Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad - Pdf 14

1
PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học đã trải qua hàng triệu năm phát triển và đạt
được những thành tựu to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của
đời sống xã hội loài người. Dù triết học phương Tây và
phương Đông ra đời gần như cùng thời điểm (khoảng thế từ
thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước công nguyên) nhưng giữa
chúng có những điểm khác biệt căn bản. Những điểm khác
biệt này bắt nguồn từ những điều kiện tự nhiên, điều kiện
lịch sử, văn hóa, xã hội từ sự khác nhau về quan niệm
sống, cách sống của nguời phương Đông và phương Tây.
Nhìn vào lịch sử phát triển của nền triết học phương
Tây và phương Đông ta có thể nhận thấy được sự đối nghịch
đó. Triết học phương Tây được xây dựng chủ yếu bởi các nhà
khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học đặc biệt là
khoa học tự nhiên.Các nhà triết học phương tây thiên về
giải thích thế giới bằng nhiều cách lý giải khác nhau thể
hiện trong tư duy phản biện của họ. Cho nên, vấn đề khởi
nguyên đã trở thành vấn đề căn bản trong triết học tự nhiên
của họ để trả lời cho “câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và
quay về đâu?”, “bản tính của thế giới là gì?” cho thấy rõ nổ
lực của các triết gia mong muốn vượt qua ảnh hưởng của
thế giới quan thần thoại đem đến lời giải đáp nghiêm túc về
tất cả những gì đang diễn ra xung quanh và tác động trực
tiếp lên đời sống con người”
1
. Nghiên cứu vấn đề đó họ đã
tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể, chúa
1 Triết học Hy Lạp cổ đại, PTS. Đinh Ngọc Thạch, Nxb Chính Trị Quốc Gia Hà Nội -
1999
2

Hội tụ trong Upanishad là cả một dòng tư tưởng sâu
sắc và hàm súc nhất, nó vạch ra những tư tưởng mà từ đó
bản thân những ai muốn tiếp thu, tìm hiểu về triết học Ấn
Độ ở thời kì này đều phải cung kính như nó là tất cả những
gì mà chân lý vĩnh hằng đã bao chứa trong đó. Áo nghĩa thư
(tên Việt hóa của Upanishad) được xem là nền tảng của
toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ, nó không những là thành
tựu kì vĩ của riêng người dân Ấn mà hơn thế nó còn là một
trong những tinh hoa của minh triết phương Đông, cũng như
lớn hơn, nó được xem như một bông hoa rực rỡ nhất giữa
đại ngàn núi rừng tư tưởng triết học tâm linh nhân loại.
Việt Nam với những điều kiện địa lý, lịch sử được biết
đến như là nơi giao lưu, tiếp biến của hai luồng văn hóa
Đông – Tây, chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung hoa
và Ấn Độ. Trong đó Ấn Độ với tư tưởng triết lý nhân sinh đạo
đức, đặc biệt là Phật giáo đã ghi dấu ấn vào nền văn hóa
tinh thần của người Việt và trở thành những giá trị văn hóa
tinh thần quí báu của nhân dân với đặc trưng xem trọng đời
sống tâm linh, truyền thống đạo đức ngàn đời.
Với mục tiêu phát triển xã hội Đảng và nhà nước ta
khẳng định: kiên định về đường lối chính trị của Đảng Cộng
Sản Việt Nam xây dựng đất nước ta theo mục tiêu: Dân
4
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước
đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Nhưng nói thế nào đi nữa mục đích
chung của toàn thể nhân loại và mỗi quốc gia đều muốn
hướng đến cuối cùng là vì sự phát triển của chính đời sống
con người, hạnh phúc cho con người. Do vậy, nhân tố con
người là nhân tố cần được quan tâm hàng đầu. Như đã đề
cập, triết học Ấn Độ nói riêng và triết học phương Đông nói

