Quan niệm mới về lâm nghiệp và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Trần Văn Con - Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Mở đầu
Kể từ Hội nghị thượng đỉnh Rio 1972, khái niệm "phát triển bền vững” đã trở thành một
thuậtt ngữ bị lạm dụng quá nhiều nhưng ít được hiểu một cách đúng đắn. Thật vậy, hiện tại
ít có một khái niệm nào lại có nhiều định nghĩa và được tranh luận rộng rãi như vậy. Khái
niệm “quản lý rừng bền vững” đã được tạo ra và trở thành một sự bắt buộc khi nói đến một
nền "lâm nghiệp tốt". Trong thực tế, rất ít quốc gia đạt được thành công trong việc thực
hiện quản lý rừng bền vững; thậm chí nhà lâm nghiệp được gán nhãn hiệu là những người
tàn phá màu xanh, huỷ hoại môi trường; điều đó buộc họ phải trở về với gốc rễ để nhận
thức lại rằng: nhà lâm nghiệp trước hết phải là những người bảo vệ môi trường. Đạo lý và
các chuẩn mực của thực tiễn một nền lâm nghiệp tốt đã bị thay chỗ trước các vấn đề cấp
bách như sa mạc hoá, sự nóng lên của trái đất, suy giảm đa dạng sinh học và thu hút được
sự chú ý của các nhà khoa học, của công chúng và của các nhà chính khách. Nói cách khác,
nhà lâm nghiệp đã nhận thức được rằng suy giảm rừng là hệ quả của một thực tiễn sai lầm
và thất bại. Trách nhiệm nghề nghiệp của các nhà lâm nghiệp là phải tìm ra các biện pháp
hành động để sữa chữa những sai lầm đó và phát triển các chuẩn mực mới cho thực tiễn
lâm nghiệp. Quan niệm lâm nghiệp của chúng ta trước đây (và còn cả ngày nay) đã lỗi thời
thể hiện ở sự bất lực của nó trong việc xử lý vấn đề tiếp tục phát triển ngành lâm nghiệp và
khủng hoảng môi trường sinh thái. Vì vậy, thay đổi quan niệm về lâm nghiệp là chìa khoá
để xử lý cuộc khủng hoảng nhằm đạt được một ngành lâm nghiệp và quản lý tài nguyên
môi trường bền vững. Việc thay đổi quan niệm về lâm nghiệp có thể được thúc đẩy thông
qua việc đổi mới các thể chế phù hợp, mà sự đổi mới này được tạo điều kiện thông qua sự
nhất trí cao của các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức tài trợ và sự ủng hộ cao của công chúng.
Các luận cứ trên đây không chỉ phản ánh sự cần thiết phải coi tài nguyên rừng là một bộ
phận của tài nguyên thiên nhiên mà còn hàm chứa sự cần thiết của việc quản lý tổng hợp
mà tất cả các đối tác phải quan tâm trong các hoạt động quản lý ngay từ khi thiết lập các dự
án
1. Quan niệm mới về lâm nghiệp
Lâm nghiệp là gì và đối tượng của nó như thế nào? nhiều người có thể cho rằng đây là một
câu hỏi sơ đẳng và không cần thiết phải nêu ra. Đây là một vấn đề lớn mà đáng lẽ phải ưu
Chúng ta tìm những vấn đề của ngành lâm nghiệp ở đâu?
(1) Trong kinh tế doanh nghiệp:
Hệ thống tổ chức lâm nghiệp của chúng ta đang nằm trong tiến trình đổi mới. Theo tinh
thần của quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ thì các
lâm trường quốc doanh sẽ được sắp xếp lại thành hai hình thức tổ chức với cơ chế hoạt
động khác nhau: (i) Các lâm trường quản lý rừng sản xuất và rừng phòng hộ ít xung yếu
hoạt động theo cơ chế kinh doanh; và (ii) Các ban quản lý rừng phòng hộ/rừng đặc dụng
hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu. Nguyên tắc tổ chức được qui định phải bảo
đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh; doanh nghiệp phải là chủ rừng thực sự; lợi
ích của người lao động, của doanh nghiệp, của địa phương và của nhà nước phải được giải
quyết hài hoà. Nhưng làm thế nào để đạt được điều đó trong thực tế? Những bất cập gì cần
được vượt qua?
