởng đến chất
lượng dạy và học. Do đời sống khó khăn, nên sự đầu tư cho học hành còn hạn
chế, thậm chí một bộ phận người dân có quan niệm chưa đúng về vai trò của
giáo dục và đào tạo.
* Thực trạng về giáo dục và dạy học của các trường trung học phổ thông
thuộc chương trình 135 tỉnh Kiên Giang
Như đã trình bày ở phần I, vì điều kiện và khả năng có hạn, sáng kiến
kinh nghiệm chỉ nghiên cứu trong phạm vi các trường thuộc chương trình 135
tỉnh Kiên Giang.
Giáo dục tỉnh Kiên Giang cũng có những bước phát triển đáng kể về quy
mô, mạng lưới trường lớp và các loại hình giáo dục. Tuy nhiên vẫn còn một số
tồn tại và yếu kém như mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất chưa đáp ứng kịp
nhu cầu đào tạo nhân lực tại chỗ, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số (Khmer, Hoa) ở
THPT U Minh Thương
957
434
2
69
254
3
Trường THPT Thoại Ngọc Hầu
390
143
1
4
2
105
Tổng cộng
3384
1373
1088
128
117
Tổng cộng
3167
1296
9
81
890Biểu 3: Số lượng học sinh các trường giữa năm học 2011 - 2012
STT TÊN TRƯỜNG TS học sinh Khối 10 Khối 11 Khối 12
1 THPT Vĩnh Thuận
1917
806
596
518
2 THPT U Minh Thương
709
285
cấp và lớp cuối cấp giảm nhiều, đáng kể ở lớp 11 và 12. Năm học 2009 - 2010 có
1.373 học sinh học lớp 10 nhưng đến năm học 2010 - 2011 chỉ có 981 học sinh
trong số này học tiếp lớp 11, tức là có tới 392 học sinh bỏ học hoặc lưu ban và ở
năm học 2011 - 2012 chỉ có 813 học sinh học đến lớp 12, nghĩa là có đến 168 học
sinh lưu ban hoặc bỏ học. Tình trạng học sinh bỏ học ngày càng nhiều đang là nỗi
lo cho ngành giáo dục và các đơn vị trường học. Đa số học sinh bỏ học là người
dân tộc thiểu số và những em có học lực quá yếu kém.
* Thực trạng về các nguyên nhân bỏ học
Để khảo sát nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học ở ba trường
trung học phổ thông chúng tôi đã tiến hành khảo sát 800 học sinh trong đó có
400 học sinh trường THPT Vĩnh Thuận, 220 học sinh trường THPT U Minh
Thượng và 180 học sinh trường THPT Thoại Ngọc Hầu. Trong tổng số 800
phiếu khảo sát có 405 học sinh khối lớp 10, 246 học sinh khối 11 và 229 học
sinh khối 12. Tổng hợp 800 ý kiến trả lời của học sinh về tình hình bỏ học có
các nguyên nhân chính sau đây:
Biểu 4: Nguyên nhân bỏ học nhìn từ phía học sinh
STT
Nguyên nhân học sinh bỏ học
Số
lư
ợng
Tỉ lệ
%
01
Do học lực yếu, kém
751 93,87
kém phần quan trọng là do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bởi học sinh
sống trong vùng thuộc chương trình 135 phải nhận sự hỗ trợ nhiều mặt từ Chính
phủ. Mặc khác dân cư vùng này đa số là người dân tộc Khmer nên nhận thức và
sự quan tâm của phụ huynh và học sinh đối với việc học tập chưa được đầu tư
đúng mức, từ đó dẫn đến tình trạng học sinh học yếu kém và đi đến bỏ học. Một
số nguyên nhân khác cũng có tác động đáng kể đến tình trạng học sinh bỏ học là
do tai nạn rủi ro, sức khoẻ yếu, do gia đình không hoà thuận, quan trọng hơn là
do thầy dạy khó hiểu, không hứng thú và do thầy cô chưa quan tâm đến năng lực
và hoàn cảnh của từng học sinh.
* Đánh giá thực trạng quản lý ở các trường trung học phổ thông thuộc
chương trình 135 tỉnh Kiên Giang nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học
Qua kết quả nghiên cứu các biện pháp quản lý học sinh THPT nhằm khắc
phục tình trạng học sinh bỏ học và căn cứ vào thực tiễn, cho thấy cán bộ quản lý
đã nhận thức được nhiệm vụ quan trọng và vai trò then chốt của nhà trường
trong việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Từ nhận thức đó, các cán bộ
quản lý đã xây dựng một hệ thống biện pháp quản lý cụ thể và tập trung chỉ đạo
thực hiện.
Với mỗi nội dung quản lý nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, đã
chú ý xây dựng một số biện pháp cụ thể để chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, trong
quá trình chỉ đạo, với mỗi nội dung quản lý có những biện pháp thực hiện tốt, có
những nội dung thực hiện chưa tốt, kết quả chưa cao. Có thể khái quát việc khắc
phục tình trạng học sinh bỏ học hiện có những thuận lợi và khó khăn sau:
- Những thuận lợi:
Nhận thức trong ngành và các lực lượng xã hội về vai trò, vị trí của giáo
dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền,
mặt trận các ban ngành đoàn thể và nhân dân ngày càng quan tâm hơn việc phối
hợp với ngành giáo dục chăm lo, củng cố, nâng cấp trường lớp, phát triển giáo
dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở địa phương. Những
năm gần đây đã có sự hỗ trợ tổ chức, chỉ đạo, quan tâm đến chất lượng giáo dục
- Phối hợp với các tổ chức đoàn thể
Kết hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh
niên, Công đoàn tổ chức tốt các phong trào thi đua giữa các lớp, tổ chức các hoạt
động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao tạo hứng thú học tập cho học sinh, xây
dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh giúp học sinh cảm thấy ”mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”.
- Những khó khăn
Nhìn chung chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo có nhiều chuyển biến
nhưng chưa đồng đều. Giáo dục toàn diện còn không ít vấn đề cần quan tâm,
giáo dục thể chất, thẩm mỹ, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp
còn nặng về hình thức, thiếu điều kiện thực hiện, chưa sáng tạo về nội dung nên
đã ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Kinh tế của địa phương còn nhiều khó khăn chưa đầu tư nhiều cho giáo
dục. Các trường đều gặp khó khăn trong việc xây dựng, củng cố cơ sở vật chất,
trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học tuy đã có
nhiều biến chuyển đáng kể so với trước đây nhưng vẫn còn không ít khó khăn
bất cập, nhất là về đồ dùng dạy học, thiết bị thực hành - thí nghiệm. Giáo viên,
cán bộ phụ trách công tác thiết bị, thực hành còn thiếu, hầu hết là kiêm nhiệm
nên chưa được đào tạo nghiệp vụ. Chế độ chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng;
điều kiện, phương tiện làm việc cho cán bộ quản lý và giáo viên chưa đáp ứng
yêu cầu công việc.
Tỷ lệ học sinh yếu kém còn cao. Một bộ phận cán bộ giáo viên tuy đã đạt
chuẩn nhưng kinh nghiệm, phương pháp, chất lượng giảng dạy còn hạn chế,
chưa phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy.
Công tác tổ chức hoạt động giảng dạy của nhà trường chưa thật sự thu hút, tạo
hứng thú học tập cho học sinh.
Việc nâng cao nhận thức của phụ huynh học sinh đối với việc học tập của
con em gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với phụ huynh người dân tộc thiểu
số. Việc cải thiện đời sống kinh tế của người dân vượt quá khả năng của địa