sự gặp gỡ tất yếu, lần đầu tiên ở Hy Lạp, Trung Hoa và Ấn
Độ, con người đồng thời từ bỏ vương quốc của thần thoại,
tôn giáo nguyên thủy để tiến bước sang vương quốc của tư
duy triết học, chuyển từ việc nghiên cứu giới tự nhiên sang
tìm hiểu chính cuộc sống và thế giới nội tâm con người, với
những nhà triết học lớn cùng xuất hiện, đặt cột mốc cho
bước ngoặt lich sử ấy là Socrate, Platon, Aristote ở Hy Lạp;
Khổng Tử, Lão Tử ở Trung Hoa; các tác giả Upanishad và
Phật Thích Ca ở Ấn Độ”
2
.
Ở phương Tây, sự xuất hiện của Socrates như là một
minh thị cho bước hồi quy mang tính đột phá về tư tưởng
mà người ta thường nhắc đến như một dấu son cho nền triết
học phương Tây – “bước ngoặt Socrates” chuyển từ triết học
2 Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ, Nhà xuất bản chính trị Quốc
gia, 1997, tr.110 – 111.
6
tự nhiên sang triết lý học đạo đức, từ nguyên lý vũ trụ sang
nguyên lý nhân sinh. Ciceron cho rằng Socrates đã đưa triết
học từ trên trời xuống dưới đất. Ở Socrates triết học được
quy về đạo đức học duy lý. Sự đột phá về tư tưởng ở chỗ
dốc toàn bộ ham muốn nhận thức của con người và đặc biệt
là những nhà triết học trong việc hướng đến giải quyết các
câu hỏi về bản nguyên, nguyên nhân đầu tiên cũng như
nguồn gốc mọi vật trên thế giới, vũ trụ quay trở lại với vấn
đề nhân sinh. Với quan điểm trên khía cạnh nhận thức luận
Socrates tuyên bố “Con người hãy tự nhận tức chính mình”
ông cho rằng con người chỉ có thể nhận biết những gì nằm
trong quyền hạn mình, tức linh hồn. Điều đó đã đưa triết

tục kế thừa tư tưởng chủ yếu của kinh Veda và Upanishad.
Upanishad là công trình sáng tác tập thể chứ không
do một cá nhân hay môn phái nào mà chủ yếu là xuất phát
từ các bài giảng của các đạo sĩ giảng giải về câu chữ trong
kinh Veda cho các môn đồ. Cuộc đời các đạo sĩ – tác giả của
Upanishad không được ghi chép. Người ta chỉ biết được tên
một số đạo sĩ nổi tiếng ghi trong văn bản như Aruni,
Yajnavalkya, Uddalaki, Svetaketu, Sandilya, Balaki. Đó là
những bậc thấu thị (rishi) hiểu biết sâu rộng đã đắc đạo.
Chính vì vậy, lúc đầu các Upanishad chủ yếu là hình thức
truyền khẩu về sau các đạo sĩ thu thập các bài giảng lại và
in thành sách mang tên Upanishad.
1.2 Ý nghĩa Upanishad
8
Danh từ Upanishad có nghĩa gốc khi mới ra đời là “thị
tọa” là “cận tọa” có nghĩa là “những lời cao đẹp của giới
quyền quý”. Nhưng về sau, nghĩa Upanishad có nhiều lần
thay đổi chuyển sang:
Upanishad: là bí mật hội tọa, cùng họp giảng thuyết
lẽ cao siêu bí mật.
Upanishad: là bí mật ý nghĩa.
Upanishad: là bí thuyết, thuyết minh những lẽ bí mật.
Upanishad: là bí giáo, giảng dạy những lẽ bí mật.
“Và đến lần chuyển nghĩa cuối cùng là: khoa biên
chép, ghi chú và giải thích các điều huyền bí về tôn giáo”.
4
“Theo nguyên ngữ, Upanishad có nghĩa là ngồi (Sad)
gần (upa) một cách cung kính (ni). Từ ngữ ấy diễn tả thái độ
cung kính học tập của các môn sinh quây quần bên cạnh sư
phụ để đón nhận lời giảng dạy. Các bậc sư phụ này truyền

quan hay Thượng đế thì thực nghiệm mới thành tựu được.
Đó là mặc khải. Upanishad đã mô tả sự mặc khải như hơi
thở của Thượng đế thổi vào nhân loại. “Đây là hơi thở của
Đấng tối cao, đây là Rig-Veda”.
8
5 Lê Xuân Khoa, Nhập môn triết học Ấn Độ, Bộ xuất bản Giáo Dục Quốc gia, 1965,
tr.126 - 127
6
6,7
Lê Xuân Khoa,Nhập môn triết học Ấn Độ, Bộ xuất bản Giáo Dục Quốc gia,
1965,tr.128
7
8 Lê Xuân Khoa,Sđd-tr.128
10
1.3. Cấu tạo của Upanishad
Upanishad gồm tới 200 bài kinh, hiện nay người ta còn
giữ được 108 bản kinh. Trong đó, người ta cho 13 kinh đầu
là cổ và đặc biệt nhất. Mười ba kinh ấy là:
1. Aitareya Upanishad gốc Rig Veda;
2. Brihad âranyaka Upanishad gốc ở Yajur – Veda;
3. Chhaandogya Upanishad bắt nguồn từ Sâma –
Veda;
4. Is′a Upanishad gốc ở Yajur – Veda;
5. Katha Upanishad gốc ở Yajur – Veda;
6. Kena Upanishad gốc ở Sàma – Veda;
7. Mândukya Upanishad gốc ở Atharva – Veda;
8. Mundaka Upanishad gốc ở Atharva – Veda;
9. Pras′ana Upanishad gốc ở Atharva – Veda;
10. Taitiriya Upanishad gốc ở Yajur – Veda;
11. Kaushitaki Upanishad gốc ở Rig – Veda;