Bất kỳ một khu rừng nào cũng có khả năng cung cấp lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái. Về
nguyên tắc thì lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái không mâu thuẫn nhau, nếu giữa kinh tế
quốc dân và kinh tế doanh nghiệp không tạo ra các hệ thống độc lập và trách nhiệm cũng
như hậu quả không bị nhập nhằng giữa các cấp, các ngành. Những tư duy mới, những định
hướng mới trong chính sách và kinh doanh lâm nghiệp là tiền đề cần thiết để đổi mới hệ
thống quản lý rừng theo hướng bền vững. Kinh doanh lâm nghiệp chịu sự ràng buộc của
sản phầm có thể bán trên thị trường. Đối với một doanh nghiệp lâm nghiệp, hầu như sản
phẩm hàng hoá có thề bán được là các lâm sản (chủ yếu là gỗ). Các sản phẩm phi vật chất
(các dịch vụ từ rừng) mặc dầu mang lại rất nhiều lợi ích cho cộng đồng và xã hội, cho đến
nay và cả trong một thời gian nữa vẫn chưa được thị trường hoá. Đặc điểm cơ bản riêng
của ngành lâm nghiệp so với các ngành sản xuất khác là ở chỗ: rừng vừa là đối tượng, vừa
là tư liệu sản xuất. Tài nguyên rừng khác nhau sẽ dẫn đến những lợi thế khác nhau đối với
các doanh nghiệp.
Sự ràng buộc trong lợi ích kinh tế của quản lý rừng sẽ dẫn đến:
- Các doanh nghiệp được quản lý rừng có tài nguyên (rừng giàu) sẽ có nhiều lợi thế rừng
kinh doanh. Vì lợi nhuận của họ phụ thuộc vào thị trường lâm sản vốn rất biến động. Hậu
quả có thể dẫn đến là: (i) Khai thác quá mức cho phép các loài cây có giá trị thương mại
cao. (ii) Vi phạm nguyên tắc bền vững theo nghĩa đa chức năng, đa dạng về loài (phát triển
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phải được đánh giá dựa trên mối quan hệ này. Nếu khung
chính sách không làm rõ ràng mối quan hệ này, người chủ rừng bắt buộc phải có những
quyết định riêng vì lợi ích của họ. Những khả năng quyết định và hành động; và vì vậy,
mức quan trọng của công tác quản lý tài nguyên rừng phụ thuộc vào mức độ mà chính sách
lâm nghiệp xác định giá trị các chức năng của rừng trong việc đáp ứng các nhu cầu khác
nhau của xã hội. Ví dụ, nếu chính sách lâm nghiệp chỉ hạn chế tầm quan trọng kinh tế quốc
dân của lâm nghiệp ở chức năng kinh tế sản xuất (gỗ) và không xác định giá trị các chức
năng phi vật chất của rừng thì các quyết định và không gian hành động của công tác xây
dựng rừng sẽ thu hẹp đáng kể. Tuy nhiên, chính sách lâm nghiệp của chúng ta cần phải
hướng tới nguyên tắc đa chúc năng ( nhiều lợi ích khác nhau) và bền vững (bắt chước thiên
nhiên).
(3) Về đối tượng rừng:
Những hạn chế trong tổ chức và quản lý/kinh doanh rừng của chúng ta hiện nay có thể bắt
đầu từ những nhận thức và quan niệm sai lầm hoặc thiếu chính xác về đối tượng. Quan
niệm về nội dung của lâm nghiệp đã, đang và sẽ thay đổi theo từng giai đoạn của phát triền
xã hội tuỳ vào trình độ nhận thức, nhu cầu và xu thế phát triển của từng thời kỳ. Thông
thường, lâm nghiệp được hiểu là một ngành kinh tế kỹ thuật lấy tài nguyên rừng làm đối
tượng để khai thác gỗ và các lâm sản đáp ứng các nhu cầu xã hội. ở nghĩa hẹp hơn, người
ta hiểu lâm nghiệp chỉ bao gồm những hoạt động lâm sinh như trồng, tu bổ, chăm sóc, bảo
vệ rừng. Việc khai thác, sử dụng rừng và chế biến lâm sản được xếp vào ngành công
nghiệp khai thác tài nguyên (cũng giống như khai thác than, quặng vậy). Trong hệ thống
tổ chức lâm nghiệp đã có sự phân tách giữa các lâm trường trồng rừng và xí nghiệp khai
thác riêng lẻ. Các lâm trường trồng rừng chỉ có nhiệm vụ trồng rừng chăm sóc, nuôi dưỡng
và bảo vệ rừng. Sản phẩm cuối cùng của họ là cây đứng. Các xí nghiệp khai thác mua cây
đứng để khai thác. Kết quả là các lâm trường trồng rừng chỉ quan tâm đến việc trồng rừng
theo chỉ tiêu kế hoạch sao cho được nghiệm thu, còn chất lượng, sản lượng rừng thì họ
không quan tâm. Trong khi đó các xí nghiệp khai thác lại chỉ quan tâm đến vấn đề làm sao
cho đạt được các chỉ tiêu khai thác với giá thành thấp nhất. Việc đổ vỡ rừng và ảnh hưởng
sau khai thác không phải là vấn đề của họ. Sự tách biệt giữa hai khâu: xây dựng rừng và
khai thác rừng cho hai chủ thể kinh tế khác nhau là siêu hình và được xuất phát từ nhận
Quan niệm cũ Quan niệm mới
1. Rừng - Là những "kho đặc biệt" hay
những hệ thống cung cấp/sản
xuất một hoặc nhiều sản phẩm
chọn lọc có giá trị thương mại
cao. Giá trị của rừng được xác
định đơn thuần về mặt thương
mại của gỗ và các lâm sản khác
có thể khai thác từ rừng
- Là những hệ sinh thái phức hợp có
thể cung cấp cho con người một loạt
các sản phẩm kinh tế và môi trường
cũng như các dịch vụ được xã hội
lượng giá. Giá trị của rừng mang
tính nội tại và khó có thể đưa ra một
đơn giá cho nhiều chức năng và dịch
vụ mà rừng có thể cung cấp.
