NGHIÊN CỨU CHỌN VÀ NHÂN GIỐNG QUẾ
CÓ NĂNG SUẤT TINH DẦU CAO
Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn
Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quế (Cinnamomum cassia BL.) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quí trong
công nghiệp dược phẩm và thực phẩm, gỗ Quế sau khi bóc vỏ còn được dùng để làm nhà và đóng các đồ
mộc gia dụng. Ngoài ra, do có tán lá khá dày, rậm và xanh quanh năm nên rừng trồng Quế còn có tác dụng
phòng hộ khá hiệu quả. Vì thế Quế còn được gọi là cây đa mục đích và là một trong những loài cây trồng
chính trong chương trình 5 triệu ha rừng nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng sâu vùng
xa ở một số tỉnh miền núi trong những năm qua. Ở nước ta, Quế được trồng nhiều ở các tỉnh Yên Bái,
Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi, nhưng hầu hết giống Quế đang được sử
dụng để trồng rừng ở nhiều địa phương hiện nay là giống chưa được cải thiện. Vì vậy, việc nghiên cứu chọn
và nhân giống Quế có năng suất tinh dầu cao là cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học lẫn thực tiễn sản xuất.
Tuy thời gian thực hiện đề tài còn quá ngắn so với chu kỳ kinh doanh của cây Quế, nhưng những kết quả
bước đầu này cũng có ý nghĩa tham khảo nhất định nhằm định hướng phát triển cây Quế có hiệu quả cho mỗi
địa phương.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu nghiên cứu
- Rừng trồng Quế từ 10-19 năm tuổi ở Văn Yên (Yên Bái), Trà Mi (Quảng Nam) và Trà Bồng (Quảng
Ngãi).
- Cây trội từ các rừng trồng nói trên, vật liệu nhân giống bao gồm cả hạt giống và hom cành lấy từ các
cây trội đã chọn lọc.
- Thuốc kích thích ra rễ gồm: IAA; IBA và ABT1.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thông tin về lý lịch các khu rừng trồng Quế ở các địa phương điều tra theo phương pháp phỏng vấn.
- Thu thập số liệu sinh trưởng rừng trồng theo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn từ 300-500m
trong phòng thí nghiệm, nên kết quả chọn giống theo hàm lượng và chất lượng tinh dầu được thể hiện ở phần
sau.
Bảng 1. Số cây trội đã chọn theo các chỉ tiêu sinh trưởng
Độ vượt (%) Số
tt
Địa điểm
điều tra cây trội
Số cây
trội
D
1,3
Hvn Hdc
1 Văn Yên -Yên Bái 27 9,0-49,6 5,1-29,4 5,0-63,9
2 Trà Mi - Quảng Nam 47 9,0-45,6 5,0-21,0 5,3-24,0
3 Trà Bồng - Quảng Ngãi 34 9,0-75,7 8,0-54,9 7,0-59,0
Tổng số 108
Từ 200 cây trội sơ tuyển ban đầu ở 3 địa điểm (Văn Yên-Yên Bái; Trà Mi-Quảng Nam và Trà Bồng-
Quảng Ngãi) đã chọn được 108 cây trội theo các chỉ tiêu sinh trưởng. Trong đó, Văn Yên-Yên Bái có 27 cây
ở giai đoạn 17 năm tuổi, Trà Mi-Quảng Nam có 47 cây (20 cây ở tuổi 15; 8 cây ở tuổi 18; còn lại là tuổi 19),
Trà Bồng-Quảng Ngãi có 34 cây (8 cây ở tuổi 10; 3 cây ở tuổi 12; 4 cây ở tuổi 13; 6 cây ở tuổi 14; 1 cây ở
tuổi 16; còn lại là ở tuổi 17). Kết quả cho thấy cây trội được chọn là những cây có độ vượt về đường kính
ngang ngực biến động từ 9,0-75,7%, chiều cao vút ngọn biến động từ 5,0-54,9% và chiều cao dưới cành
biến động từ 5,0-63,9% (bảng 1).
