áp DụNG TiếN Bộ Kỹ THUậT Để XÂY DựNG MÔ HìNH Sử DụNG ĐấT HợP Lý nhằm
phục hồi môi trờng sinh thái và tăng thu nhập của nông dân VùNG Núi
NHAM BiềN, HUYệN YÊN DũNG, BắC GiANG
(1998- 2001)
Chủ nhiệm dự án: PGS.TS Ngô Đình Quế
Cộng tác chính: ThS. Đinh Văn Quang
CN. Nguyễn Đức Minh
Trung tâm NC Sinh thái và Môi trờng rừng
1 . Giới THiệU Dự áN
Yên Dũng là một huyện miền núi nghèo của tỉnh Bắc Giang. Tài nguyên rừng cạn kiệt. Toàn bị
rừng tự nhiên bị phá hủy từ nhiều thập kỷ nên phần đồi núi bị xói mòn nghiêm trọng. Rừng thông
trồng đến năm 1994 đã bị phá hủy hoàn toàn. Rừng trồng chỉ có 876 ha mới trồng trong 5 năm gần
đây. Đất lâm nghiệp còn lại là đồi núi trọc tập trung ở Nham Biền. Đây là một dải núi nằm giữa đồng
bằng với gần 100 ngọn núi cao thấp khác nhau. Các đỉnh cao nhất 261m, đỉnh trung bình và thấp
khoảng 100m trên mặt biển.
Thực hiện nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và quyết định số 72/HĐBT của Chính phủ về việc
phát triển toàn diện kinh tế xã hội ở miền núi nhằm ổn định và nâng cao đời sống của đồng bào các
dân tộc, Bộ Khoa học và Công nghệ Môi trờng trong các hoạt động hỗ trợ khoa học công nghệ các
tỉnh miền núi và dân tộc đã chấp thuận cho xây dung và tổ chức thực hiện dự án: "áp dụng tiến bộ
kỹ thuật để xây dựng mô hình sử dụng đất hợp lý nhằm phục hồi môi trờng sinh thái và góp
phần tăng thu nhập của nông dân vùng núi Nham Biền huyện Yên Dũng - Bắc Giang" và giao
cho Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trờng rừng và Sở Khoa học Công nghệ và MT tỉnh Bắc
Giang thực hiện từ tháng 12/1997 - 12/2000 .
Hai điểm đợc lựa chọn để xây dựng mô hình là thôn Bình An thuộc xã Tiền Phong và làng Vây
thuộc thị trấn Neo. Cả hai thôn này là đại diện cho các xã thuộc khu vực núi Nham Biền, huyện Yên
Dũng. 2. CáC KếT QUả ĐạT ĐƯợC CủA Dự áN .
2.1. Xây dựng mô hình trồng rừng phục hồi môi trờng sinh thái vùng đồi núi trọc Nham Biền
.
Hớng dẫn kỹ thuật sử dụng thớc chữ A để xây dựng các bậc thang trồng cây ăn quả và các
băng cây xanh: Cốt khí + Dứa theo đờng đồng mức, chống xói mòn.
Sau 3 năm thực hiện dự án, đã trồng đợc 10,7 ha vờn cây ăn quả trên đất dốc, vợt kế hoạch 0,7ha.
Các cây ăn quả có tỷ lệ sống cao >90%. Mặc dù trồng trong điều kiện thời tiết địa phơng không
đợc thuận lợi nh nắng hạn kéo dài, thiếu nớc tớitrong đó cây xoài có triển vọng tốt nhất, chỉ
trong 18 tháng có đờng kính d=7cm và chiều cao trung bình >1,5m, nhiều cây đã bắt đầu cho quả.
Các loại cây vải thiều , Hồng không hạt, Đu đủ Đài Loan có nhiều triển vọng tốt và một số cây đã bắt
đầu ra trái và cho thu hoạch.
2.3. Xây dựng đợc mô hình sử dụng đất dốc bền vững SALT + VAC trên đất đồi núi trọc xấu
ở Nham Biền
Trong những năm 1987-1989 các mô hình sử dụng đất dốc bền vững SALT1, SALT2, SALT3,
SALT4 đã đợc nghiên cứu thành công ở Philipin và đã đợc áp dụng ở nhiều nớc Đông Nam á,
trong đó có Việt Nam
2
- Tuy nhiên mô hình SALT áp dụng ở dự án đã đợc thay đổi, có tính sáng tạo để phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở địa phơng vùng đồi núi trọc Nham Biền, đất rất xấu, bị thoái hóa
mạnh, mỏng lớp, nhiều đá lẫn.
- Sờn cao và đỉnh: 70% tổng diện tích đợc trồng rừng hỗn loài: Thông + Keo + Trám.
- Sờn thấp và chân: Chiếm 30% tổng diện tích xây dựng vờn cây thân gỗ, trên cơ sở các bậc
thang và các đai băng cây xanh theo đờng đồng mức : Kết hợp với mô hình vờn + ao + chuồng
(VAC) đã đợc áp dụng rộng rãI ở Việt Nam, đó là một sáng tạo đặc thù của nớc ta.
- Các ao nuôi cá ở chân đồi, đã chứa đợc nhiều nớc từ các dòng chảy trên mặt đất dốc trong mùa
ma. Tới mùa khô, ao cá lại chứa nớc từ các dòng chảy kiệt theo các khe suối trong rừng, chảy
tới các vùng thấp.
