Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
LUẬN VĂN THỰC TẬP
Đề tài:
Những giải pháp nâng cao chất lượng
tín dụng tại chi nhánh Ngân Hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Hải
Dương".
.
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự đổi mới chung của đất nước, ngành Ngân hàng đã có
những bước tiến đáng kể trong tổ chức và hoạt động, ngày càng thể hiện rõ
vai trò to lớn và quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta
từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước cũng như trong sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với
bản chất của nó, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Hoạt động tín
dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM, một hoạt động mang
lại thu nhập chủ yếu cho NHTM, song nó cũng là một hoạt động phức tạp và
chứa đựng nhiều rủi ro.
Chúng ta biết và hiểu những rủi ro này để tìm mọi cách hạn chế những
đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là đến ngân hàng và sau đó là toàn bộ nền
Nội dung của đề tài rất rộng , khả năng cũng như thời gian nghiên cứu
có hạn nên không tránh khỏi thiếu sót. Mong các thầy và các đồng nghiệp
tận tình tham gia ý kiến, giúp đỡ tôi để bản báo cáo thực tập chuyên đề đạt
kết quả tốt. Tôi xin chân thành cám ơn !
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:
1.1.1. Khái niệm và phân loại.
1.1.1.1. Khái niệm:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ và hoạt động chủ
yếu thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu các phương
tiện thanh toán. Như vậy kinh doanh của Ngân hàng thương mại khác với
kinh doanh của các doanh nghiệp, sản phẩm của các doanh nghiệp là một
hàng hoá thông thường, còn Ngân hàng thương mại kinh doanh một loại
hàng hoá đặc biệt (đó là tiền) đầu vào, đầu ra của Ngân hàng thương mại
đều là "tiền" tức huy động những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các tổ
chức cũng như dân cư để cho vay đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của
Ngân hàng thương mại, một hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho
NHTM, song nó cũng là một hoạt động phức tạp và chứa đựng nhiều
rủi ro. Vậy tín dụng là gì? Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là
credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; Trong một quan hệ tài chính cụ thể,
tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể;
trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ
cho vay.
thiện.
1.1.1.2. Phân loại
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo nhóm dựa trên
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một số tiêu thức nhất đinh. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền
đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị
rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa vào các tiêu thức sau đây:
1.1.1.2.1. Căn cứ thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng
nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã thoả thuận
trong Hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng .
- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tiền ngân hàng cấp ra cho khách hàng
của mình với thời hạn tối đa là 12 tháng.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng ngân hàng cấp ra với thời hạn
từ trên 12 tháng đến tối đa là 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng ngân hàng cấp ra cho
khách hàng với thời hạn từ trên 60 tháng ( hiện nay đến 10 năm)
1.1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Chia tín dụng ra thành:
- Tín dụng cho sản xuất: Là hình thức cấp tín dụng được đầu tư vào
lĩnh vực sản xuất ( hay giải quyết nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh)
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng nhằm thoả mãn
những nhu cầu tiêu dùng của các hộ gia đình và cá nhân như mua sắm
những tư liệu phục vụ cho sinh hoạt phục vụ cho tiêu dùng, trang trải cho
những chi phí như học tập, tham quan, du lịch….
- Tín dụng đầu tư: Là hình thức cấp tín dụng nhằm hình thành cũng
như mở rộng những tài sản cố định hiện có.
- Tín dụng xuất khẩu và nhập khẩu: Là hình thức cấp tín dụng được
thực hiện trong lĩnh vực xuất khẩu hay nhập khẩu.
Phân chia thành tín dụng trả góp và tín dụng thanh toán 1 lần:
- Tín dụng trả góp được thực hiện trong lĩnh vực tiêu dùng là chủ yếu,
qui định từng kỳ hạn khách hàng phải trả trong từng lần với số tiền giống
nhau.
- Tín dụng thanh toán 1 lần: Nguồn thu chủ yếu của người vay phụ
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuộc chủ yếu vào chu kỳ sản xuất ( cuối mỗi chu kỳ)
1.1.1.2.7. Căn cứ vào đảm bảo tiền vay:
Chia tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm
- Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức tín dụng mà trước khi ngân hàng
thực hiện việc cho vay đối với khách hàng phải sử sụng 1 khoản bảo đảm
cho 1 khoản tiền vay
- Tín dụng không có bảo đảm: Khi cho vay ngân hàng không yêu cầu
khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo cho khoản tiền vay.
