Tìm hiểu đặc tính sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài đước (Rhizophora apiculata)
Hoàng Văn Thơi
Trung tâm Nghiên cứu rừng ngập Minh HảI
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
I. Giới thiệu
Cây Đước đôi có tên khoa học là Rhizophora apiculata B.L, thuộc họ
Rhizophoraceae. Đước là loài cây phát triển nhanh, chịu được đất ngập nước theo
thuỷ triều lên xuống tại các vùng ven biển nhiệt đới. Do vùng ven biển đất mới bồi
và thường xuyên bị tác động bởi sóng biển, nên Đước đã hình thành hệ thống rễ
chống khá hoàn chỉnh đủ để giữ cho cây đứng vững. Đước có vị trí rất quan trọng
trong tập đoàn cây trồng phục hồi rừng ở các vùng ven biển. Nó cung cấp gỗ phục
vụ cho xây dựng, chất đốt phục vụ đời sống sinh hoạt cho cộng đồng cư dân địa
phương, cố định các bãi bồi, phòng chống gió bão, bảo vệ các công trình đê
biển Trong mấy năm gần đây, công tác phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng
ngập mặn được các nước trên thế giới rất coi trọng. Hàng năm hàng chục nghìn ha
RNM (mà chủ yếu là Đước) của các vùng ven biển trên thế giới được trồng mới
thông qua các chương trình đầu tư của chính phủ, các tổ chức quốc tế, đã đem lại
lợi ích to lớn cho cư dân sống ở các vùng ven biển.
1.1. Đặc điểm về thực vật
Đước đôi đã được nhiều tác giả trên thế giới mô tả, ở Việt Nam có tác giả như
Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Hoàng Trí (1996), Nguyễn Ngọc Bình (1998), Lê Công
Khanh (1988), Phan Nguyên Hồng (1997), Đặng Trung Tấn (1999).
Đước là loài cây thân gỗ cao từ 20-35m, đường kính thân cây (D
1,3m
) 30-45cm, có
khi tới 70cm (Hồng, 1997). ởmột số vùng đất cao, nghèo dinh dưỡng, không ngập
triều chúng thường có kích thước nhỏ hơn và tăng trưởng chậm hơn.
Rễ có đặc trưng điển hình cho thực vật sống trong vùng có thuỷ triều lên xuống,
thường xuyên bị tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất chưa ổn định. Rễ cọc ít
phát triển, chủ yếu là hệ thống rễ chống (Rễ chân nôm) gồm từ 8-12 rễ. Ngoài
, nhưng thích hợp nhất vào
khoảng 25-30
0
/
00
. Theo Fiel (1984) cây điều tiết cân bằng muối bằng cách cản
muối ở rễ, tiết muối qua tuyến tiết muối trên lá và cành non.
ảnhhưởng của địa hình: độ ngập triều trung bình từ 100-300 ngày/năm thích hợp
cho sự sinh trưởng của Đước, độ ngập triều thấp như: bãi bồi ven biển , vùng trũng
nội địa thời gian ngập trên 300 ngày/năm và độ ngập triều cao dưới 100
ngày/năm không thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước.
1.3.Phân bố
Đước phân bố tương đối rộng lớn ở các vùng ven biển nhiệt đới có khí hậu nóng
ẩm như vùng Malaisia, Indonesia, Banglades, Thailand, Philipinne, PapuaNew
Guinea, Queenland
ởViệt Nam, Đước phân bố từ ven biển miền Trung đến Cà Mau, Kiên Giang.
Đước có thể phân bố thành các quần thụ tập trung có diện tích rộng lớn, tạo kiểu
rừng thuần loài, chủ yếu ở Cà Mau, Cần Giờ, Bến Tre , cũng có thể kết hợp với
một số loài cây rừng ngập mặn khác, tạo ra các quần xã thực vật rất phong phú
như quần xã hỗn giao Đước-Mắm trắng, quần xã Đước-Vẹt dù, quần xã Đước-Dừa
nước, quần xã hỗn giao Giá-Đước, quần xã hỗn giao Dà-Đước
1.4.Tình hình sinh trưởng và sinh khối
Trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu về sinh trưởng và sinh khối rừng
Đước như Barry Clough (1996), Ong (1985), Putz & Chan (1986).
