Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt bằng bể lọc hiếu khí sử dụng giá thể sơ dừa kết hợp hồ thủy sinh - Pdf 14

Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang chuyển mình hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, do đó quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển, và kết quả là kéo theo đô thị
hóa. Dân số tăng nhanh nên các khu dân cư tập trung dần được quy hoạch và hình
thành. Nước thải sinh hoạt là sản phẩm trong quá trình sinh hoạt của con người. Ô
nhiễm nguồn nước do tác động của nước thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc hiện
nay. Bên cạnh đó vấn đề xử lý nước thải trước khi thải ra sông rạch chưa được áp
dụng rộng rãi và hiệu quả. Hậu quả là nguồn nước mặt bị ô nhiễm và nguồn nước
ngầm cũng dần ô nhiễm theo, tình trạng ngập nước trên các tuyến đường, nước thải
chảy tràn lan qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch…ảnh hưởng đến cảnh quan môi
trường và cuộc sống của chúng ta. Việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn nước để
cung cấp cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất, đáp ứng nhu cầu hiện tại và thỏa
mãn nhu cầu của tương lai.
Hiện nay, việc quản lý nước thải trong đó có nước thải sinh hoạt là một vấn đề
cấp thiết của các nhà quản lý môi trường trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng. Vì vậy, cần có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt nhằm cải thiện
môi trường và phát triển theo hướng bền vững.
Với mong muốn môi trường sống ngày càng được nâng cao, vần đề quản lý nước
thải sinh hoạt ngày càng chặt chẽ hơn phù hợp với sự phát triển tất yếu của xã hội và
cải thiện được nguồn nước đang bị suy thoái nên đề tài: “ Nghiên cứu hiệu quả xử lý
nước thải sinh hoạt bằng phương pháp lọc hiếu khí sử dụng xơ dừa làm giá thể kết
hợp hồ thủy sinh” được hình thành
1.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 05/04/2010 đến ngày 28/06/2010.
Tìm hiểu thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt để từ đó đưa ra phương
pháp xử lý hiệu quả nhất.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn

1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp luận
Thành phần chính của nước thải sinh hoạt chứa một lượng lớn các chất hữu cơ
dễ bị phân hủy (hydratcacbon, protein, chất béo), các chất vô cơ dinh dưỡng
(phốtphat, nitơ), cùng với vi khuẩn (có thể cả VSV gây bệnh), trứng giun, sán.v.v…
Nếu không được xử lý trước khi thải bỏ thì khả năng gây ô nhiễm môi trường là rất
lớn.
1.5.2 Phương pháp cụ thể
Đề tài đã sử dụng những phương pháp sau:
 Phương pháp thực tế: Thu thập, xử lý và tổng hợp các tài liệu cần thiết có liên
quan đến đề tài.
 Phương pháp kế thừa: Trong quá trình thực hiện đã tham khảo các đề tài có
liên quan đã thực hiện.
 Phương pháp khảo sát: tính chất, thành phần nước thải, đặc điểm lý, hoá, sinh
của nước thải đầu vào.
 Phương pháp xây dựng mô hình mô phỏng ở qui mô phòng thí nghiệm, vận
hành mô hình để xử lý nước thải.
 Phương pháp phân tích: các thông số được phân tích theo phương pháp chuẩn
(APHA, AWWA, TCVN 2000 và Standard Methods). Các thông số đo và phương
pháp phân tích được trình bày trong bảng sau.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Bảng 1.1. Các thông số và phương pháp phân tích
Thông số Phương pháp phân tích
pH pH kế
COD Phương pháp đun kín (K
2
Cr
2

SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
4
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT VÀ
CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ
2.1 Nước thải sinh hoạt
2.1.1 Nguồn gốc
Nước thải sinh hoạt (NTSH) phát sinh từ các hoạt động sống hàng ngày của con
người như tắm rửa, bài tiết, chế biến thức ăn… Ở Việt Nam lượng nước thải này
trung bình khoảng 120 - 260 lít/người/ngày. NTSH được thu gom từ các căn hộ, cơ
quan, trường học, bệnh viện, khu dân cư, cơ sở kinh doanh, chợ, các công trình công
cộng khác và ngay chính trong các cơ sở sản xuất. Nước thải sinh hoạt ở các trung
tâm đô thị thường thoát bằng hệ thống thoát nước dẫn ra các sông rạch, còn các vùng
ngoại thành và nông thôn do không có hệ thống thoát nước nên nước thải thường
được tiêu thoát tự nhiên vào các ao hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thấm.
Khối lượng nước thải của một cộng đồng dân cư phụ thuộc vào:
- Quy mô dân số
- Tiêu chuẩn cấp nước
- Khả năng và đặc điểm của hệ thống thoát nước
- Loại hình sinh hoạt
Đặc tính chung của NTSH thường bị ô nhiễm bởi các chất cặn bã hữu cơ, các
chất hữu cơ hoà tan (thông qua các chỉ tiêu BOD
5
, COD), các chất dinh dưỡng (nitơ
phospho), các vi trùng gây bệnh (Ecoli, coliform…).
Mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào:
- Lưu lượng nước thải
- Tải trọng chất bẩn tính theo đầu người
Mà tải trọng chất bẩn tính theo đầu người phụ thuộc vào:
- Mức sống, điều kiện sống và tập quán sống

δ
= 10
-4

– 10
-6
mm)
 Nhóm 3: Gồm các chất bẩn ở dạng hoà tan có
δ
< 10
-6
mm, chúng có thể ở
dạng ion hay phân tử.
 Thành phần hoá học: Biểu thị dạng các chất bẩn trong nước thải có các
tính chất hoá học khác nhau, được chia làm ba nhóm:
 Thành phần vô cơ: cát, sét, xỉ, axít vô cơ, các ion muối phân ly… (chiếm
khoảng 42% đối với NTSH)
 Thành phần hữu cơ: các chất có nguồn gốc từ động vật, thực vật cặn bã bài
tiết… (chiếm khoảng 58%)
+ Các chất chứa nitơ
+ Các hợp chất nhóm hyđrocacbon: mỡ, xà phòng, cellulese…
+ Các hợp chất có chứa phospho, lưu huỳnh
 Thành phần sinh học: nấm men, nấm mốc, tảo, vi khuẩn…
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
6
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Bảng 2.1: Thể hiện thành phần tương đối của NTSH trước và sau xử lý. BOD và
chất rắn lơ lửng là hai thông số quan trọng nhất được sử dụng để xác định đặc tính
của NTSH. Quá trình xử lý lắng đọng ban đầu có thể giảm được khoảng 50% chất
rắn lơ lửng và 35% BOD.

2
S, NH
3
, CH
4
,… làm cho nước có
mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường.
 SS: lắng đọng ở nguồn tếp nhận, gây điều kiện yếm khí.
 Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến
đời sống của thuỷ sinh vật nước.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
 Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu
chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da,…
 Ammonia, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ
trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hoá ( sự phát triển bùng phát của
các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và
diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do quá trình
hô hấp của tảo thải ra ).
 Màu: mất mỹ quan.
 Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt.
2.2 Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt
Các phương pháp sử dụng để xử lý nước thải phụ thuộc vào các tính chất vật lý,
hóa học và sinh học của nước thải, do đó về bản chất kỹ thuật xử lý nước thải được
chia làm ba nhóm chính: lý học (cơ học), hóa học, sinh học.
2.2.1 Phương pháp xử lý cơ học
Xử lý cơ học là giai đoạn không thể thiếu trong các hệ thống xử lý nước thải.
Phương pháp cơ học là nhằm loại bỏ các hợp chất không tan ra khỏi nước thải. Nó là
bước ban đầu nhằm chuẩn bị cho các giai đoạn xử lý sau đó diễn ra thuận lợi và ổn