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng Ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với toàn
bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các hoạt động công nghiệp,
thương nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Cung ứng vốn ngân hàng đã
gián tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội. Tất cả giai đoạn của quá trình kinh
tế : sản xuất - phân phối - tiêu dùng đều cần phải có vốn. Có thể nói tín
dụng ngân hàng đã tạo ra khả năng thực hiện toàn bộ quá trình kinh tế
cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Do thu nhập của nhà nước không phải lúc nào cũng tương ứng với
các khoản chi, đòi hỏi phải tạm thời vay nợ các ngân hàng thương mại-
Việc cung cấp tín dụng cho chính phủ trong những trường hợp như vậy đã
đảm bảo cho các hoạt động của chính phủ được trôi chảy.
Tín dụng Ngân hàng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội. Trong hoạt động kinh doanh tín dụng
bằng các nghiệp vụ cụ thể Ngân hàng đã huy động tối đa được các nguồn
thiểu rủi ro - muốn vậy phải nâng cao chất lượng tín dụng. Đề cập đến vấn
đề chất lượng tín dụng không phải là điều mới mẻ nhưng là vấn đề quan tâm
hàng đầu của Ngân hàng thương mại.
Chất lượng tín dụng phải được hiểu theo hai khía cạnh đó là: hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội. Vốn vay của Ngân hàng được khách hàng sử
dụng đưa vào quá trình sản xuất-kinh doanh, dịch vụ sau một chu kỳ sẽ tạo
ra số tiền lớn hơn số tiền ban đầu. Số tiền này khách hàng dùng để trang trải
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các chi phí ban đầu bỏ ra và hoàn trả nợ vay Ngân hàng gồm cả gốc và lãi,
đồng thời còn dành được một phần lợi nhuận. Về mặt xã hội, thông qua hoạt
động sản xuất, kinh doanh dịch vụ sẽ tạo ra công ăn việc làm, hạn chế các tệ
nạn xã hội phát sinh, thúc đẩy kinh tế trên địa bàn phát triển.
Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại được hình thành và
đảm bảo từ 2 phía là từ Ngân hàng và từ khách hàng.
1.2.1.1. Về phía Ngân hàng : trước khi cho vay, Ngân
hàng phải cân nhắc vừa đảm bảo không vi phạm luật Ngân hàng, các qui
trình nghiệp vụ vừa giải quyết được đầu ra và có hiệu quả. Đây là một vấn
đề khó trong quá trình thực hiện, vì vậy khi quyết định cho vay đòi hỏi Ngân
hàng cần phải nghiên cứu, thẩm định kỹ, nắm bắt được thông tin về khách
hàng vay vốn, tiền vay được sử dụng vào mục đích gì? được sử dụng như
thế nào ? khả năng sử dụng số tiền vay đó ra sao và có hiệu quả không?
1.2.1.2. Về phía khách hàng: Nếu như khách hàng hoạt động
kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi được phần
gốc và lãi khoản vốn mà Ngân hàng đã cho vay, ngược lại doanh nghiệp
hoạt động kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ không có khả năng trả
nợ, số nợ vay Ngân hàng quá hạn tăng lên và sẽ có thể dẫn đến Ngân hàng
không có khả năng thu hồi vốn. Vì vậy nếu các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế, cá nhân có trình độ quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, hiệu quả
kinh doanh cao, bảo tồn và phát triển được vốn thì chất lượng đầu tư tín
Hàng, đi kèm với tình hình lạm phát tăng tiến nhanh từ 2004( hiện nay tính
đến cuối 2007, lạm phát đã là 12,6%) đã làm cho chất lượng tín dụng bị
giảm sút nghiêm trọng, thiệt hại không những ngành ngân hàng phải gánh
chịu mà nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng nặng nề.
Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh
Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một đòi hỏi khách quan và là vấn
đề vô cùng quan trọng không chỉ đối với Ngân hàng mà là vấn đề quan tâm
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá và phân loại chất lượng tín dụng
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay chất lượng tín dụng Ngân hàng được đánh giá qua 2 nhóm
chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng.
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu định tính:
Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá việc chấp hành các văn bản pháp
quy như: luật Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, các qui chế, qui trình
nghiệp vụ, chế độ thể lệ tín dụng và các văn bản chỉ đạo của Ngân hàng
cũng như của Chính phủ trong quá trình thực hiện qui trình cho vay, Việc
thực thi các văn bản này phụ thuộc vào trình độ năng lực chuyên môn và
tinh thông nghiệp vụ của CBTD, năng lực chỉ đạo điều hành của người quản
lý.
Khi cho vay Ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc tín dụng đó là:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
- Phải được hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng.
- Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện theo qui định của chính phủ và
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Đồng thời cũng phải tuân thủ 2 điều kiện cho vay:
- Về mặt pháp lý, là điều kiện liên quan đến việc ràng buộc người vay
dụng.
Đây là chỉ tiêu phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng của tổ chức tín
dụng, song cũng cần phải đi sâu xem xét phân loại nợ quá hạn để đánh giá
thực chất của các khoản nợ quá hạn.
Phân loại NQH theo thời gian: Đến 6 tháng; từ 6 tháng đến 12 tháng;
trên 12 tháng
Phân loại NQH theo nguyên nhân: Khách quan; chủ quan của khách
hàng; chủ quan của ngân hàng
Phân loại NQH theo khả năng thu hồi: khả năng thu hồi 100%; khả
năng thu hồi một phần; không có khả năng thu hồi.
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài ra còn sử dụng 1 số các chỉ tiêu để phân tán, phòng ngừa và hạn
chế rủi ro như:
+ Giới hạn cho vay đối với 1 khách hàng của tổ chức tín dụng: không
được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
+ Các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng: tỷ
lệ cho vay tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài
hạn; tỷ lệ về khả năng chi trả; tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Qua 2 nhóm chỉ tiêu ta thấy việc đánh giá chất lượng tín dụng thông
qua các chỉ tiêu định tính là đánh giá việc tuân thủ qui trình cho vay, các văn
bản pháp quy mà nhà nước, ngành ngân hàng ban hành. Việc thực hiện tuỳ
thuộc vào trình độ nhận thức, ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, tuân thủ qui
trình cho vay của Ngân hàng.
Đối với nhóm chỉ tiêu định lượng, việc đánh giá chất lượng tín dụng
thông qua các chỉ tiêu định lượng có nhiều thuận lợi hơn, việc đánh giá chủ
yếu so sánh các số liệu thực tế với kế hoạch, năm nay so với năm trước, với
các tỷ lệ và các chỉ tiêu giới hạn, mà các văn bản đã quy định.
1.2.4. Các nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng
- Chất lượng tín dụng quan trọng hơn mở rộng tín dụng: nên nhớ"bất
cho vay tiền hay không là một quyết định mang tính độc lập. Mỗi cán bộ tín
dụng phải có sự nhậy cảm và khả năng đánh giá chính xác, các quyết định
trong mỗi giao dịch phải là quyết định của riêng mình và không hề chịu ảnh
hưởng bởi những người liên quan.
- Mục tiêu của khoản tiền cho vay phải hàm chúa cơ sở việc trả nợ:
Việc thẩm định các dự án là rất quan trọng, vì nếu dự án đầu tư phát huy
hiệu quả thì việc trả nợ sẽ rất thuận lợi. Mặt khác các khoản cho vay ngắn
hạn thì chứa đựng rủi ro ít hơn cho vay trung dài hạn (thời hạn càng ngắn thì
tính lỏng càng lớn)
- Ngân hàng cần có nhiều cơ sở dữ liệu thông tin về khoản vay: Ngân
hàng phải tốn nhiều công sức để cố gắng biết được thông tin. Việc nắm bắt
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông tin, hiểu biết về lĩnh vực họ đang hoạt động sẽ tạo điều kiện cho việc
ra quyết định cho vay dễ dàng hơn rất nhiều.
