Nghiên cứu khoa học " Một số ý kiến đề xuất về công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý vùng đệm hiện nay ở Việt Nam" - Pdf 14

Một số ý kiến đề xuất về công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý vùng đệm hiện
nay ở Việt Nam
Võ Nguyên Huân
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
HIện nay ở Việt Nam có nhiều cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ hoặc một phần
nhiệm vụ quản lý rừng và đất lâm nghiệp trong vùng đệm, dẫn tới có sự chồng
chéo về nhiệm vụ và quyền hạn, gây nên sự lẫn lộn và không rõ ràng giữa tất cả
các bên liên quan. Bài báo này đề cập đến vấn đề cấp thiêt hiện nay là phải xây
dựng những tiêu chí để xác định và quy hoạch vùng đệm, cơ sở để xây dựng dự án
đầu tư vùng đệm và thiết lập Ban quản lý dự án để phối hợp hoạt động giữa các
bên liên quan trong công tác quản lý vùng đệm.
1. Những tiêu chí để xác định và quy hoạch vùng đệm.
Xây dựng vùng đệm nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã
hội. Một số vấn đề được đặt ra ở đây là: những khu bảo tồn nào thì cần xây dựng
vùng đệm? Nếu có vùng đệm thì vị trí vùng đệm ở đâu? Quy mô vùng đệm như
thế nào?…Đó là những tiêu chí để xác định và quy hoạch vùng đệm. Vấn đề này
chúng tôi có các khuyến nghị sau:
- Những KBT cần các dự án phát triển vùng đệm.
+ Tất cả các vườn quốc gia
+Những KBT chịu nhiều áp lực của dân số.
Theo khuyến nghị này thì những KBT không có hoặc ít có áp lực dân số, những
KBT mà quy mô diện tích quá nhỏ thì chưa cần có dự án phát triển vùng đệm.
- Ví trí vùng đệm: vùng đệm là vùng nằm ngoài liền kề KBT và bao quanh KBT.
- Ranh giới vùng đệm: có ranh giới phía bên trong và ranh giới phía bên ngoài
vùng đệm.
Ranh giới phía bên trong vùng đệm là ranh giới giữa KBT và vùng đất bao quanh
KBT.
Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với
vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT, ranh giới đó được xác định bởi các mốc
tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: vách núi, đường mòn, đường ôtô, đường
sắt, đường sông, các con suối, hồ chứa nước…

càng cao, thì việc tổ chức sản xuất lãnh thổ càng phức tạp, yêu cầu kết hợp giữa
ngành và lãnh thổ càng trở nên cấp thiết.
Sự kết hợp này làm cho việc bố trí phát triển của ngành phù hợp với yêu cầu phát
triển của vùng, tạo khả năng của vùng có thể tác động đến sự phát triển của ngành.
Nó không chỉ làm cho các ngành trong vùng kết hợp với nhau thành một tổng thể
sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, mà còn tạo điều kiện cho hoạt động
của các ngành chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp trong vùng.
Thực tế ở nhiều địa phương đã chỉ ra rằng nếu sự kết hợp giữa ngành và lãnh thổ
không thực hiện tốt thì không chỉ gây lãng phí trong sử dụng tài nguyên, đất đai,
hạn chế hiệu quả đầu tư, gây mất cân đối nghiêm trọng trong sản xuất và đời sống,
mà còn gây nên tình trạng trì trệ, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
trong vùng. Do đó, thực hiện tốt việc liên kết giữa ngành và lãnh thổ trong phân
công sản xuất (cân đối lãnh thổ), trong tổ chức đời sống dân cư là hết sức cần thiết
và là một tất yếu khách quan.
Sự kết hợp theo ngành và lãnh thổ trong quản lý KBT và vùng đệm là sự kết hợp
giữa các bên liên quan gồm chính quyền địa phương các cấp, ban quản lý KBT,
các lâm trường, trạm, trại lâm nghiệp….trong quản lý rừng và đất rừng. Tuy rằng
các bên liên quan có trách nhiệm và quyền hạn khác nhau, nhưng nếu họ hoạt
động riêng rẽ thì chắc chắn mục tiêu bảo tồn và phát triển sẽ không thể đạt được
một cách trọn vẹn, mà cần có mối quan hệ bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn
tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng.
Để có mối quan hệ hợp tác tốt trong việc quản lý KBT và vùng đệm, các bên liên
quan cần bàn bạc để xác định những vấn đề sau:
Phải xác định rõ ranh giới rừng và đất rừng thuộc quyền sử dụng của các thành
phần kinh tế khác nhau trong vùng đệm. Chủ rừng phải đăng ký với cơ quan quản
lý Nhà nước về rừng ở cấp hành chính thấp nhất.
Lập hồ sơ quản lý rừng và đất rừng rõ ràng, thống nhất.
Chủ rừng phải thực thi kế hoạch quản lý rừng bền vững.
Xác định rõ ràng chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên có liên quan.
Xác định rõ lợi ích của mỗi bên liên quan.

