NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG HỒI
Nguyễn Huy Sơn
Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hồi (Illicium verum HooK) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Tinh dầu hồi là nguyên liệu quý trong công
nghiệp dược phẩm và thực phẩm. Hơn nữa, hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số ít nước trên thế giới, nên
tinh dầu hồi còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ở nước ta hồi được trồng tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn,
đa số rừng hồi được trồng bằng giống chưa được chọn lọc. Hiện nay, cây hồi là một trong những loài cây
trồng chính trong chương trình 5 triệu ha và cũng là cây xoá đói giảm nghèo chủ yếu cho đồng bào các dân
tộc vùng sâu vùng xa ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là ở Lạng Sơn.
Chọn giống và nhân giống là 2 nội dung rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình cải thiện
giống cây rừng nói chung và cải thiện giống hồi nói riêng. Các công trình nghiên cứu chọn tạo giống hồi ở cả
trong và ngoài nước hiện nay rất ít so với các loài cây khác. Có lẽ do cây hồi không những lâu ra quả (từ khi
trồng đến khi ra hoa thường là từ 7-8 năm) mà chu kỳ sai quả còn khá dài (thường từ 3-4 năm). Hơn nữa,
hồi là cây có tinh dầu rất khó nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng, phạm vi phân bố lại rất hẹp nên ít
người quan tâm. Duy nhất chỉ có một công trình nghiên cứ về nhân giống hồi bằng hom cành của Nguyễn
Ngọc Tân và các cộng sự (1984), nhưng kết quả mới chỉ có đạt được và dừng lại ở việc nhân giống hom
cho cây hồi 2 tuổi giai đoạn vườn ươm, nên ít có ý nghĩa trong công tác cải thiện giống. Cho đến nay,
nghiên cứu chọn và tạo giống hồi có năng suất cao chưa thấy tác giả nào đề cập tới một cách có hệ thống.
Vì vậy, đặt vấn đề nghiên cứu chọn giống hồi có năng suất chất lượng cao là việc làm cần thiết và cấp
bách. Đây là một trong những nội dung đã được đề cập tới trong đề tài thuộc chương trình 661 thực hiện
trong giai đoạn 1999-2003.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Vật liệu nghiên cứu bao gồm
- Rừng trồng Hồi ở Văn Quan, Văn Lãng và Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn
- Hom của cây con 2 tuổi gieo từ hạt.
số 04vl và cây số 02cl. Căn cứ và hình dạng và kích thước tán lá, hình dạng và kích thước quả (quả từ có từ
8-12 cánh đều nhau) của các cây dự tuyển, bằng phương phá chuyên gia đã chọn được 35 cây để lấy mẫu phân
tích.
Bảng 1. Chất lượng tinh dầu của 18 cây trội
Số tt Số hiệu
cây trội
Hàm lượng
tinh dầu (%)
Chỉ số
khúc xạ
Độ đông
(
0
C)
Anethol
1 01vq 8,33 1,550 18,5 96,94
2 06vq 7,61 1,552 17,5 95,59
3 09vq 8,71 1,550 18,0 96,70
4 11vq 9,72 1,555 19,0 98,57
5 14vq 7,32 1,551 18,0 95,61
6 02cl 9,15 1,553 18,0 96,02
7 03cl 8,69 1,550 17,5 95,81
8 02vl 7,65 1,557 18,0 98,05
9 03vl 7,32 1,551 18,0 95,61
10 04vl 7,00 1,545 17,7 95,59 11 10vl 7,65 1,549 17,0 95,70
12 11vl 7,75 1,551 17,5 95,47
13 12vl 7,00 1,551 18,5 95,75
kích thích ra rễ cao nhất trong 3 công thức có tỷ lệ thuốc khác nhau và có tác dụng tương đương với loại
thuốc IAA (1%). Các công thức thí nghiệm sử dụng hỗn hợp 2 loại thuốc trên tuy có kích thích ra rễ nhưng tỷ
lệ ra rễ không cao (≤50%). Xét về số lượng và chiều dài bình quân của rễ được thể hiện qua chỉ số ra rễ thì
thuốc IAA có tác dụng kích thích ra rễ mạnh hơn thuốc IBA.
