80
NGHIÊN CỨU CHỌN VÀ NHÂN GIỐNG QUẾ
CÓ NĂNG SUẤT TINH DẦU CAO
Nguyễn Huy Sơn
Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Quế (Cinnamomum cassia BL.) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Tinh dầu Quế là nguyên liệu quí
trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm. Hầu hết các giống Quế đang trồng rừng hiện nay là giống
chưa được cải thiện. Việc chọn giống và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao là cần thiết. Kết quả
bước đầu đã chọn được 79 cây trội với các chỉ tiêu sinh trưởng cao hơn các cây xung quanh từ 9,0-75,7%
về đường kính, từ 5,0-54,9% về chiều cao vút ngọn và từ 5,0-63,9% về chiều cao dưới cành. Hàm lượng
tinh dầu trong vỏ của các cây trội đều đạt từ 2,2-5,15%, hàm lượng aldehyd cinnamic đạt từ 89,90-98,10%.
Phương pháp ghép nêm có triển vọng hơn các phương pháp ghép mắt, ghép áp và giâm hom, thời vụ ghép
thích hợp vào tháng 10, đường kính gốc ghép từ 0,5-0,7cm, vật liệu ghép lấy từ cây 10-13 năm tuổi, tỷ lệ
sống của cây ghép đạt từ 55,6-63,3%.
Từ khóa: Quế, nhân giống, chọn giống, tinh dầu
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quế (Cinnamomum cassia BL.) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quí trong
công nghiệp dược phẩm và thực phẩm, gỗ Quế sau khi bóc vỏ còn được dùng để làm nhà và đóng các đồ
mộc gia dụng. Ngoài ra, do có tán lá khá dày, rậm và xanh quanh năm nên rừng trồng Quế còn có tác dụng
phòng hộ khá hiệu quả. Vì thế Quế còn được gọi là cây đa mục đích và là một trong những loài cây trồng
chính trong chương trình 5 triệu ha rừng nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu vùng
xa ở một số tỉnh miền núi trong những năm qua. Ở nước ta, Quế được trồng nhiều ở các tỉnh Yên Bái,
Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi, nhưng hầu hết là giống chưa được cải
thiện. Vì vậy, việc nghiên cứu chọn và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao là cần thiết và có ý nghĩa
- Khảo nghiệm 6 xuất xứ ở 2 vùng sinh thái chính là Văn Yên-Yên Bái và Trà Mi-Quảng Nam, mỗi địa
điểm 2,0ha. Số liệu thu thập định kỳ 6 tháng 1 lần trên các ô tiêu chuẩn định vị, diện tích ô tiêu chuẩn
≈250m
2
, n30cây. Chỉ tiêu điều tra gồm: đường kính gốc (D
0
), chiều cao vút ngọn (Hvn), tỷ lệ sống.
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần mềm Excel 5.0 và
SPSS.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả chọn giống Quế theo khả năng sinh trưởng ở các vùng sinh thái
Sản phẩm thu hoạch chính của cây Quế là vỏ, cây càng cao và to thì sản lượng vỏ càng lớn. Mặt khác,
sản lượng vỏ còn phụ thuộc vào độ dày của vỏ và độ dày của phần vỏ chứa tinh dầu. Tuy nhiên, việc xác
định độ dày vỏ và độ dày phần vỏ chứa tinh dầu phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: tuổi cây, vị trí lấy mẫu và
đo mẫu, thời gian lấy mẫu và đo mẫu, thời tiết lấy mẫu và đo mẫu khó có thể xác định chính xác ngay ở
trên rừng. Hơn nữa, nội dung này có thể xác định thông qua hàm lượng tinh dầu trong các mẫu vỏ phân tích
trong phòng thí nghiệm, nên kết quả chọn giống theo hàm lượng và chất lượng tinh dầu được thể hiện ở
phần sau.
Bảng 1. Số cây trội đã chọn theo các chỉ tiêu sinh trưởng
Độ vượt (%)
Số
tt
Địa điểm
điều tra cây trội
Số cây
trội
D
1,3
Bảng 2. Số cây trội được chọn đồng thời theo cả sinh trưởng,
hàm lượng và chất lượng tinh dầu
Hàm lượng (%)
Số
tt
Địa điểm
điều tra cây trội
Số cây
trội
Tinh dầu Aldehyd cinnamic
1 Văn Yên -Yên Bái 23 2,20-2,85 89,90-97,60
2 Trà Mi - Quảng Nam 31 2,80-5,15 92,50-97,20
3 Trà Bồng - Quảng Ngãi 25 2,20-3,86 92,50-98,10
Tổng số 79
Tương tự như hàm lượng tinh dầu, hàm lượng aldehyd cinnamic trong tinh dầu Quế là yếu tố quan trọng
để đánh giá chất lượng tinh dầu. Theo Dược điển Việt Nam, hàm lượng aldehyd cinnamic trong tinh dầu của
vỏ Quế phải đạt từ 80% trở lên mới đảm bảo chất lượng. Kết quả phân tích các mẫu vỏ Quế từ 108 cây trội
theo khả năng sinh trưởng ở phần trên đã chọn được 79 cây có hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao hơn
hẳn so với các mẫu đối chứng, mẫu đối chứng là mẫu hỗn hợp vỏ của 15 cây xung quanh, các cây được
chọn đều có hàm lượng aldehyd cinnamic đạt từ 89,90-98,10%.