2. Nhà lâm nghiệp - Là các chuyên gia kỹ thuật
được đào tạo chuyên ngành để
kinh doanh /quản lý rừng.
- Quan tâm bậc 1 của họ là chất
- Không phải là một chức sắc lâm
nghiệp thuần tuý mà còn giữ vai trò
lãnh đạo trong quản lý tài nguyên
rừng bền vững.
lượng của cây và rừng.
- Là một chức sắc lâm nghiệp
thuần tuý.
- Tầm nhìn chung về sản lượng
bền vững ở khía cạnh của một
Được xác định về mặt bền vững hệ
thống ; trước hết là nhằm sản xuất
các dịch vụ của rừng được xã hội
đánh giá và bảo toàn tính chỉnh thể
của hệ sinh thái.
- Chiến lược Cơ bản là đơn giản hoá (đơn
giản hoá tổ thành loài, chuyển
từ hệ sinh thái rừng tự nhiên
hỗn loài, khác tuổi thành các hệ
sinh thái rừng trồng đồng loài,
đồng tuổi ) để đạt hiệu quả sản
xuất
Cơ bản là đa dạng hoá hệ thống
nhằm đạt được sự bình đẳng, đa
dạng sinh học và sự bền vững
- Các chương trình Được thiết kế chuyên đề và nói
chung là để thúc đẩy một hoặc
vài mục tiêu kinh tế được định
hướng
Thi
ết kế tổng hợp để thúc đẩy các hệ
thống đa mục tiêu.
- Hệ thống quản lý
hành chính
Được đặc trưng bởi sự tập trung
hoá quyền lực và trách nhiệm
trong tay nhà nước; quyết định
từ trên xuống, và thông tin một
chiều
Được đặc trưng bởi sự phân quyền
tài nguyên đất, chống suy thoái tài nguyên rừng, quản lý các hệ sinh thái nhạy cảm: chống
sa mạc hoá và khô hạn và phát triển bền vững khu vực miền núi, thúc đẩy phát triển nông
nghiệp và nông thôn bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý công nghệ sinh học, bảo
vệ và quản lý tài nguyên biển, bảo vệ và quản lý nguồn nước ngọt và hỗ trợ khoa học kỹ
thuật cho phát triển bền vững (Shlaepfer, 1997). Khái niệm quản lý hệ sinh thái đã được
nhiều nhà sinh thái học định nghĩa. Baker et al (1995) đã kể đến một số định nghĩa của
Gordon (1993), Wood (1994), Grambine (1994), Christenson et al. (1996) trong báo cáo
EPA. Dựa trên các định nghĩa của các tác giả này có thể hiểu quản lý hệ sinh thái trong tình
hình hiện nay như sau: "Quản lý hệ sinh thái là một tiếp cận hướng đích nhằm phục hồi và
bền vững hoá cấu trúc, chức năng và giá trị của hệ sinh thái bằng các ứng dụng các khoa
học tiên tiến nhất đồng thời với các kiến thức bản địa. Nó đòi hỏi sự hợp tác giữa chính
quyền Trung ương, các bộ tộc và chính quyền địa phương, các nhóm cộng đồng, các chủ
đất tư nhân, và các đối tác khác nhằm phát triển một tầm nhìn cho điều kiện các hệ sinh
thái mong đợi trong tương lai. Tầm nhìn này nhất thể hoá các nhân tố slnh thái, kinh tế và
xã hội ảnh hưởng đến các đơn vị quản lý được xác định bằng ranh giới sinh thái chứ không
phải ranh giới hành chính. Mục đích là khôi phục và bảo toàn chất lượng các hệ sinh thái
đồng thời với việc cung cấp cho kinh tế và văn hoá xã hội của các cộng đồng và toàn xã
hội."Hiện tại quản lý hệ sinh thái đã được ứng dụng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở
các nước phát triển và đang phát triển và không chỉ cho các hệ sinh thái cạn mà còn cho
các hệ sinh thái biển, bờ biển và kể cả các lưu vực đầu nguồn.