Bảng 2. Ảnh hưởng của thuốc và tỷ lệ thuốc đến khả năng ra rễ của hom
Loại thuốc T.L thuốc hỗn
hợp (%)
Tỷ lệ ra rễ
(%)
Số rễ/hom
(cái)
Độ dài rễ (cm) Chỉ số ra rễ
IAA
1,5 50,0 3,40 3,00 10,20 1,0 70,0 3,70 3,00 11,10
0,5 26,7 3,00 2,30 6,90
1,5 50,0 2,80 2,40 6,72
1,0 70,0 2,70 3,00 8,10
IBA
0,5 20,0 2,50 2,00 5,00
40,0 3,25 3,25 10,45
20,0 2,50 3,00 7,50
IAA
0,25
+IBA
0,75
IAA
0,5
IBA (1%)
IBA (1%)
2
7
7
7
66,7
69,0
18,0
00
Số liệu ở bảng 3 một lần nữa khẳng định rằng hom cành càng già thì càng khó ra rễ. Trong phạm vi thí
nghiệm này, hom chồi đầu cành hoàn toàn không có khả năng ra rễ, hom chồi vượt tuy có tuổi giai đoạn trẻ
hơn chồi đầu cành cũng chỉ đạt 18%, trong khi đó hom thân từ cây con 2 tuổi có khả năng ra rễ tới gần 70%.
Mặt khác, số liệu bảng 3 còn cho thấy khả năng ra rễ của hom thân vào thời điểm tháng 7 cao hơn thời điểm
tháng 2, mặc dù không nhiều.
Nhân giống bằng hom thân cây con gieo từ hạt đạt kết quả khá cao, song ít có ý nghĩa về mặt chọn
giống, dù cho những hạt giống đó được thu hái từ các cây mẹ đã được chọn lọc cẩn thận. Tuy nhiên, kết
quả này cũng rất có ý nghĩa về mặt sản xuất trong giai đoạn trước mắt khi chưa có giống tốt để cung cấp,
bằng phương pháp nhân giống này có thể giải quyết do thiên tai hoặc mất mùa do chu kỳ sai quả. Hơn nữa,
hạt Hồi là loại hạt khó bảo quản, thay vì việc bảo quản hạt giống trong kho, bằng phương pháp này có thể
lưu giữ liên tục được giống vườn ươm để cung cấp cho sản xuất.
3.2.2. Thăm dò nhân giống băng phương pháp ghép Ngoài việc duy trì bản chất của di truyền của cây mẹ, phương pháp ghép có thể khắc phục được nhược
điểm của phương pháp giâm hom đối với những loài cây “khó tính” như cây Hồi. Với ý tưởng đó, đề tài đã
tiến hành nghiên cứu thăm dò thời vụ và phương pháp ghép Hồi với các vật liệu là chồi đầu cành của các
cây mẹ 10 tuổi và cây mẹ >25 tuổi. Gốc ghép là cây con 2 tuổi được tạo từ hạt, đường kính cổ rễ từ 0,5-
0,7cm, chiều cao từ 0,7-0,8m.
Bảng 4. Kết quả thăm dò thời vụ, phương pháp và vật liệu ghép
-
11,1
0,0
81,5
-
-
71,8
Thời điểm tháng 5/1999 đề tài đã tiến hành thử nghiệm 2 phương pháp ghép (ghép nêm và ghép áp) vừa
để thăm dò phương pháp ghép vừa kết hợp thăm dò thời vụ ghép. Kết quả bảng 4 cho thấy phương pháp
ghép áp có tỷ lệ sống cao hơn ghép nêm. Do vậy, thời điểm tháng 9 và tháng 11/1999 đề tài đã chọn
phương pháp ghép áp để tiếp tục thăm dò thời vụ ghép. Kết quả ghép áp với hom cành của cây 10 tuổi tại 3
thời điểm cho thấy tỷ lệ sống của cây ghép đạt cao nhất vào tháng 11, sau 2 tháng tỷ lệ sống vẫn đạt 81,5%.
Kết quả ghép đợt tháng 5 cho thấy tuy sau 2 tháng tỷ lệ sống của cây ghép đạt tới 40% nhưng sau 4 tháng
thì tỷ lệ sống giảm chỉ đạt 11,1%. Sau khi ghép được 2 tháng tỷ lệ sống của cây ghép đợt tháng 9 chỉ đạt
6,6% và sau 4 tháng thì chết hoàn toàn. Kết quả này cho thấy từ tháng 5 đến tháng 9 có thể không phải là
thời vụ thích hợp để ghép Hồi, mà thời vụ thích hợp có thể vào khoảng tháng 10-11 hoặc đến tháng 12.