bể lắng hai vỏ thì cát là một chất thừa, do đó xây dựng các bể lắng cát trên các trạm
xử lý khi lưu lượng nước thải lớn hơn 100 m
3
/ngày đêm thì cần thiết. Trong bể lắng
cát thường giữ các hạt có độ lớn thủy lực U> 24,2 mm/s chiếm gần 60% tổng số. Có
ba loại bể lắng cát.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
+ Bể lắng cát ngang nước chảy thẳng hoặc vòng.
+ Bể lắng cát đứng nước dâng từ dưới lên.
+ Bể lắng cát nước chảy xoắn ốc.
Lượng cát giữ lại ở bể lắng cát phụ thuộc vào các yếu tố: loại hệ thống thoát
nước, tổng chiều dài mạng lưới, điều kiện sử dụng, tốc độ nước chảy, thành phần và
tính chất nước thải… đối với bể lắng cát ngang và tiếp tuyến lấy bằng
0,02l/người/ngày đêm; độ ẩm trung bình 60%, khối lượng riêng 1,5 tấn/m
3
(đối với
hệ thống thoát nước riêng rẽ).
Hình 2.2: Bế lắng cát ngang
Cấu tạo bể lắng ngang: 1. Đường dẫn nước thải vào; 2. Buồng lắng; 3. Đường
dẫn nước thải ra; 4. Hố tập trung bùn.
2.2.1.4 Bể lắng
Bể lắng dùng để tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng lớn hơn trọng
lượng riêng của nước. Các chất lơ lửng nặng hơn sẽ từ từ lắng xuống đáy, còn chất lơ
lửng nhẹ hơn sẽ tiếp tục theo dòng nước đến các công trình xử lý tiếp theo. Có thể
dùng những thiết bị thu gom và vận chuyển các chất lắng và nổi tới công trình xử lý
cặn.
 Dựa vào chức năng, vị trí có thể chia bể lắng thành các loại: bể lắng đợt
một đặt trước công trình xử lý sinh học và bể lắng đợt hai sau công trình xử lý sinh

 Bể điều hòa nồng độ
 Bể điều hòa cả lưu lượng và nồng độ
Trường hợp khi mức độ cần thiết làm sạch nước thải không cao lắm và các
điều kiện vệ sinh cho phép thì phương pháp lý học giữ vai trò chính trong trạm xử lý.
Trong các trường hợp khác phương pháp xử lý lý học chỉ là giai đoạn làm sạch sơ bộ
trước khi xử lý sinh học.
2.2.2 Phương pháp xử lý hóa học
Là phương pháp dùng các phản ứng hoá học để chuyển các chất ô nhiễm
thành các chất ít ô nhiễm hơn, chất ít ô nhiễm thành các chất không ô nhiễm. Ví dụ
như dùng các chất ôxy hoá như ozone, H
2
O
2
, O
2
, Cl
2
… để oxy hoá các chất hữu cơ,
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
vô cơ có trong nước thải. Phương pháp này giá thành xử lý cao nên có hạn chế sử
dụng. Thường chỉ sử dụng khi trong nước thải tồn tại các chất hữu cơ, vô cơ khó
phân huỷ sinh học. Thường áp dụng cho các loại nước thải như: nước thải rò rỉ rác,
nước thải dệt nhuộm, nước thải giấy.
Một số nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt cũng áp dụng phương pháp hoá học
để đưa vào quy trình xử lý, vì phương pháp sẽ tăng cường hiệu quả xử lý sinh học.
2.2.2.1 Keo tụ ( Đông tụ - Tủa bông)
Đông tụ và tủa bông là một công đoạn của quá trình xử lý nước thải, mặc dù
chúng là hai quá trình riêng biệt nhưng chúng không thể tách rời nhau.