Theo nhận thức ngày nay thì bản chất và nội dung của ngành lâm nghiệp là ở chỗ: tạo ra sự
tối ưu cho sức sản xuất tổng hợp của hệ sinh thái rừng phù hợp với các nhu cầu của xã hội
loài người. Sức sản xuất tổng hợp của các hệ sinh thái rừng (Gr) bao gồm 5 hợp phần sau
đây:
(1) Chức năng sản xuất (hay chức năng kinh tế) Gkt: thể hiện ở khả năng sản xuất ra các
lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá trị thương mại và giá trị sử dụng vật chất.
(2) Chức năng phòng hộ Gph: thể hiện ở khả năng bảo vệ không gian sống, không gian sản
xuất trước các nguy cơ của thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt lở, tiếng ồn
(3) Chức năng môi sinh Gms: thể hiện ở khả năng tái tạo và điều hoà các nhân tố cơ bản
của sự sống như nước, không khí, khí hậu, đất đai
hệ sinh thái là cơ bản nhất so với các chức năng khác; bảo vệ khí hậu không khí, nguồn
nước (chức năng môi sinh), quan trọng hơn nhiều so với chức năng bảo vệ không gian
sống, chức năng nghỉ ngơi, giải trí lớn hơn chức năng sản xuất gỗ : Gđash >> Gms >> Gph
>> Ggt >> Gkt.
Các nhân tố cơ bản của sự sống (không khí, nước, đất ) có thể bị suy thoái. Vì vậy rừng
không thể là đối tượng tự do chỉ cho mục đích kinh doanh thuần tuý. Rừng phải có hai
thành phần sở hữu: một là sở hữu riêng (chủ kinh doanh) lấy lâm sản làm lợi ích chính. Hai
là sở hữu chung (công cộng) thụ hưởng các chức năng phi vật chất của rừng. Chủ sở hữu
của rừng đồng thời là các nhà quản lý (thay mặt cho toàn dân=người kinh doanh các lợi ích
phi vật chất của rừng) và chủ rừng (người được giao quyền sử dụng rừng người kinh doanh
các lợi ích kinh tế của rừng). Cần phải có những nghiên cứu dể xây dựng các phương pháp
lượng hoá được các giá trị phi vật chất của rừng.
- Chức năng bảo vệ đa dạng loài và các hệ sinh thái rừng cho đến nay chưa được ghi nhận
trực tiếp trong luật phát triển rừng. Nó phải được trở thành không chỉ là một bộ phận mà là
bộ phận cơ bản của luật phát triển bảo vệ rừng, trong tương lai, khái niệm rừng và các mục
đích của nó phải được định nghĩa mới: rừng là một hệ sinh thái với các điều kiện lập địa
trong thế cân bằng động, trên cơ sở của một quẩn hệ thực vật: (i) có độ tán che ít nhất 30%
(ii) trong mỗi thành phần của hệ mỗi loài có quyền riêng chiếm lĩnh một không gian để tồn
tại và sinh sản bảo vệ đa dạng hệ sinh thái, (iii) rừng phải được giữ ở một tỷ lệ tối thiểu cần
thiết cho qui mô toàn cầu quốc gia và từng vùng (40-60%), (iv) việc sử dụng trực tiếp rừng
cho mục đích sản xuất, du lịch, nghỉ ngơi chỉ được phép thực hiện trong khuôn khổ của
cơ chế tự điều chỉnh của hệ sinh thái sử dụng bền vững.
- Các giá trị phi vật chất của rừng cho đến nay vẫn chưa được xác định giá trị, do đó giá trị
tổng thể của rừng được đánh giá thấp hơn giá trị thật của nó. Các chủ rừng đã không được
trả cho các dịch vụ phi vật chất của rừng mà nhiều người thụ hưởng. Cần phải nghiên cứu
các phương pháp xác định các giá trị môi trường, phòng hộ của rừng thông qua các chi
phí trực tiếp để quản lý các khu rừng đó; những chính sách điều chỉnh thích hợp để những
người sử dụng các giá trị của rừng trả cho chủ rừng. Ví dụ các công ty kinh doanh thuỷ lợi,
thuỷ điện phải trả cho các ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn để họ bảo toàn tác dụng
điều tiết, giữ nước cho các công trình đó.