ở Việt Namtăng trưởng và sinh khối rừng Đước, đã được một số tác giả nghiên
cứu
· Về tăng trưởng:
Tăng trưởng đường kính 0,75cm/năm, tăng trưởng chiều cao 0,85cm/năm ở Ngọc
Hiển, Cà Mau (Hồng & Trí, 1983); tại Cần Giờ là 0.46-0,81 cm/năm về đường
kính là 0,45-0,76 m/năm về chiều cao (Nam, 1996); 0,43-0,76cm/năm về đường
89,01
118,21
138,98
139,98
5,93
12,44
10,57
9,07
6,98
Theo Đặng Trung Tấn & cs (2000) nghiên cứu tổng sinh khối và lượng tăng sinh
khối theo tuổi tại Cà Mau, Bạc Liêu, như sau:
Tuổi Tổng sinh khối
(tấn/ha)
Lượng tăng sinh khối
(tấn/ha,năm)
4
8
12
16
21
41.895,8
110.736,7
170.124,8
212.261,3
252.091,2
19.558,2
12.744,5
9.452,9
7.146,2
Các kết quả nghiên cứu có sự khác biệt giữa các tác giả, có lẽ do địa bàn nghiên
dàng quản lý nước ra vào vuông tôm, thuận lợi cho công tác chăm sóc và quản lý
bảo vệ rừng.
· Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ 60-70%, diện tích kênh bờ nuôi tôm từ 30-40%.
· Hệ thống kênh mương nuôi tôm:
- Kênh bao thi công bằng cơ giới hoặc bằng thủ công rộng 4-8m, sâu từ 1-1,5m,
bờ bao phía ngoài tạo ra một khuông hộ khép kín.
- Kênh bên trong hay kênh ruột thường nhỏ hơn, đào đắp bằng thủ công rộng từ
2,5-3,0m, sâu từ 1,0-1,2m. Hướng đào theo chiều dài của đầm, kênh cách kênh từ
20-40m.
- Để điều tiết nước cần thiết xây dựng hai cống, 1 cống lấy nước và một cống xả,
cống có kích thước dài 3-5m, rộng 1,0-1,5m, sâu 1,5m.
· Chăm sóc và kinh doanh rừng Đước:
- Rừng Đước trồng theo từng băng xen kẽ với các kênh.
- Mật độ trồng 10.000 cây/ha.
- Trong 3 năm đầu chăm sóc rừng chủ yếu là điều tiết nước, tra dặm cho đủ mật
độ, sau khi rừng khép tán từ 1-2 năm sau tiến hành dọn vệ sinh chặt tỉa bớt cành
nhánh, thân phụ.
- Tỉa thưa rừng lần thứ nhất vào năm thứ 8-10, chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị
chèn ép, sâu bệnh hoặc tỉa theo phương pháp cơ giới. Cường độ chặt tỉa từ 30-50%
số cây.
- Tỉa thưa rừng lần thứ hai vào năm thứ 14-16, chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị
chèn ép, sâu bệnh. Cường độ chặt tỉa từ 20-30% số cây.
- Khai thác rừng nên thực hiện vào năm thứ 20-22, chủ yếu là chặt trắng, hoặc
chừa khoảng 100 cây gieo giống.
· Nuôi tôm kết hợp: Bổ sung lượng tôm giống khoảng 5-10 con/m
2
.
- Thời gian nuôi khoảng 3-4 tháng.
- Thời vụ nuôi khoảng 2 vụ/năm.
- Cuối mỗi vụ sau khi thu hoạch phải tiến hành cải tạo đầm nuôi bằng biện pháp
- Rừng Đước trồng trên toàn bộ diện tích đã quy hoạch không phụ thuộc vào các
kênh bờ nuôi tôm.
- Mật độ trồng 10.000 cây/ha.
- Trong 3 năm đầu chăm sóc rừng chủ yếu là điều tiết nước, tra dặm cho đủ mật
độ, sau khi rừng khép tán từ 1-2 năm tiến hành dọn vệ sinh chặt tỉa bớt cành
nhánh, thân phụ.
- Tỉa thưa lần thứ nhất vào năm thứ 8-10, chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị chèn
ép, sâu bệnh. Hoặc tỉa theo phương pháp cơ giới. Cường độ tỉa từ 30-50% số cây.
- Tỉa thưa lần thứ hai vào năm thứ 14-16, chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị chèn
ép, sâu bệnh. Hoặc tỉa theo phương pháp cơ giới. Cường độ tỉa từ 20-30% số cây.