Cl, KAl(SO
4
).12H
2
O, NH
4
Al(SO
4
).12H
2
O. Trong đó phổ biến nhất là:
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
12
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Al
2
(SO
4
)
3
.18H
2
O vì chất này hòa tan tốt trong nước, giá rẻ và hiệu quả đông tụ cao ở
pH = 5.0 – 8.5.
Trong quá trình tạo thành bông keo của hiđroxit nhôm hoặc sắt người ta
thường dùng thêm chất trợ đông tụ. Các chất trợ đông tụ này là tinh bột, dextrin, các
ete, xenlulozơ, hiđroxit silic hoạt tính… với liều lượng từ 1 – 5mg/l. Ngoài ra người
ta còn dùng các chất trợ đông tụ tổng hợp. Chất thường dùng nhất là pholyacrylamit.
Việc dùng các chất trợ này làm giảm liều lượng các chất đông tụ, giảm thời gian quá
trình đông tụ và nâng cao được tốc độ lắng của các bông keo.

xi mạ sắt trong số này, than hoạt tính thường được dùng phổ biến nhất. Các chất
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
hữu cơ, kim loại nặng và các chất màu dễ bị than hấp phụ. Lượng chất hấp phụ tuỳ
thuộc vào khả năng của từng loại chất hấp phụ và hàm lượng chất bẩn có trong nước.
Phương pháp này có thể hấp phụ 58 – 95% các chất hữu cơ màu. Các chất hữu cơ có
thể bị hấp phụ là phenol, Alkylbenzen, sunfonic axit, thuốc nhuộm và các chất thơm.
2.2.2.4 Tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi này dựa trên nguyên tắc: các phần tử phân tán trong
nước có khả năng tụ lắng kém, nhưng có khả năng kết dính vào các bọt khí nổi lên
trên bề mặt nước. Sau đó người ta tách các bọt khí đó ra khỏi nước. Thực chất quá
trình này là tách bọt hoặc làm đặc bọt. Trong một số trường hợp quá trình này cũng
được dùng để tách các hóa chất hòa tan như các chất hoạt động bề mặt. Quá trình này
được thực hiện nhờ thổi không khí thành bọt nhỏ vào trong nước thải. Các bọt khí
dính các hạt lơ lửng và nổi lên trên mặt nước. Khi nổi lên các bọt khí tập hợp thành
một tập hợp thành các lớp bọt chứa nhiều chất bẩn. Tuyển nổi có thể đặt ở giai đoạn
xử lý sơ bộ (bậc 1) trước khi sử lý cơ bản (bậc 2). Bể tuyển nổi có thể thay thế cho
bể lắng, trong dây chuyền nó có thể đứng trước hoặc sau bể lắng, đồng thời có thể ở
giai đoạn xử lý bổ sung hay triệt để cấp ba sau xử lý cơ bản.
Có hai hình thức tuyển nổi:
+ Sụt khí ở áp lực khí quyển gọi tuyển nổi bằng không khí.
+ Bão hòa không khí ở áp suất khí quyển sau đó thoát khí ra khỏi nước ở áp
suất chân không gọi là tuyển bằng chân không.
2.2.2.5 Oxy hóa khử
Oxi hoá bằng không khí: dựa vào khả năng hoà tan của oxi vào nước. Phương
pháp thường dùng để oxi hoá Fe
2+
thành Fe
3+