Vì kinh Upanishad xuất phát từ kinh Veda nên có thể
trình bày mối quan hệ giữa kết cấu của kinh Veda với kinh
Upanishad như sau:
Samhita
s
Brahmana Aranyaka Upanishad
Rig- 1. Aitareya 1. Aitareya 1. Aitareya
9 Doãn Chính, Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – sự
thật, Hà Nội 2011, tr.87,88
12
Veda 2. Kaushitaki 2. Kaushitaki 2. Kaushitaki
Sâma –
Veda
1. Tangyamad
a
2. Sadvinsa
3. Jaiminiya
1. Jaiminiya 1. Chhâdogy
a
2. Kena
Trắng
Yajur –
Veda
Đen
1. Sataptha 1. Brihad –
Âranyaka
2. Is′a
1. Taitiriya 1. Taitiriya 1. Taitiriya
2. Katha
3. Maitri

nhất của nhân loại Upanishad được triết gia Schopenhauer
nhận định: “Những tư tưởng thâm thúy, thăng hoa
toát ra từ mỗi câu văn và toàn thể pho kinh đều thấm đượm
một tinh thần thánh thiện, cao siêu và thành khẩn. Khắp thế
giới không có gì lợi ích nâng cao tâm hồn con người bằng
các Upanishad. Nó đã an ủi đời sống của tôi khi tôi chết
11
”.
Trong khi các kinh Veda thiên về con đường thờ phụng, sự
cầu xin phù hộ và ban phước lành của các đấng thần linh,
biểu thị cho sức mạnh của thiên nhiên được nhân hình hóa,
10 Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn Độ, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh,
1967, tr.71
11 Will Durant, Lịch sử văn minh Ấn Độ, Sđd, tr. 75
14
hoặc tìm cách thể nhập với dấng tối cao của vũ trụ, thì các
kinh Upanishad chú trọng về tri thức tuyệt đối, bản chất đời
sống tâm linh và giải thoát. Cả ba đối tượng ấy thực ra chỉ
là một, vì Upanishad quan niệm rằng Biết tức là Giải thoát,
mà muốn Biết, con người cần phải thực nghiệm tâm linh,
tức là sống một cuộc đời thoát tục và thiền định.
“Upanishad cổ được so sánh như tác phẩm của Homère mà
đồng thời cũng mới như học thuyết của I. Kant.”
12
Bản chất của Thực tại tuyệt đối là một thế lực vô giới
hạn không thể định tính đầy đủ được. Chỉ biết thực tại ấy
duy nhất và chủ quan, do đó có thể tạm mệnh danh là Ngã.
Do ý muốn riêng của mình, Ngã sáng tạo ra Chất và Năng
tức là hai Nguyên lý Âm, Dương. Chất và Năng hòa hợp tạo
thành muôn loài trong vũ trụ. Kinh Brihad âranyaka

Thế nhưng hoạt động được nói đến ở đây chính là “hoạt
động vô cầu” chứ không phải là những hoạt động tầm
thường mang tính vụ lợi vật chất hay tinh thần. Mấu chốt
của “hành động vô cầu” là “làm việc thế gian, dù là làm bổn
phận hay hưởng thụ, nếu có tính cách hồn nhiên, không tự
tư tự lợi, không quyến luyến đam mê thì đó chính là những
hành động vô cầu. Quan niệm ấy diễn tả đúng như tư tưởng
“Vô vi nhi bất vô vi” trong Đạo giáo, hoặc như “Phật pháp
bất ly thế gian pháp” trong Phật giáo Thiền tông”
16
.
14 Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 133
15
15,16
Lê Xuân Khoa, Sđd, tr.137
16
16
Những người đi tìm chân lý có thể được giác ngộ bằng
hai con đường khác nhau: con đường tri thức của những
người suy tưởng và con đường hành động vô tư của những
người hoạt động.Tri thức ở đây tức là tri thức về Brahman
(Brahma-vidyâ), Thực tại tuyệt đối. Shvetâshvatara
Upanishad nói: “ Những ai biết được Ngài (Brahman) sẽ trỏ
thành bất tử. “Chỉ có trực giác là một cảm ứng trực tiếp với
Thiêng liêng, thực hiện sự đồng nhất giữa tiểu ngã (âtman)
và đại ngã (brahman) mới là cái Biết thật sự, giải thoát con
người ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Như thế, cái Biết thực
sự này còn khác với những tri thức do trí tuệ tư duy và giác
quan ở chỗ không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách
thể, giữa năng tri và sở tri. Chính óc phân biệt là nguồn gốc