- Chu kỳ kinh doanh là không thể biết trước: Ngân hàng phải luôn
nhận thức được thời điểm hiện thời của chu kỳ kinh doanh có thể đánh giá
được khả năng rủi ro chắc chắn phát sinh trong tương lai khi điều kiện kinh
tế thay đổi. Mọi thứ luôn luôn phát triển theo hai hướng, hoặc là xấu đi hoặc
là tôt hơn. Có thời điểm của chu kỳ kinh doanh việc cho vay chứa đựng ít
rủi ro hơn, việc cho vay trở nên nguy hiểm hơn trong điều kiện kinh tế suy
thoái.
- Cần phải đánh giá chất lượng quản lý của doanh nghiệp bên cạnh
việc đánh giá các báo cáo tài chính: chất lượng quản lý được thể hiện trên
mhiều phương diện: sự lựa chọn mang tính độc đoán hay dân chủ, sự dễ
dàng hoặc khắt khe trong việc cho phép những người bên ngoài công ty nắm
giữ các chức vụ quan trọng, phong cách hoạt động của các văn phòng công
ty, cách thức tiến hành đổi mới, danh tiếng trong cạnh tranh, người điều
hành công ty có phong cách sống thế nào Việc so sánh với các công ty
khác trong cùng ngành cũng sẽ giúp ngân hàng đánh giá đúng hơn chất
bộ tín dụng phải trực tiếp đến kiểm tra việc sử dụng vốn để xem khách hàng
sử dụng vốn có đúng như trong hợp đồng tín dụng không?
- Trước hết phải nghĩ về lợi ích của ngân hàng, khi nguyên tắc cho vay
bị vi phạm thì rủi ro sẽ tăng lên: Đánh giá chính xác, kinh nghiệm và sự
nhậy cảm là những dấu hiệu của một cán bộ tín dụng giỏi. Phải đặt lợi ích
của ngân hàng lên trên lợi ích cá nhân, trước khi quyết định cho vay hãy tự
hỏi mình "có dám đem tiền riêng của mình ra cho vay không?"
Tóm lại, hoạt động tín dụng là hoạt động chính của Ngân hàng thương
mại, là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Nhưng hoạt
động tín dụng là một hoạt động phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Do vậy,
nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng trong
nền kinh tế thị trường góp phần giảm thiểu rủi ro và là vấn đề vô cùng quan
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trọng không chỉ đối với Ngân hàng mà là vấn đề quan tâm của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Để nâng cao chất lượng tín dụng và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn vay, ngoài việc có một cơ cấu bộ máy tổ chức hoàn thiện và vững
mạnh về mọi mặt cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng vững vàng và
giỏi về chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ và nhạy bén về thị trường.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là góp phần
vào việc giảm thiểu rủi ro và góp phần đảm bảo an toàn tiền vay. Để nâng
cao chất lượng tín dụng phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng.
Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt, sản phẩm-dịch vụ của
ngành Ngân hàng khác với các ngành kinh doanh khác. Nên hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng không những chịu sự tác động của các nhân tố từ
chính bản thân ngành Ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các nhân tố
khác như: kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội; môi trường pháp lý của một
quốc gia và chịu sự tác động của thiên tai dịch bệnh, trình độ quản lý năng
dưới luật của Ngân hàng nhà nước, NHNo&PTNT Việt Nam. Về cơ bản đã
tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động Ngân hàng. Cụ thể như các văn bản
sau:
- Luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng
- Các quy chế, quy định cho vay, các quy định về bảo đảm tiền vay:
+ Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1ngày25/8/2000 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng.
+ Quyết định số 06/QĐ-HĐQT ngày 18/01/2001 của Hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về việc ban hành quy định cho vay đối với khách
hàng
+ Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo
đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Thông tư 06/2000/TT-NHNNI ngày 4/4/2000 của Ngân hàng nhà
nước hướng dẫn thực hiện nghị định 178.
+ Quyết định 167/HĐQT-03 ngày 7/9/2000 của Hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về việc"ban hành quy định việc thực hiện các biện
pháp bảo đảm tiền vay trong hệ thống NHNo%PTNT Việt Nam"
+ Quyết định 67/TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và
nông thôn.