2. Kết quả chọn giống Quế theo hàm lượng và chất lượng tinh dầu
Kết quả ở bảng 2 cho thấy hàm lượng tinh dầu trong vỏ của các cây trội đều cao và đạt từ 2,2% trở lên,
thậm chí có cây còn đạt tới 5,15%, trong khi đó ở các mẫu đối chứng là những cây xung quanh chỉ đạt dưới
2,1%. Tuỳ thuộc vào tuổi cây và vùng sinh thái mà hàm lượng tinh dầu có thể cao thấp khác nhau. Mặc dù
các cây trội ở Yên Bái là những cây đều ở giai đoạn 17 năm tuổi nhưng hàm lượng tinh dầu thấp hơn khá
nhiều so với các cây trội ở Quảng Nam. Ở Quảng Ngãi do cây trội phân bố ở nhiều cấp tuổi, từ tuổi 10-18,
ra rễ cao hơn giá thể là bầu đất. Mặc dù tỷ lệ ra rễ của những hom lấy từ cây 1 năm tuổi cao nhất nhưng
không có ý nghĩa trong công tác cải thiện giống, vì những cây này chưa thể xác định được chúng có phải là
cây trội khi thành thục sinh học hay không.
Trong một thí nghiệm khác với hom là các chồi vượt mọc trên thân của cây 7 tuổi cũng được bố trí với
các loại thuốc và nồng độ tương tự. Kết quả cho thấy giâm hom vào mùa hè với loại thuốc IBA nồng độ 1%
cho tỷ lệ cao nhất, đạt ≈77% (bảng 3). Tuy nhiên, ở giai đoạn 7 năm tuổi thì việc xác định cây trội cũng chưa
chắc chắn, vì chúng chưa phải ở gần giai đoạn thành thục sinh học hoặc thành thục công nghệ để khai thác,
nên việc nhân giống hom ở giai đoạn này dù có tỷ lệ cây sống cao nhưng cũng ít có ý nghĩa trong công tác
cải thiện giống.
Bảng 3. Kết quả nhân giống bằng phương pháp giâm hom
Nồng độ (%)
Thời vụ
giâm hom
Loại thuốc
0,5 0,75 1,0 1,5
IAA
21,2 16,1 22,8 33,3
IBA
14,9 25,9 34,9 30,0
ABT1
15,0 26,2 3,0 5,1
Vụ xuân
Đối chứng
5,9 6,0 6,0 6,1
IAA
43,2 49,7 52,6 63,0
IBA
76,1 73,2 76,9 75,7
ABT1
65,8 72,8 70,1 72,5
Ảnh hưởng của thời vụ và tuổi cây mẹ lấy cành ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép
Kết quả (bảng 5) cho thấy tuổi cây mẹ càng cao thì khả năng ghép thành công càng giảm, tỷ lệ cây ghép
sống cao nhất ở công thức ghép đoạn thân của cây 1 năm tuổi và thấp nhất ở công thức ghép cành của cây
15 tuổi. Sự thành công của cây ghép 1 năm tuổi không có ý nghĩa trong công tác cải thiện giống. Ở giai
đoạn từ 10-15 năm tuổi, rừng trồng đã thành thục cả về sinh học và công nghệ nên việc chọn cây trội lấy vật
liệu ghép để xây dựng rừng giống và vườn giống là có ý nghĩa quan trọng trong công tác cải thiện giống.