Như vậy, kết hợp cả tiêu chuẩn về sinh trưởng và hàm lượng cũng như chất lượng tinh dầu đã chọn
được 79 cây trội. Trong đó, ở Văn Yên-Yên Bái có 23 cây, ở Trà Mi-Quảng Nam có 31 cây và ở Trà Bồng-
Quảng Ngãi có 25 cây.
3.3. Kết quả nghiên cứu nhân giống vô tính
3.3.1. Kết quả nhân giống bằng phương pháp giâm hom
Hom được lấy từ thân của cây 1 năm tuổi và những cành bánh tẻ của những cây từ 3, 5, 7, 10, 13 và 15
năm tuổi, kích thức hom ≈5cm và phải có ít nhất 2 chồi ngủ trở lên (2 nách lá). Giá thể giâm hom là cát tinh
và đất tầng A. Thuốc kích thích ra rễ gồm IAA, IBA và ABT. Nồng độ thử nghiệm các loại thuốc gồm: 0,5;
0,75; 1,0 và 1,5%. Thời vụ thử nghiệm giâm hom gồm: vụ xuân và vụ hè.
ABT 65,8 72,8 70,1 72,5
Đối chứng 5,7 5,9 6,0 6,3
Như vậy, hom lấy từ chồi vượt mọc ở thân cây có khả năng ra rễ cao hơn hẳn so với chồi từ cành, giâm
hom vào mùa hè cho tỷ lệ ra rễ cao hơn mùa xuân, thuốc IBA với nồng độ 1% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất trong
phạm vi thí nghiệm này.
3.3.2. Kết quả nhân giống bằng phương pháp ghép
Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
Gốc ghép là cây con tạo từ hạt trong vườn ươm 2 năm tuổi, đường kính gốc (D
00
) đạt từ 0,5- 0,7cm. Thí
nghiệm được thực hiện vào tháng 3 và 10 năm 2004 với 3 phương pháp ghép khác nhau, kết quả (bảng 4)
cho thấy phương pháp ghép nêm đạt tỷ lệ cây sống cao nhất ở cả 2 vụ ghép, vụ ghép tháng 3 đạt 70,3% và
vụ ghép tháng 10 đạt 76,8%. Trong khi đó phương pháp ghép mắt chỉ đạt tỷ lệ sống tương ứng với 2 vụ
ghép là 8,2% và 37,7%; phương pháp ghép áp cũng chỉ đạt các trị số tương ứng là 11,5% và 47,8%.
Bảng 4. Kết quả của các phương pháp ghép khác nhau
P/p ghép
T/vụ ghép
Ghép nêm
(%)
Ghép mắt
(%)
Ghép áp
(%)
- Tháng 3 70,3 8,2 11,5
- Tháng 10 76,8 37,7 47,8
lấy hom
T.3 T.4 T.9 T.10 T.11
1 1 56,6 53,3 63,3 73,3 8,9
2 10 57,7 41,1 53,3 63,3 3,3
3 13 46,6 38,8 42,2 55,6 1,1
4 15 36,6 32,2 30,6 31,1 0,0
85
Ảnh 2. Cây Quế ghép nêm sau 8 tháng tuổi
Ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
Thí nghiệm phương pháp ghép nêm tiến hành lặp lại 3 lần vào các tháng khác nhau trên gốc ghép có
đường kính gốc (D
00
) được phân làm 3 cấp: 0,5-0,7cm; 0,71-0,9cm và 0,91-1,1cm (bảng 6).