+ Quyết định số: 10/HĐQT-03 ngày 18/01/2001 của Hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về việc"ban hành quy định về tổ chức và hoạt
động của Hội đồng tín dụng trong hệ thống NHNo%PTNT Việt Nam"
+ Quyết định số:11/HĐQT-03 ngày 18/01/2001 của Hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về việc"ban hành quy định phân cấp phán quyết
mức cho vay tối đa đối với một khách hàng"
+ Quyết định số: 09/HĐQT-05 ngày 18/01/2001 của Hội đồng quản trị
kinh doanh và cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đó là thiên tai dịch
bệnh, thời tiết diễn biến thất thường, lũ lụt, hạn hán, lốc và mưa đá
1.2.5.2 Nhân tố thuộc về chủ quan của Ngân hàng:
Năng lực trình độ của cán bộ quản lý điều hành, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của cán bộ tác nghiệp trong cơ chế thị trường có ảnh hưởng rất
lớn đến chất lượng các khoản vốn mà Ngân hàng đã và đang đầu tư.
Trong điều kiện hiện nay hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có
nhiều khó khăn và có sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, việc bố trí sắp
xếp đội ngũ cán bộ, tổ chức màng lưới hoạt động và có những chính sách tín
dụng phù hợp với tình hình thị trường đòi hỏi là nhân tố tác động trực tiếp
đến chất lượng tín dụng.
Chính sách cho vay của ngân hàng hợp lý thì chất lượng tín dụng tốt
và ngược lại. Ví dụ: Do cạnh tranh để thu hút khách hàng nên ngân hàng nới
lỏng điều kiện cho vay dễ dẫn đến chất lượng tín dụng giảm sút. Hoặc chính
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sách cho vay quá chú trọng đến mục tiêu lợi nhuận nên cho vay nhiều món
mạo hiểm cũng dễ dẫn đến giảm sút chất lượng tín dụng.
Thực tế cho thấy, một Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, sáng
tạo trong công việc, có tinh thần tập thể, vì lợi ích của Ngân hàng thì có thể
phát triển và đứng vững trên thương trường.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NHNO&PTNT TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Khái quát sơ lược về NHNo&PTNT Hải Dương.
2.1.1. Tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Hải Dương:
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hải Dương là tỉnh nông nghiệp, nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội-
Hải Phòng - Quảng Ninh, diện tích tự nhiên là 1.661 km2, dân số khoảng
hàng hóa
Triệu USD 200,2 224,7 325
Kim ngạch nhập khẩu
hàng hóa Triệu USD 242,2 287,7 412
Nhập siêu Triệu USD -42 -60 -87
Trong những năm qua, Việt Nam nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng
đã bước vào một quá trình cải cách, chuyển đổi nền kinh tế. Từng bước xoá
bỏ mô hình kinh tế chỉ huy, chuyển sang mô hình kinh tế thị trường. Nền
kinh tế của tỉnh đang từng bước chuyển đổi theo yêu cầu của nền kinh tế thị
trường, đi dần vào thế ổn định và đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Mặc dù
những năm trước đây với đặc điểm cơ bản của nền kinh tế là thuần nông,
kinh tế hàng hoá chậm phát triển, trình độ sản xuất còn lạc hậu Cùng với
sự đổi mới mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, Hải Dương đã dần thay đổi
và thích ứng với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường.
Công tác tài chính tiền tệ tín dụng được chấn chỉnh và đổi mới. Khuyến
khích các thành phần kinh tế phát triển, khai thác tốt hơn các tiềm năng của
địa phương. Kinh tế quốc doanh đã sắp xếp lại một bước, Hợp tác xã nông
nghiệp cũ đang tích cực đổi mới, mô hình hợp tác xã đa dạng và tự nguyện
đang hình thành, kinh tế gia đình và cá thể phát triển.
Ngân hàng là bức tranh phản ánh toàn bộ nền kinh tế. Vì thế tình hình
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt
động kinh doanh của các Ngân hàng trên địa bàn nói chung, NHNo&PTNT
Hải Dương nói riêng.
2.1.2 Khái quát về chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương:
Nguyễn Hữu Thắng Lớp Tài Chính 46Q