- Đặc biệt, dự án làm theo các công trình bể treo trên các sờn đồi cao, để chứa nớc từ các dòng
chảy trên mặt trong mùa ma (khoảng 24-25% tổng lợng nớc ma tơng đơng 3750m3 nớc/
ha, vì ở Nham Biền đất đồi núi trọc, thoáI hóa mạnh, với độ dốc lớn, có lợng ma
1500mm/năm). Biện pháp đó có tác dụng làm giảm bớt khối lợng nớc chảy trên mặt đất trong
- Trồng rừng hỗn loài có một số u điểm sau đây (rừng Thông + Keo).
ắ Tăng khả năng cải tạo đất của rừng trồng Thông.
ắ Giảm sâu bệnh
ắ Phòng cháy cho rừng thông tốt hơn
ắ Nâng cao hiệu quả kinh tế củạ rừng trồng.
Ví dụ: Rừng hỗn loài thông + keo, năng suất gỗ có khả năng đạt 5,9m3 gỗ thông +3,3m3 gỗ
keo/ha/năm. trị giá khoảng 2 triệu/ha/năm.
- Trám trắng là một loài cây gỗ bản địa, mọc nhanh, thân rất thẳng. lá rộng thờng xanh. tán lá rậm
và gọn, gỗ cung cấp cho công nghiệp (gỗ bóc, lạng), cây Trám trắng cho nhựa cao hơn Thông
nhiều lần và cho quả làm thực phẩm.
Sau 10 năm, một cây Trám trắng chắc chắn sẽ cho lOkg quả/cây/1 ha trồng xen, 50 cây Trám cho
thu nhập 500kg quả x 3.000đ/kg = l.500.000đ/ha/năm.
Nh vậy, l ha rừng trồng trên đất đồi núi trọc, kiệt màu ở Nham Biền (Bắc Giang) sẽ cho thu nhập tới
3.500.000đ/ha/năm tơng đơng với 2 tấn thóc, ngoài tác dụng tích cực phục hồi môi trờng sinh
thái trong vùng.
3.2. Vờn quả trên đất dốc
Xây dựng vờn quả cây thân gỗ (lâu năm) trên đất dốc vừa có tác dụng tốt đối với môi trờng,
vừa có tác dụng tăng thu nhập về kinh tế đáng kể cho các hộ nông dân, nâng cao đời sống của nông
dân ở miền núi. Vờn quả lại cho thu nhập hàng năm, giải quyết đợc vốn đầu t cho trồng rừng, với
luân kỳ khai thác phải tới 10 năm hoặc lâu hơn nữa.
Các hộ nông dân không xây dựng đợc vờn quả, họ thờng thiếu vốn đầu t chăm sóc rừng
trồng nên khuynh hớng muốn khai thác các rừng trồng sớm hơn quy trình kỹ thuật.Nhiều địa ph-
ơng đă kêu gọi lấy ruộng nuôi rừng nhng diện tích đất ruộng ở vùng đồi núi của mỗi hộ nông dân
lại quá ít, không đủ nuôi sống gia đình ngời nông dân trong cả năm. Cho nên vờn quả có vai trò
quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế nông lâm nghiệp ở vùng đồi núi.
Ví dụ: Vờn Vải thiều của các hộ nông dân thực hiện nằm ở dới sờn thấp dới chân đồi, độ
dốc < 150 l ha, Vải thiều trồng với mật độ 6m x 5m = 320 cây/ha, đầu t nh sau:
Tổng kinh phí đầu t cho 1 ha vờn quả Vải thiều trên đất dốc trong 3 năm đầu là:
43.205.OOOđ.
+ Diện tích đất đồi núi trọc ở nớc ta còn nhiều, trên 10 triệu ha đang bỏ hoang.
+ Có thu nhập và hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa mặc dù đợc trồng trên đất rất xấu, đồi núi trọc.
6. Kết luận, kinh nghiệm v kiến nghị.
6.1. Kết luận
Qua 3 năm thực hiện Dự án, Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trờng rừng, Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với UBND huyện, Phòng Nông nghiệp huyện, Sở
KHCN và Môi trờng tỉnh Bắc Giang, UBND các xã nơi thực hiện Dự án đã chỉ đạo thực hiện Dự án
có kế hoạch, từng bớc cụ thể và đạt kết quả tốt.
Các hoạt động của Dự án đợc đánh giá tốt qua hội nghị đầu bờ, tham quan, kiểm tra của UBND tỉnh
Bắc Giang, Sở KHCN Môi trờng và Sở Nông nghiệp và PTNT.
5
Dự án đã góp phần thực hiện phơng hớng phát triển kinh tế xã hội, ổn định và nâng cao đời sống
của nhân dân trong huyện.
6.2. Các kinh nghiệm
- Để thực hiện Dự án có kết quả phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ơng và địa phơng,
đặc biệt là với xã và huyện. .
- Việc xác định các mô hình sản xuất và cơ cấu cây trồng phải dựa vào các điều kiện tự nhiên,
tập quán sản xuất và nguyện vọng của ngời dân địa phơng, không thể áp đặt các mô hình ở nơi
khác vào và cũng không thể chỉ lấy các mô hình đã có địa phơng để áp dụng.
- Việc tiến hành tập huấn kỹ thuật phải đợc thực hiện trớc khi thực thi các hạng mục công
trình của Dự án để ngời dân biết mình cần phải làm gì sau khi quy hoạch đất đai sản xuất cho gia
đình họ.
6.3. Kiến nghị
- Phủ xanh đất trống đồi núi trọc là một chủ trơng chính sách lớn của Nhà nớc, cụ thể hiện
nay là thực hiện tốt chơng trình 5 triệu ha rừng, muốn thành công cần phải mở rộng mô hình ở Yên
Dũng 70% là trồng rừng, 30% diện tích là xây dựng vờn quả, để ngời dân có thu nhập thờng