mềm nước, loại ion Ca
2+
và Mg
3+
ra khỏi nước cứng.
Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự
nhiên hoặc tổng hợp. Các chất thường được sử dụng như: zeolit, đất sét, nhôm silic,
silicagen, pecmutit, các chất điện lý cao phân tử, các loại nhựa tổng hợp.
2.2.3 Phương pháp sinh học
Là phương pháp xử lý nước thải nhờ vào khả năng sống và hoạt động của các
loài vi sinh vật để phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước thải thủy sản. Các sinh vật
sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số khoáng chất làm nguồn dinh dưỡng và tạo
năng lượng. Phương pháp này chủ yếu chia làm hai loại là sinh học hiếu khí (có mặt
các loài vi sinh vật hiếu khí) và sinh học kỵ khí (có mặt các loài vi sinh vật kỵ khí).
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Phương pháp xử lý sinh học có thể ứng dụng để làm sạch hoàn toàn các loại
nước thải có chứa chất hữu cơ hoà tan hoặc phân tán nhỏ. Do vậy phương pháp này
thường được áp dụng sau khi loại bỏ các loại tạp chất thô.
Các công trình đơn vị xử lý sinh học hiếu khí như: arerotank, sinh học hiếu
khí tiếp xúc (có giá thể tiếp xúc), lọc sinh học hiếu khí, sinh học hiếu khí quay –
RBC (Rotating Biological Contact).
Các công trình xử lý sinh học kỵ khí như : UASB (Upflow Anaerobic Sludge
Blanket), bể lọc sinh học kỵ khí dòng chảy ngược, bể sinh học kỵ khí dòng chảy
ngược có tầng lọc (Hybrid Digester), bể kỵ khí khuấy trộn hoàn toàn…
Quá trình xử lý sinh học gồm các bước :
+ Chuyển hoá các hợp chất có nguồn gốc cacbon ở dạng keo và dạng hoà
tan thành thể khí và thành các vỏ tế bào vi sinh.
+ Tạo ra các bông cặn sinh học gồm các tế bào vi sinh vật và các chất keo

b. Hồ sinh học
Hồ sinh học là hồ chứa dùng để xử lý nước thải bằng sinh học, chủ yếu dựa
vào quá trình tự làm sạch của hồ.
Ngoài nhiệm vụ xử lý nước thải hồ sinh học còn có thể đem lại những lợi ích
sau:
+ Nuôi trồng thủy sản
+ Nguồn nước để tưới cho cây trồng
+ Điều hòa dòng chảy nước mưa trong hệ thống thoát nước đô thị.
Căn cứ theo đặc tính tồn tại và tuần hoàn của các vi sinh và sau đó là cơ chế
xử lý, người ta phân loại làm ba loại hồ: Hồ kỵ khí, hồ hiếu kỵ khí và hồ hiếu khí.
 Hồ kỵ khí: Dùng để lắng và phân hủy cặn lắng bằng phương pháp sinh hóa
tự nhiên dựa trên cơ sở sống và hoạt động của vi sinh vật kỵ khí. Loại hồ này thường
được dùng để xử lý nước thải công nghiệp có độ nhiễm bẩn lớn, còn ít dùng để xử lý
nước thải sinh hoạt, vì nó gây ra mùi hôi thối khó chịu. Hồ kỵ khí phải cách xa nhà ở
và xí nghiệp thực phẩm 1,5 – 2 km.
 Hồ hiếu kỵ khí: Loại hồ này thường được gặp trong điều kiện tự nhiên,
trong hồ thường xảy ra hai quá trình song song: quá trình ôxy hóa hiếu khí chất
nhiễm bẩn hữu cơ và quá trình phân hủy mêtan cặn lắng. Đặc điểm của loại hồ này
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
xét theo chiều sâu có thể chia làm ba phần: lớp trên mặt là vùng hiếu khí, lớp giữa là
vùng trung gian, còn lớp dưới là vùng kỵ khí.
 Hồ hiếu khí: Quá trình ôxy hóa các chất hữu cơ bằng vi sinh vật hiếu khí.
Được phân làm hai nhóm: hồ làm thoáng tự nhiên và hồ làm thoáng nhân tạo.
+ Hồ làm thoáng tự nhiên: ôxy cung cấp cho quá trình ôxy hóa chủ yếu do
sự khuyếch tán không khí qua mặt nước và qua quá trình quang hợp của các thực
vật nước.
+ Hồ hiếu khí làm thoáng nhân tạo: nguồn cung cấp ôxy cho quá trình sinh
hóa bằng các thiết bị như bơm khí nén hoặc máy khuấy cơ học.