- Khai thác rừng nên thực hiện vào năm thứ 20-22, chủ yếu là chặt trắng, hoặc
chừa lại 100 cây gieo giống.
· Nuôi tôm: Lượng tôm giống khoảng 15-25con/m
2
.
- Sử dụng thức ăn hiện bán trên thị trường, hoặc thức ăn tự chế biến bằng các loại
cá tạp.
- Có thể sử dụng quạt nước để tạo oxy.
- Thời gian nuôi khoảng 3 tháng.
- Thời vụ nuôi 2 vụ/năm.
- Cuối mỗi vụ sau khi thu hoạch phải tiến hành cải tạo đầm nuôi bằng biện pháp
xén vét phù sa bồi lắng dưới đáy kênh, kết hợp bón vôi, phơi khô đáy ao.
Nhận xét:
Mô hình này tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật canh tác cao, áp dụng rộng rãi phụ thuộc
vào khả năng đầu tư và trình độ hiểu biết về kỹ thuật của hộ dân.
Môi trường bị xáo trộn, dễ gây ra quá trình ô nhiễm do sử dụng thức ăn và hoá
chất, chu trình vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái bị gián đoạn.
Lượng vật dụng như lá, cành, hoa không tác động nhiều đến quá trình nuôi tôm.
Năng suất nuôi cao và thời gian nuôi ngắn. Tuy nhiên, rủi ro gặp phải thường cao.
- Cuối mỗi vụ sau khi thu hoạch phải tiến hành cải tạo đầm nuôi bằng biện pháp
xén vét phù sa bồi lắng dưới đáy sông.
· Trồng hoa màu, cây ăn trái trên bờ vuông tôm
Hoa màu như khoai lang, rau đậu, khoai mì
Cây ăn trái như sabô chê, sơri, me được trồng trên các bờ vuông.
Nhận xét:
Mô hình này ít tốn kém, không đòi hỏi kỹ thuật canh tác cao, có thể áp dụng rộng
rãi.
Môi trường ít bị biến động, hạn chế được quá trình ô nhiễm, chống được xói mòn
và hiện tượng phèn hoá.
Có điều kiện chăm sóc và thâm canh rừng.
Lượng vật dụng như lá, cành, hoa gây tác động xấu đến môi trường nuôi tôm.
Tăng sản phẩm trên một đơn vị diện tích.
Trong các mô hình nêu trên tuỳ theo quy mô diện tích và điều kiện lập địa, điều
kiện vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật mà có thể chọn cho mình một mô hình thích
hợp.
II. Các giải pháp kỹ thuật áp dụng
3.1.Giống cây rừng.
· Chọn cây mẹ có tuổi từ 12-20 năm, sinh trưởng và phát triển tốt, không sâu bệnh,
không khuyết tật, phân cành cao, tán cân đối. Tốt nhất là thu giống ở lâm phần
rừng giống hoặc rừng giống chuyển hoá.
· Kỹ thuật thu hái, bảo quản
Quả Đước chín vào tháng 7-11, nhưng thời gian thu hái quả giống tốt nhất vào
tháng 7-9, quả giống phải còn nguyên vẹn, chưa đâm rễ, quả dài 20-25cm, trọng
lượng bình quân 0,25g/quả.
Khi thu hái xong cố gắng đem trồng ngay. Nếu chưa trồng được ngay, phải để quả
giống ngâm dưới nơi nước chảy có bóng mát, ở nơi khô phải thường xuyên tưới
nước ngày hai lần. Tuy nhiên, không nên giữ lâu quá 15 ngày.
3.2.Kỹ thuật trồng rừng
· Thời vụ trồng từ tháng 7-9.
bất thường
Loại đất Ia Ib Ic Id Ie
Số ngày ngập
Hàng ngày
300-340 100-300 <100 Rất ít
Tính chất đất
Bùn lỏng Bùn Bùn chặt-
sét
mềm
Sét cứng Đất rắn chắc
Kh
ả năng sinh
trưởng của
Đước
Không
thích hợp
ít thích h
ợp
Thích hợp ít thích
hợp
Không thích hợp
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Ngọc Bình, 1999, Trồng rừng ngập mặn. Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội 1999.
2. Phan Nguyên Hồng, 1997. Vai trò của RNM Việt Nam. Nhà xuất bản Nông