dân cư trong vùng đệm.
- Chính quyền địa phương chăm lo đảm bảo các nhiệm vụ quản lý xã hội, an ninh,
quốc phòng…trên địa bàn; đồng thời là chỗ dựa để các lâm trường, trạm, trại và
KBT quản lý, bảo vệ và sản xuất kinh doanh, không can thiệp trực tiếp vào sản
xuất kinh doanh của các đơn vị kể trên.
- Cần tăng cường năng lực quản lý rừng và đất lâm nghiệp của các cấp chính
quyền địa phương như quy định trong luật Bảo vệ và phát triển rừng và quyết định
245/1998/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ.
(2) Vai trò và trách nhiệm của Ban quản lý KBT:
- Ban quản lý KBT là tổ chức sự nghiệp kinh tế được Ngân sách Nhà nước cấp
kinh phí để hoạt động theo nhiệm vụ quản lý, bảo vệ phát triển rừng, quản lý rừng
theo quy chế rừng đặc dụng.
- Ban quản lý rừng đặc dụng có nhiệm vụ thực hiện các công tác lâm nghiệp theo
chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao và quản lý các khu rừng có nhiệm vụ phục vụ các
lợi ích xã hội là chủ yếu.
- Bản quản lý rừng đặc dụng cần xây dựng phương án quản lý, bảo vệ, phát triển
rừng đặc dụng đúng mục đích của nó. Phương án phải coi trọng nội dung tạo công
việc làm cho dân cư trên địa bàn, vì họ là thành viên không thể thiếu được trong
quá trình quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng.
- Ban quản lý rừng đặc dụng cùng với các lâm trường trong vùng đệm cung cấp
dịch vụ đầu vào và thực hiện các dịch vụ đầu ra cho các hộ thành viên, tổ chức
liên kết giữa các hộ thành viên với tổ chức cộng đồng làng bản, dòng họ để tiện
việc quản lý bảo vệ rừng được giao. Giúp dân xây dựng các mô hình vườn rừng,
trại rừng, hình thành các làng sinh thái trong vùng đệm.
(3) Vai trò và trách nhiệm của các lâm trường trong vùng đệm.
Lâm trường được Nhà nước giao cho 1 diện tích rừng và đất rừng nhất định, một
số vốn cố định và vốn lưu động để kinh doanh. Lâm trường phải sử dụng 3 yếu tố
rừng, lao động, tiền vốn để tổ chức sản xuất kinh doanh lâm nghiệp có hiệu quả và
bền vững.
- Các lâm trường quốc doanh phải coi các hộ nông dân sống trong địa bàn là các

cần được bảo tồn và bảo vệ.
+ Đã xác định được những vùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương để có cơ chế quản lý,
đầu tư thích hợp.
+ Đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của nhân dân vùng đệm.
- Cơ chế quản lý
Dự án đầu tư KBT và dự án đầu tư vùng đệm đều phải do 1 cơ quan xây dựng. Hai
dự án này được trình và phê duyệt cùng một lúc. Chính dự án phát triển kinh tế –
xã hội vùng đệm, nếu chỉ đầu tư xây dựng KBT mà không đầu tư xây dựng vùng
đệm thì kết quả khó đạt được như mong muốn.
Để thực hiện tốt dự án phát triển kinh tế – xã hội vùng đệm, nên thành lập Ban
điều hành và Ban quản lý dự án. Ban điều hành dự án bao gồm đại diện chính
quyền cấp cao nhất ở các địa phương có vùng đệm, đại diện các lâm trường trong
vùng đệm và đại diện Ban quản lý KBT. Ban quản lý kiêm nhiệm luôn nhiệm vụ
của Ban quản lý dự án đầu tư vùng đệm.
Ban quản lý dự án đầu tư vùng đệm chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban
điều hành dự án.
Ban quản lý KBT kiêm nhiệm vụ quản lý dự án đầu tư vùng đệm có nhiều thuận
lợi như:
- Tăng cường được quyền hạn và trách nhiệm của Ban quản lý KBT trong vùng
đệm.
- Có quan hệ chặt chẽ hơn với chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan và
cộng đồng dân cư trong vùng đệm.
- Tạo điều kiện để Ban quản lý KBT kiểm soát được việc sử dụng đa dạng sinh
học trong vùng đệm.
Giảm biên chế, tổ chức gọn nhẹ, không cồng kềnh, giảm kinh phí quản lý hành
chính.
Tất cả các chương trình, dự án của các ngành, các cấp trong nước và của các tổ
chức quốc tế có liên quan tới vùng đệm đều phải thông qua và có ý kiến của Ban
điều hành và Ban quản lý vùng đệm để điều phối các nguồn vốn đầu tư một cách
hợp lý. Tốt nhất nên tập trung các nguồn vốn đầu tư về một đầu mối (chẳng hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status