Trong bể aeroten diễn ra quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ trong
nước thải. Vai trò ở đây là những vi sinh vật hiếu khí, chúng tạo thành bùn hoạt tính.
Để bùn hoạt tính và nước thải tiếp xúc với nhau được tốt và liên tục, người ta khuấy
trộn bằng máy khí nén hoặc các thiết bị cơ giới khác. Phải thường xuyên cung cấp
oxy vào bể để các vi sinh vật khoáng hóa sống và họat động bình thường; oxy sẽ
được sử dụng trong các quá trình sinh hóa. Sự khuếch tán tự nhiên qua mặt thoáng
của nước trong bể không đảm bảo đủ lượng oxy cần thiết, vì vậy phải bổ sung lượng
không khí thiếu hụt bằng phương pháp nhân tạo: thổi khí nén vào hoặc tăng diện tích
mặt thoáng.
Trong thực tế người ta thường thổi không khí nén vào bể vì như vậy sẽ đồng
thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ: vừa khuấy trộn bùn hoạt tính với nước thải vừa đảm
bảo chế độ oxy cần thiết trong bể. Bùn hoạt tính là tập hợp những vi sinh vật khoáng
hóa có khả năng hấp thụ và oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước thải với sự có mặt
của oxy. Các chất hữu cơ hòa tan, các chất keo phân tán nhỏ sẽ được chuyển hóa,
hấp phụ và keo tụ sinh học trên bề mặt các tế bào vi sinh vật. Tiếp đó trong quá trình
trao đổi chất, dưới tác dụng của những men nội bào, các chất hữu cơ sẽ bị phân hủy.
Quá trình xử này gồm ba giai đoạn:
 Giai đoạn khuếch tán và chuyển chất từ dịch thể tới bề mặt các tế bào vi
sinh vật.
 Hấp phụ: khuếch tán và hấp phụ các chất bẩn từ bề mặt ngoài các tế bào
qua màng bán thấm.
 Quá trình chuyển hóa các chất đã được khuếch tán và hấp phụ ở trong tế
bào sinh vật sinh ra năng lượng và tổng hợp các chất mới của tế bào.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
c. Bể sinh học theo mẻ SBR
Thực chất của bể sinh học hoạt động theo mẻ (SBR-Sequence Batch Reactor)
là một dạng của bể aerotank. Khi xây dựng bể SBR nước thải chỉ cần đi qua song
chắn, bể lắng cát và tách dầu mỡ nếu cần, rồi nạp thẳng vào bể. Bể aerotank làm việc

2
. Đối với nước
thải ô nhiễm nặng, sử dụng nhiều hệ thống đĩa quay (xử lý nhiều lần). Ở nhiệt độ môi
trường thấp phải dùng hộp bảo vệ đĩa. Các hệ thống này hoạt động bình thường khi
không có lưu chuyển nước thải. Điện năng tiêu thụ khoảng 2kW/1000m
3
/ngày. RBC
được dùng để nâng cấp các hệ thống dùng bùn hoạt tính, thay thế đĩa dùng trong các
bể sục khí
e. Bể UASB
Nước thải được đưa trực tiếp vào phía dưới đáy bể và được phân phối đồng
đều, sau đó chảy ngược lên xuyên qua lớp bùn sinh học dạng hạt nhỏ (bông bùn) và
các chất hữu cơ bị phân hủy.
Các bọt khí mêtan và NH
3
, H
2
S nổi lên trên và được thu bằng các chụp thu khí
để dẫn ra khỏi bể. Nước thải tiếp theo đó chuyển đến vùng lắng của bể và tại đó sẽ
diễn ra sự phân tách hai pha lỏng và rắn. Nước thải tiếp tục đi ra khỏi bể, còn bùn
hoạt tính thì hoàn lưu lại vùng lớp bông bùn. Sự tạo thành bùn hạt và duy trì được nó
là vô cùng quan trọng khi vận hành UASB.
Thường cho thêm vào bể 150 mg/l Ca
2+
để đẩy mạnh sự tạo thành hạt bùn và
5÷10mg/l Fe
2+
để giảm bớt sự tạo thành các sợi bùn nhỏ. Để duy trì lớp bông bùn ở
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
21