là lời giải đáp cho câu hỏi “Cái gì là thực tại đầu tiên tối cao
duy nhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được
nó, người ta sẽ biết được cả vũ trụ”
18
và có thể giải thoát
được linh hồn con người khỏi nỗi khổ của cuộc đời?
Brahman có nghĩa là cái toàn tri, toàn năng, là nguyên
lý cấu tạo nên và chi phối vũ trụ, là nguyên nhân của hết
thảy sự sống. Nó là “cái do đó mọi vật sinh ra, cái nhờ đó
18 Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà
Nội – 2012, tr.62
18
mọi vật sinh trưởng, cái trong đó mọi vật nhập vào sau khi
tiêu tan, cái đó chính là Brahman”
19
.
“Brahman xuất phát từ căn tự “brah” có nghĩa là “vươn
lên”
20
, phát triển, tiến hóa, ý nói đến một thực tại tuyệt đối
tối cao vĩnh hằng và bất diệt. Giống như Shankara bảo
Brahman là “tinh khiết, hằng cửu”. Madhva lại bảo Brahman
là một Đấng toàn thiện. Trong cuốn Mundaka
Upanishad viết rằng: Om- Brahman tối cao là vô cùng, và
điều kiện gọi là Brahman là vô cùng. Sự vô cùng phát sinh
từ cõi vô cùng. Sau đó thông qua kiến thức, nhận ra được sự
vô hạn của cõi vô cùng, nó vẫn là cõi vô cùng duy nhất.
Trong Rig-Veda, Brahman là lời cầu nguyện linh thiêng,
nối tiếp kẻ cầu nguyện với Đấng tối cao. Trong cú nghĩa
(brâhmana), Brahman trở thành cái nguyên lý tối sơ và cai

Chhândogya Upanishad: “Đầu tiên, nguyên thủy chỉ có một
thực tại duy nhất không hai. Cái nguyên thủy, đầu tiên là
cái không tồn tại, là duy nhất chỉ duy nhất, không hai, và từ
cái không tồn tại đó, tồn tại được sinh ra”
21
. Cụ thể
“Chhândogya còn miêu tả một cách khó hiểu là “Tajjalàn” –
là (tat), mà từ đó thế giới sinh ra (ja), là nơi mà thế giới
quay về (la) và nhờ đó mà Brahman được xác nhận và tồn
21 The Upanishad, Vol 4, “Chhândogya Upanishad VI”, 2,1Bonanza Books, New York,
1959, p.294
20
tại”
22
. Trong Taittiriya, Brahman được định nghĩa là nơi vạn
vật sinh ra, nhờ đó mà vạn vật tồn tại và nơi mà vạn vật
được hút lại. “Tồn tại chân lý là Brahman tối cao, còn gọi là
“Tồn tại vĩnh hằng”, không sinh, không diệt, vừa xuyên suốt
lại vừa nằm ngoài giới hạn của thế giới đó (“gọi là ngoài giới
hạn bởi vì thao thực chất bí ẩn mà nói nó không bao giờ
xuất hiện”
23
Brahman được ví như nguồn sáng của mọi ánh sáng và
nó có mặt ở khắp mọi nơi, “Brahman là cái ở đằng trước,
Brahman là cái ở đằng sau, Brahman là cái ở đằng sau,
Brahman là cái ở bên phải, Brahman là cái ở bên trái,
Brahman ở chót vót trên caovaf ở tận cùng đáy sâu.
Brahman là cái vĩ đại nhất”
24
. Brahman không có một hình

