Kỹ thuật xử lý bảo quản tre theo phương pháp thay thế nhựa
Nguyễn Thị Bích ngọc
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
ở Việt Nam, tre là nguồn tài nguyên phong phú, phân bố rộng rãi ở nhiều vùng
trong cả nước. Nhu cầu về tre làm nhà cửa tại các vùng nông thôn nước ta rất lớn.
Nguyên liệu tre để xây dựng nhà được sử dụng ở hai dạng chính: Dạng nguyên
ống làm các bộ phận chịu lực như các loại xà, cột; Dạng chẻ thanh để làm giàn
mái, vách ngăn che, sàn nhà và các chi tiết nhỏ khác. Tre trước khi đưa vào sử
dụng hầu như không được xử lý bảo quản bằng hoá chất; nếu các gia đình không
gần nguồn nước để ngâm tre thì thường chỉ phơi khô tre. Một ngôi nhà được xây
dựng như vậy chỉ sau 2-3 năm lại phải sửa chữa, thay thế do bị sinh vật phá huỷ,
gây khó khăn về tài chính cho người dân và lãng phí tài nguyên. Xuất phát từ thực
tế trên, đòi hỏi có các phương pháp bảo quản tre bằng hoá chất với yêu cầu kỹ
thuật và trang thiết bị đơn giản, để các hộ dân dễ áp dụng. Đáp ứng được yêu cầu
trên, sẽ góp phần tiết kiệm một lượng tre lớn tiêu thụ hàng năm dùng trong xây
dựng.
Bảo quản tre bằng hoá chất đã được Phòng Nghiên cứu Bảo quản lâm sản quan
tâm nghiên cứu. Để bảo quản tre còn tươi, phương pháp tẩm thay thế nhựa đã
được cải tiến phù hợp với cấu tạo tre. Các giải pháp kỹ thuật đặt ra nhằm lợi dụng
độ rỗng của lóng tre chứa dung dịch thuốc bảo quản, thuốc tự thấm vào tre mà
không yêu cầu bất kỳ trang thiết bị kèm theo. Điều kiện quan trọng để tẩm tre có
hiệu quả là độ ẩm tre cao. Các công trình nghiên cứu trước mới đề cập về khả
năng thấm thuốc của tre ngay sau chặt hạ từ 1- 2 ngày. Vấn đề cần tiếp tục giải
quyết là nghiên cứu ảnh hưởng của độ dài tre tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo
quản và xác định ngưỡng độ ẩm tre cần thiết để tẩm tre đạt hiệu quả. Kết quả đạt
được sẽ góp phần hoàn thiện kỹ thuật xử lý bảo quản tre đơn giản này.
I. Phương pháp nghiên cứu
1. Nguyên liệu thí nghiệm
-Tre luồng ( Dendrocalamus membranaceus Munro )
C là nồng độ dung dịch thuốc (%).
m
3
là lượng thuốc bột hao phí đã chảy ra cùng nhựa cây [gr].
* Thời gian tẩm: tính từ khi đổ thuốc đến khi dịch chảy ra ở đầu dưới của ống tre
có nồng độ thuốc và màu thuốc gần giống với dung dịch thuốc ban đầu.
II. Kết quả nghiên cứu
1. ảnh hưởng của độ dài tre tẩm
Bảng 1. Khả năng thấm thuốc phụ thuộc vào độ dài tre tẩm
Khả năng thấm thuốc bảo quản của tre
Tre gai Luồng
Độ dài tre
(m)
Lượng thuốc
thấm
( gr )
Thời gian tẩm
( giờ )
Lượng thuốc thấm
( gr )
Thời gian tẩm
( giờ )
1 19.64 9.(3/10) 15.92 11.(1/2)
3 49.80 34 43.69 39.(9/10)
5 82.36 55.(1/10) 74.24 62.(1/5)
Kết quả tẩm tre có độ dài khác nhau tại bảng 1 cho thấy khi độ dài tre tẩm tăng thì
lượng thuốc thấm và thời gian tẩm tăng lên. Quá trình quan sát thí nghiệm cho
thấy các mẫu lấy ở phần ngọn và phần giữa của thân tre luôn đạt tốc độ thấm cao
+ Luồng: Y
1
= 0.87 + 14.58 X (3)
Y
2
= - 0.16 + 12.67 X (4)
Các phương trình (1), (2), (3), (4) thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa lượng
thuốc thấm, thời gian tẩm (Y) với độ dài tre (X), hệ số tương quan R= 0.99. Khi
độ dài tre tăng thì lượng thuốc thấm và thời gian tẩm tăng lên. Kết quả thực
nghiệm cho thấy với phương pháp tẩm thay thế nhựa, tre gai đạt lượng thuốc thấm
cao hơn luồng và tốc độ thấm thuốc nhanh hơn luồng (thời gian tẩm ngắn hơn).
Về cơ chế thấm của phương pháp tẩm thay thế nhựa, các công trình nghiên cứu
trước ở Việt Nam mới dừng lại ở việc nhận xét rằng dung dịch thuốc có khả năng
thấm ngang thành tre sau khi ống tre chứa dung dịch thuốc bảo quản đã được làm
rách ruột lụa và dung dịch thuốc có thể thấm theo chiều từ gốc đến ngọn và từ
ngọn đến gốc.