22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
+ Giai đoạn 2: Làm khô bằng bốc hơi nước tự nhiên trên bề mặt rộng.
Cặn đã xử lý ổn định có chu kỳ phơi khô ngắn hơn cặn chưa xử lý ổn định.
2.2.4.2 Máy lọc cặn chân không
Máy lọc chân không là thiết bị làm khô bùn có thể giảm độ ẩm của bùn từ
99% xuống 70 – 85% tùy thuộc vào tính chất của cặn và tốc độ quay của máy (thời
gian làm khô). Loại thiết bị này thường được áp dụng nhiều trong thời gian trước,
mười năm gần đây do có nhiều loại thiết bị có hiệu suất cao hơn, chi phí đầu tư và
chi phí quản lý rẻ hơn nhiều lần, lại có quá trình vận hành đơn giản hơn, nên thiết bị
lọc chân không đã không được sử dụng
2.2.4.3 Máy lọc ép băng tải
Máy làm khô cặn bằng lọc ép trên băng tải được dùng phổ biến hiện nay vì
quản lý đơn giản, ít tốn điện, hiệu suất làm khô cặn chấp nhận được.
Hệ thống lọc ép cặn trên băng tải gồm máy bơm bùn từ bể cô đặc đến thùng
hòa trộn hóa chất keo tụ và định lượng cặn, thùng này được đặt trên đầu vào của
băng tải, hệ thống băng tải và trục ép, thùng đựng và xe vận chuyển cặn thô, bơm
nước sạch để rửa băng tải, thùng thu nước lọc và bơm nước lọc về đầu của băng tải.
Ở đoạn này nước được lọc qua băng tải theo nguyên tắc lọc trọng lực, đi qua cần gạt
để san đều cặn trên toàn chiều rộng băng, rồi đi qua trục ép và có lực ép tăng dần.
Hiệu suất làm khô cặn phụ thuộc vào nhiều thông số như: đặc tính của cặn, cặn có
trộn với hóa chất keo tụ hay không, độ rỗng của băng lọc, tốc độ di chuyển và lực
nén của băng tải. Nồng độ cặn sau khi làm khô trên máy lọc ép băng tải đạt được từ
15 – 25%.
2.2.4.4 Máy ép cặn chân không
Làm khô cặn theo nguyên tắc lắng và ép cặn bằng lực ly tâm.
Dung dịch cặn được bơm vào máy theo ống cố định đặt ở dọc tâm quay, nằm
trong lõi của trục bánh vít chuyển động chậm và ngược chiều với thùng quay để dồn
cặn khô đến cửa xả cặn.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024

 Clo kết hợp với hydrocacbon thành hợp chất có hại cho môi trường sống.
Trong quá trình xử lý nước thải, công đoạn khử trùng thường được đặt ở cuối
quá trình, trước khi làm sạch nước triệt để và chuẩn bị đổ ra nguồn.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
24
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vĩnh Sơn
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH SINH HỌC HIẾU
KHÍ VÀ ĐẶC TÍNH THỰC VẬT THỦY SINH TRONG XỬ LÝ
NƯỚC THẢI
3.1 Tổng quan về quá trình sinh học hiếu khí
3.1.1 Định nghĩa
Quá trình xử lý sinh học hiếu khí là quá trình sử dụng các vi sinh vật để oxy hoá
các chất hữu cơ trong điều kiện có sự tồn tại của oxy. Nó được ứng dụng rộng rãi để
xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ có trong nước thải.
SVTH: Đặng Thị Lê Phương MSSV: 106111024
25

Trích đoạn Quá trình sinh trưởng, phát triển và suy thoái của màng VS Quá trình chuyển hóa của thực vật thủy sinh trong xử lý nước thả Phương pháp ứng dụng thực vật thủy sinh trong xử lý nước thả VSV của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện hiếu khí Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status