không thể tư duy được bằng trí tuệ tức người ta không thể
lấy “phàm thức” mà tưởng nghĩ được, nhưng nhờ Ngài mà
trí tuệ tư duy, chính đấng ấy mới là Brahman chứ không
phải là đấng mà người ta thờ phụng ở cõi đời này. Đấng mà
con mắt không thể trông thấy được nhưng nhờ Ngài mà mắt
trông thấy mọi vật, chính đấng ấy mới là Brahman chứ
không phải là đấng mà người ta thờ phụng ở cõi đời này.
Đấng mà tai không thể nghe thấy được, nhưng nhờ Ngài
mà tai nghe được mọi sự, chính đấng ấy mới là Brahman
chứ không phải là đấng mà người ta thờ phụng ở cõi đời
này.
Đấng mà không thể thở được bởi đời sống, nhưng nhờ
Ngài mà đời sống biết hít thở sinh khí, chính đấng ấy mới là
Brahman chứ không phải là đấng mà người ta thờ phụng ở
cõi đời này.
26Doãn Chính, Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Sđd,tr.168
22
“Nguyên lý sáng tạo không phải là vật chất và không thể
tìm thấy trong vật chất. Nguyên lý ấy là brahman siêu việt
và tự tại”
27

Brahman là “Tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối tối
cao”, là linh hồn của thế giới, là nguồn sống của tất cả. “Từ
người đã sinh ra tất cả pràma, trí tuệ và các cơ quan cảm
giác, tinh khí àkàsá, không khí, lửa, nước, và đất, cái nuôi
dưỡng tất cả”. “Không có gì lâu đời và rực rỡ hơn Brahman”.
“Nó là bản chất nội tại của tất cả, là căn nguyên của tất cả
nhưng không phải là một cái gì đó cụ thể cảm tính, nhưng
cũng không phải là cái gì đó tuyệt đối hư vô. Mọi sự vật,


“Mândùkya Upanishad có nói tới một phương pháp
thực hiện Brahman được coi là minh bạch và chân xác nhất.
Theo phương pháp ấy, brahman có thể được thực hiện ở
trong bốn trạng thái (avasthâ): thức (jâgrat hay vishva),
mộng (svapna hay taijasa), ngủ say không mộng ( sushupti
hay prâjna) và ý thức tâm linh ( turiya) chân như, bất biến.
Trong trạng thái Thức, tự ngã thể hiện qua những đối tượng
bên ngoài, của giác quan và có những sự hưởng thụ thấp
kém; trong trạng thái Mộng, tự ngã thể hiện trong một thế
giới ảnh tượng và có sự thực nghiệm tế nhị; trong trạng thái
Ngủ say không mộng, tự ngã trở nên thuần nhất, không
phân biệt khách thể và chủ thể, chỉ có sự yên vui, thanh
thản. Trong trạng thái này, tinh thần vượt ra khỏi các ảnh
tượng ý niệm và dục vọng, tạm thời đồng nhất với brahman
toàn phúc. Tuy nhiên, Mândùkya Upanishad vẫn chưa thỏa
29 Lê Xuân Khoa,Sđd, tr.153,154
30 Lê Xuân Khoa,Sđd, tr.156
24
mãn với trạng thái này vì giấc ngủ say vẫn có thể bị ngộ
nhận như một trạng thái vô thức tuyệt đối. Bởi thế mới có
trình bày thêm trạng thái thứ tư là trạng thái ý thức trực
giác thuần túy (turiya), hoàn toàn vượt ra khỏi thế giới ảnh
tượng và ý niệm lưỡng nguyên, thực sự đồng nhất chủ thể
(âtman) và khách thể (brahman). Trong giấc ngủ say, tinh
thần trú ngụ ở một nơi cách biệt hẳn đời sống biến đổi của
giác quan và đồng nhất với thực tại brahman. Nhưng trạng
thái ấy mới chỉ diễn tả được phương diện tiêu cực của giải
thoát. Phải đợi đến trạng thái turiya mới thấy thể hiện được
khía cạnh tích cực của giải thoát, thể hiện được cái tính

thần linh trong các tác phẩm sử thi, thần giáo Ấn càng ngày
càng phổ biến và được nhiều người chấp nhận, ngay cả các
học giả và các triết gia cũng vậy, họ bắt đầu đưa ra những
31 Lê Xuân Khoa,Sđd, tr.156,159

Trích đoạn Thích Mãn Giác, Sđd, tr Theodore M Ludwig, Những con đường tâm linh phương Đông, Sđd, tr Doãn Chính, Lịch sử triết học phương Đông, Sđd tr.101- Lê Xuân Khoa, Sđd,139- Doãn Chính,Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Sđd, tr.105
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status