Kết quả cho thấy kích thước gốc ghép có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ sống của cây ghép. Trong phạm vi
đường kính gốc ghép biến động từ 0,5-1,1cm thì tỷ lệ sống của cây ghép giảm dần, cao nhất ở cỡ đường
kính từ 0,5-0,7cm trong cả 3 lần ghép, thấp nhất ở cỡ đường kính từ 0,91-1,1cm. Ngoài ra, thời gian ghép
cũng ảnh hưởng khá rõ đến kết quả thí nghiệm, tỷ lệ sống của cây ghép đạt cao nhất vào tháng 10. Kết quả
này cũng rất phù hợp với kết quả của thí nghiệm trên
Bảng 6. Ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
Kích thước gốc ghép (cm)
Thời gian
ghép
00
(cm
Sd Hvn
(m)
Sh
1. Yên Bái 1,02 0,52 0,88 17,4 0,81 0,17 0,83 17,9
2. Quảng Ninh 0,92 0,22 0,86 17,5 0,74 0,22 0,77 22,6
3. Thanh Hoá 1,14 0,35 1,04 23,1 0,79 0,28 0,81 28,2
4. Nghệ An 0,92 0,40 0,83 22,0 0,73 0,16 0,75 16,5
5. Quảng Nam 0,89 0,31 0,79 22,4 0,79 0,18 0,81 17,4
6. Quảng Ngãi 0,88 0,28 0,80 21,3 0,75 0,22 0,77 25,0
Kết quả ở bảng 7 cho thấy khả năng sinh trưởng của các xuất xứ Quế ở 2 địa điểm khảo nghiệm khác
nhau khá rõ rệt (Ft>F05). Sau 18 tháng trồng ở Yên Bái các xuất xứ Quế từ Bắc Trung Bộ trở ra đều sinh
trưởng nhanh hơn các xuất xứ Nam Trung Bộ kể cả về đường kính gốc (D
0
) và chiều cao (Hvn), biến động
từ 0,92-1,14cm về đường kính và từ 0,83-1,04m về chiều cao, trong khi đó các xuất xứ Nam Trung Bộ chỉ
đạt các trị số tương ứng từ 0,88-0,89cm và từ 0,79-0,80m. Tương tự như vậy, sau 24 tháng trồng ở Quảng
Nam, kết quả điều tra cho thấy khả năng sinh trưởng của các xuất xứ được phân làm 2 nhóm khác nhau
khá rõ rệt nhưng không theo vùng sinh thái như ở Yên Bái, nhóm thứ nhất sinh trưởng trội hơn gồm có các
xuất xứ Yên Bái, Thanh Hoá và Quảng Nam với trị số trung bình về đường kính gốc biến động từ 0,79-
0,81cm và chiều cao biến động từ 0,81-0,83m, nhóm thứ hai sinh trưởng kém hơn gồm các xuất xứ Quảng
Ninh, Nghệ An và Quảng Ngãi với các trị số trung bình về đường kính gốc biến động từ 0,73-0,75cm và
chiều cao biến động từ 0,75-0,77m.
So sánh khả năng sinh trưởng của các xuất xứ trồng ở 2 vùng sinh thái khác nhau là Yên Bái và Quang
Nam cho thấy mặc dù số liệu thu được ở Yên Bái mới có 18 tháng tuổi (ít hơn Quảng Nam 6 tháng), nhưng
khả năng sinh trưởng tương đương và có phần trội hơn các xuất xứ Quế trồng ở Quảng Nam 24 tháng tuổi.
Đặc biệt, các xuất xứ ở Yên Bái và Thanh Hoá dù trồng ở Yên Bái hay Quảng Nam đều có khả năng sinh
trưởng trội hơn so với các xuất xứ khác.
- Thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Quế chưa ổn định.
- Đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu chọn giống, nhân giống ở mức độ cao hơn với thời gian theo dõi các
khảo nghiệm dài hơn thì mới có thể đưa ra được những giống có năng suất chất lượng cao như mong muốn
.
C©y tréi QuÕ ë Yªn B¸i
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Tất Lợi, 1985. Tinh dầu Việt Nam. NXB Y học Tp. Hồ Chí Minh.
Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn, 2006. Chọn và nhân giống Quế (C. cassia. Bl) Báo cáo tổng kết
đề tài giai đoạn 2002-2006. Bộ NN&PTNT. Hà Nội-2006.
Lê Đình Khả và các cộng tác viên, 2003. Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao. Tạp chí
NN&PTNT, số 10, 2003.
Đoàn Thanh Nga, 1996. Thử nghiệm một số biện pháp giâm hom cho A. mangium và Quế. Kết quả
nghiên cứu khoa học 1991-1995. NXB Nông nghiệp, 1996.
Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Quảng Ninh, 1986. Thông báo KHKT Lâm nghiệp số 2-
1986, trang 13.
Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi. 1996. Xử lý thống kê, kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong
nông lâm nghiệp trên máy vi tính. NXB Nông nghiệp, Hà Nội-1996.
RESEARCH ON SELECTION AND PROPAGATION OF QUE (Cinnamomum cassia BL) HAVING
HIGH PRODUCTIVITY OF OIL
88Nguyen Huy Son
Non-timber Forest Products Research Centre
Forest Science Institute of Vietnam