Sau khi nghiên cứu cấu tạo giải phẫu của tre, chúng tôi cho rằng, quá trình thấm
thuốc của phương pháp tẩm thay thế nhựa ở tre khác với phương pháp tẩm
Boucherie ở gỗ bởi điểm sau: Phần ruột tre bao gồm một số ống mạch có kích
thước lớn phân bố trên nền các tế bào mô mềm, khi lớp ruột lụa và lớp tế bào cứng
hoá của ruột tre bị làm rách, dung dịch thuốc bảo quản chứa trong ống tiếp xúc
trực tiếp với vách các tế bào mô mềm. Do tre tẩm còn tươi, nhựa tre trong các ống
mạch đang ở dạng lỏng, nước tự do chiếm đầy trong các khoang rỗng của tế bào
nhu mô và giữa các tế bào. Dưới áp lực tĩnh của cột thuốc trong ống tre, dung dịch
thuốc dễ dàng đi qua các lỗ thông ngang trên vách các tế bào, vào các ống mạch
và tạo thành dòng chảy liên tục trong các ống mạch tre từ trên xuống. Mặt khác,
với độ ẩm tre rất lớn nên thuốc bảo quản cũng dễ dàng khuếch tán vào thành tre.
Do đó, tre tẩm theo phương pháp này có sự phân bố thuốc bảo quản tương đối
đồng đều trên tiết diện ngang của thành tre. Sau thời gian tẩm tre 1 tháng, để tre
tương đối khô, tiến hành kiểm tra độ thấm sâu của thuốc tại lóng đầu tiên chứa
(gr)
Thời gian
thấm (h)
Tốc
độ
thấm
(gr/h)
Đ
ộ ẩm
tre (%)
Lượng
thuốc
thấm
(gr)
Thời gian
thấm (h)
Tốc
độ
thấm
(gr/h)
Độ ẩm tre
(%)
Đánh
giá
2< t
£18
tốt. Sau đó, khi độ ẩm tre giảm xuống dưới 70% khả năng thấm thuốc của tre giảm
rõ rệt. Lúc này màu sắc lớp biểu bì tre không còn màu xanh tươi mà đã chuyển
sang màu tái. Đối với tre đã chặt được một tháng trở lên, độ ẩm giảm xuống dưới
50%, tre thấm thuốc rất khó khăn và sẽ không đảm bảo hiệu quả bảo quản. Để dễ
dàng so sánh về khả năng thấm thuốc của tre theo từng giai đoạn sau chặt hạ, trên
cơ sở lượng thuốc và thời gian thấm, chúng tôi tính tốc độ thấm thuốc trung bình
của tre gai và luồng. Kết quả tính toán cho thấy tốc độ thấm thuốc trung bình của
tre để từ 18- 30 ngày sau chặt hạ so với tốc độ thấm thuốc trung bình của tre để từ
2-18 ngày đã giảm khoảng 45%. Điều này cho thấy khả năng thấm thuốc của tre
khi tẩm theo phương pháp thay thế nhựa phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm tre.
Với kết quả nhận được cho phép kết luận khi độ ẩm tre W ³70% tre tẩm đảm bảo
hiệu quản bảo quản. Thời gian giữ tre sau chặt hạ để có thể tẩm theo phương pháp
thay thế nhựa không phải chỉ giới hạn trong vài ngày mà có thể kéo dài hơn. Nếu
tre sau chặt hạ được giữ không bị phơi nắng trực tiếp hoặc điều kiện độ ẩm không
khí cao tre sẽ lâu bị khô, khoảng thời gian để có thể tẩm tre sẽ tăng theo. Với quy
mô sử dụng tre tại gia đình, người ta có thể xử lý bảo quản tre ngay sau khi chặt
hạ. Nhưng với các cơ sở sử dụng tre ở quy mô lớn hơn thì tre trước khi đưa đến đã
có thời gian nằm lưu lại trên các kho bãi tương đối lâu. Căn cứ vào kết quả kiểm
tra độ ẩm hoặc màu sắc của biểu bì tre và lý lịch khai thác của tre nguyên liệu, có
thể đánh giá được mức độ tươi của tre để xử lý bảo quản theo phương pháp thay
thế nhựa.
III. Kết luận
- Tre tẩm theo phương pháp thay thế nhựa có lượng thuốc thấm và thời gian tẩm
phụ thuộc tuyến tính vào độ dài tre.
- Để quá trình thay thế nhựa đạt hiệu quả, tre cần có độ ẩm (W) ³70%.
- Tre gai có khả năng thấm thuốc tốt hơn luồng.
- Các phương trình (1), (2), (3), (4) là cơ sở để xây dựng quy trình tẩm tre tươi
theo phương pháp thay thế nhựa.
9. Singh B., Tewari M.C. (1980). Studies on the treatment of green bamboo by
steeping and sap displacement methods. J. Ind. Acad. Woodsci. 21(1), pp. 21-27.
10. Sonti V.R. ( 1988). A workable solution for preserving round bamboo with
ASCU ( CCA type salts). Bamboos current reasearch. Proceedings of the
International Bamboo Workshop held in Cochin India, pp. 207-208.