Ngoài ra, vào thời điểm tháng 11 đề tài còn kết hợp thăm dò phương pháp ghép áp với các vật liệu là
chồi đầu cành của cây 10 tuổi và cây >25 tuổi. Kết quả bảng 4 cũng cho thấy cành ghép lấy từ cây 10 tuổi
có tỷ lệ sống cao hơn cành ghép lấy từ cây >25 tuổi. Sau khi ghép được 2 tháng cành ghép đã tiếp hợp gốc
ghép và nhú chồi, sau 3 tháng vết ghép đã liền và ra lá non. Một điểm đáng chú ý khi nhân giống bằng
phương pháp ghép là thời tiết khi ghép, nếu ngày tiến hành ghép hoặc sau ngày ghép khoảng 1 tuần mà
gặp mưa thì tỷ lệ sống của cây ghép rất thấp. Giai đoạn từ 2 tháng 4 tháng sau khi ghép, tỷ lệ sống của cây
ghép có giảm, nhưng không nhiều (khoảng 10%). Theo kinh nghiệm thì tỷ lệ sống của cây ghép trong tháng
đầu tiên hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật ghép và tiêu chuẩn cành ghép. Trong giai đoạn từ tháng thứ 2
đến tháng thứ 4 tỷ lệ sống giảm nhiều hay ít phần lớn phụ thuộc vào chế độ và kỹ thuật chăm sóc.
3.3. Thí nghiệm nhân giống mở rộng.
Căn cứ những kết quả bước đầu đã được, đề tài đã tiến hành thí nghiệm nhân giống riêng rẽ cho từng
cây mẹ. Nhưng do đặc điểm của những cây ra quả ở đầu cành như cây Hồi, những cây sai quả thường thì
chồi đầu cành rất già và xấu, nên có những cây mẹ hoàn toàn không chọn được hoặc chọn được rất ít chồi
đạt tiêu chuẩn để ghép. Chính vì vậy, chỉ có 11 cây mẹ đã chọn lọc được theo sản lượng quả và hàm lượng
sống của các cây ghép tuy có giảm nhưng vẫn đạt ≈74%. Như vậy, kết quả thí nghiệm mở rộng tương đối
phù hợp với kết quả của các thí nghiệm thăm dò. Mặt khác, kết quả bảng 5 cho thấy vật liệu lấy từ các cây
mẹ khác nhau thì cây ghép có tỷ lệ sống rất khác nhau, sau 3 tháng ghép cây 10 tuổi như cây số 9 cho các
cành ghép sống tới 100%, cây mẹ >25 tuổi như cây số 1 cho cành ghép sống >70% và cao nhất tới 88,9%
kể cả cây 10 tuổi và cây >25 tuổi, chỉ có 3 cây cho cành mà tỷ lệ sống của cây ghép <50% nhưng đều là cây
10 tuổi. Điều này chứng tỏ tuổi cây mẹ ảnh hưởng chưa rõ hoặc không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cây
ghép, mà tuổi giai đoạn và tiêu chuẩn của cành ghép mới là yếu tố quyết định. Như vậy, ghép là phương
pháp rất có triển vọng để nhân giống cho cây Hồi, có thể nói kết quả này là một trong những cơ sở quan rất
quan trọng góp phần để cải thiện giống Hồi có năng suất và chất lượng trên cơ sở giống đã được chọn lọc. 4. KẾT LUẬN
- Thuốc IBA (1%) và IAA(1%) có tác dụng kích thích ra rễ của hom thân cây Hồi 2 tuổi đạt tới 70%, thời
vụ giâm hom tốt có thể vào tháng 7-8 hàng năm. Chồi vượt và chồi đầu cành của cây >25 tuổi rất khó ra rễ,
thậm chí không ra rễ.
- Bằng phương pháp ghép áp với vật liệu là chồi đầu cành cảu cả cây 10 tuổi và cây >25 tuổi, sau 5
tháng cây ghép đạt tỷ lệ sống ≈74%. Trong phạm vi nghiên cứu này, thời vụ ghép có thể tốt nhất vào tháng
10-11 hàng năm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Mê Linh,1977. Bước đầu khảo sát động thái tích luỹ tinh dầu và điều kiện sử lý quả Hồi
(Illicium verum HooK). Tổng luận chuyên đề KHKT, Viện Lâm nghiệp, Bộ Lâm Nghiệp,
2. Nguyễn Ngọc Tân, Đặng Thuận Thành, Lê Viết Bồng,1984. Nhân giống cây Hồi bằng hom cành. Tóm
tắt báo cáo khoa học, 12 trang.