Tuy nhiên, cành ghép của cây mẹ 15 năm tuổi có tỷ lệ sống đều thấp dưới 50% qua các tháng ghép, riêng
cành ghép của cây mẹ từ 10-13 năm tuổi ghép vào tháng 10 cho tỷ lệ sống cao nhất và đạt từ 55,6-63,3%.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu chất lượng giống cần cải thiện và tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế kỹ thuật của từng
đơn vị mà chọn tuổi cây mẹ lấy cành ghép cho thích hợp, chọn cây mẹ cho cành ghép có tuổi cao càng gần
với tuổi thành thục công nghệ để khai thác thì mức độ chính xác của việc chọn giống càng cao và chất lượng
giống càng đảm bảo. Bảng 5. Ảnh hưởng của thời vụ và tuổi cây mẹ lấy cành ghép
đến tỷ lệ sống của cây ghép
Thời gian ghép
Số
tt
Tuổi cây mẹ
lấy hom
T.3 T.4 T.9 T.10 T.11
1 1 56,6 53,3 63,3 73,3 8,9
2 10 57,7 41,1 53,3 63,3 3,3
3 13 46,6 38,8 42,2 55,6 1,1
4 15 36,6 32,2 30,6 31,1 0,0
(18 tháng sau khi trồng)
Trà Mi-Quảng Nam
(24 tháng sau khi trồng)
Địa điểm khảo nghiệmXuất xứ
D
00
(cm) Sd Hvn
(m)
Sh D
00
(cm
Sd Hvn
(m)
Sh
1. Yên Bái 1,02 0,52 0,88 17,4 0,81 0,17 0,83 17,9
2. Quảng Ninh 0,92 0,22 0,86 17,5 0,74 0,22 0,77 22,6
3. Thanh Hoá 1,14 0,35 1,04 23,1 0,79 0,28 0,81 28,2
4. Nghệ An 0,92 0,40 0,83 22,0 0,73 0,16 0,75 16,5
5. Quảng Nam 0,89 0,31 0,79 22,4 0,79 0,18 0,81 17,4
6. Quảng Ngãi 0,88 0,28 0,80 21,3 0,75 0,22 0,77 25,0
Kết quả bước đầu (bảng 7) cho thấy khả năng sinh trưởng của các xuất xứ Quế ở 2 địa điểm khảo
nghiệm khác nhau khá rõ rệt (Ft>F05). Sau 18 tháng trồng ở Yên Bái các xuất xứ Quế từ Bắc Trung Bộ trở
ra đều sinh trưởng nhanh hơn các xuất xứ Nam Trung Bộ kể cả về đường kính gốc (D
0
) và chiều cao (Hvn),
biến động từ 0,92-1,14cm về đường kính và từ 0,83-1,04m về chiều cao, trong khi đó các xuất xứ Nam
Trung Bộ chỉ đạt các trị số tương ứng từ 0,88-0,89cm và từ 0,79-0,80m. Tương tự như vậy, sau 24 tháng
Tồn tại và kiến nghị
- Mới chỉ chọn cây trội được ở 3 địa điểm chính là Văn Yên-Yên Bái, Trà Mi-Quảng Nam và Trà Bồng-
Quảng Ngãi. Các cây trội nằm rải rác ở vùng sâu vùng xa khó khăn cho việc quản lý bảo vệ cũng như thu
thập vật liệu giống.
- Kết quả nghiên cứu về nhân giống vô tính còn nhiều hạn chế, tỷ lệ sống của cây ghép và cây giâm hom
còn thấp, nhất là vật liệu dùng để ghép và giâm hom lấy từ cây nhỏ tuổi tuy có tỷ lệ sống cao nhưng ý nghĩa
trong công tác cải thiện giống thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất.
- Thời gian theo dõi các khảo nghiệm xuất xứ còn hạn chế, chưa đủ thời gian để đưa ra những kết luận
chính xác.
- Đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu chọn giống, nhân giống ở mức độ cao hơn với thời gian theo dõi các
khảo nghiệm dài hơn thì mới có thể đưa ra được những giống có năng suất chất lượng cao như mong
muốn.
C©y tréi QuÕ ë Yªn B¸i
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tất Lợi,1985. Tinh dầu Việt Nam. NXB Y học Tp. Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn, 2006. Chọn và nhân giống Quế (C. cassia. Bl) Báo cáo tổng kết
đề tài giai đoạn 2002-2006. Bộ NN&PTNT.
3. Lê Đình Khả và các cộng tác viên, 2003. Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao. Tạp chí
NN&PTNT, số 10, 2003.
4. Đoàn Thanh Nga,1996. Thử nghiệm một số biện pháp giâm hom cho A. mangium và Quế. Kết quả
nghiên cứu khoa học 1991-1995. NXB Nông nghiệp.
5. Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Quảng Ninh,1986. Kết quả nghiên cứu bước đầu về kỹ
thuật giâm hom Quế. Thông tin KHKT Lâm nghiệp số 2-1986, trang 13.
6. Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi,1996. Xử lý thống kê, kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong
nông lâm nghiệp trên máy vi tính. NXB Nông nghiệp.