Nghiên cứu khoa học " Kết quả bước đầu chọn giống và nhân giống vô tính cây Hồi " - Pdf 14

Kết quả bớc đầu chọn giống v nhân giống vô tính cây Hồi

Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hng
Trung tâm NC Lâm đặc sản 1. Đặt vấn đề
Hồi (Ilicium verum Hook.F) là cây đa mục đích vừa có tác dụng che phủ bảo vệ đất vừa
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tinh dầu hồi là nguyên liệu quí trong công nghiệp dợc phẩm và
thực phẩm. Hơn nữa, hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số nớc trên thế giới nên tinh dầu hồi còn
là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Hàng năm các nớc trên thế giới đã tiêu thụ khoảng 25000 tấn
tinh dầu, trong đó các nớc Châu á tiêu thụ khoảng 28%, các nớc Châu Mỹ tiêu thụ khoảng
40%, các nớc Châu Âu 20%, còn lại ở các nớc khác (Pavlovna, 1977, dẫn từ Nguyễn Ngọc
Tân, 1987). Nh vậy, nhu cầu sử dụng tinh dầu Hồi trên thế giới là rất lớn. ở nớc ta, hồi đợc
trồng nhiều ở các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc, nhng tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, đa số rừng
hồi hiện nay có nguồn giống cha đợc cải thiện, nên năng suất còn rất thấp. Để nâng cao năng
suất chất lợng rừng Hồi, việc cải thiện giống Hồi là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học
lẫn thực tế sản xuất. Chọn giống và nhân giống vô tính là hai nội dung quan trọng trong quá
trình cải thiện giống cây rừng nói chung và giống Hồi nói riêng, đồng thời là một trong những
nội dung của đề tài Xây dựng mô hình rừng Hồi có sản lợng cao trên cơ sở giống đã đợc
chọn lọc thuộc chơng trình 661 mà Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã thực hiện từ năm
1999-2003. Trong phạm vi bài này xin giới thiệu kết quả bớc đầu về vấn đề chọn giống và nhân
giống vô tính.

2. Vật liệu và phơng pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
- Hom của cây con 2 tuổi gieo từ hạt, hom cành của cây mẹ 10 tuổi và >25 tuổi.
- Rừng Hồi trồng ở Văn Quan, Cao Lộc và Văn Lãng (Lạng Sơn).
- Gốc ghép là cây con 2 tuổi gieo từ hạt.
- Thuốc kích thích: IBA (Indo Butilic Acid).


3.1. Kết quả chọn giống
Căn cứ vào sản lợng quả thực tế ở trên cây đã chọn đợc 100 cây dự tuyển ở 3 huyện
trọng điểm trồng Hồi là Văn Quan, Cao Lộc và Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn, các cây dự tuyển
đều có sản lợng quả cao hơn sản lợng trung bình của lâm phần từ 20% trở lên. Bằng phơng
pháp phỏng vấn để xác định những cây thờng xuyên sai quả trong vòng 2-3 năm gần nhất kết
hợp với phơng pháp chuyên gia chọn hình dáng bộ tán lá, hình dáng và kích thớc quả của từng
cây đã xác định đợc 35 cây trội để lấy mẫu phân tích hàm lợng tinh dầu, hàm lợng anethol và
độ đông (35 cây trong số 100 cây đã sơ tuyển ở trên).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mê Linh (1977) thì hàm lợng tinh dầu trong quả
Hồi biến động rất rõ qua các tháng trong năm, cao nhất vào tháng 6 (12,24%), thấp nhất vào
cuối tháng 4 và tháng 9 (tơng ứng là 8,66 và 7,69%%). Tổng hợp kết số liệu chọn giống về sản
lợng quả và chất lợng tinh dầu đã phân tích cho thấy sản lợng quả của 35 cây trội biến động
từ 20-47,33%, hàm lợng tinh dầu của 38 mẫu quả (gồm 35 mẫu quả của 35 cây trội và 3 mẫu
quả hỗn hợp của 3 quần thể đại diện) biến động từ 5,12-9,72%, độ đông biến động từ 15,0-
19,0
0
C, hàm lợng anethol trong tinh dầu biến động từ 89,10-98,57%. Kết hợp cả sản lợng quả
và chất lợng tinh dầu của 35 cây trội dự tuyển trên đã chọn ra đợc 18 cây vừa có sản lợng quả
cao và vừa có chất lợng tinh dầu tốt đợc thể hiện ở bảng 01 dới đây.
Các cây trội đợc chọn từ cây thứ nhất đến cây thứ 18 là những cây thờng xuyên sai quả
và sản lợng quả hiện tại năm 1999 vợt trội so với số trung bình của những cây

Bảng 01. Sản lợng quả và chất lợng tinh dầu của 35 cây trội

Số
tt
Số
hiệu
cây
trội

6 14vq* >25 40 29,553,98 35,36 7,32 95,61 3 năm
7 02cl* >25 46 32,254,03
42,63
9,15 96,02 3 năm
8 03cl* >25 45 33,304,35 35,14 8,69 95,81 3 năm
9 02vl* 10 12 9,552,07 25,65 7,00 95,59 2 năm
10 03vl* 10 14 10,652,15 31,45 7,65 95,05 2 năm
11 10vl* 10 9,5 7,252,13 31,03 7,65 95,70 2 năm

2
12 11vl* 10 14 9,872,29
41,84
7,75 95,47 2 năm
13 12vl* 10 11 8,752,07 25,71 7,00 95,75 2 năm
14 14vl* 10 12,5 9,672,35 29,26 8,20 96,19 2 năm
15 17vl* 10 13 9,252,12 40,54 7,32 95,70 2 năm
16 22vl* 10 9 6,51,26 38,46 7,87 95,43 2 năm
17 23vl* 10 8 5,431,17
47,33
8,94 95,47 2 năm
18 24vl* 10 10 7,821,33 27,88
9,52 97,50
2 năm
19 12vq >25 35 29,153,22 20,07 5,12 90,10 2 năm
20 13vq >25 40 32,514,55 23,04 6,67 92,70 1 năm
21 25vq >25 35 28,884,22 21,19 7,10 93,70 2 năm
22 27vq >25 45 37,505,11 20,00 7,00 93,50 2 năm
23 31vq >25 37 30,413,25 21,67 6,78 89,10 3 năm
24 01cl >25 30 24,714,45 21,41 6,89 90,10 3 năm
25 04cl >25 35 29,153,87 20,07 6,95 92,50 2 năm

tất cả các công thức thí nghiệm đợc sử dụng đồng nhất một loại thuốc IBA(1%).
Số liệu thu đợc ở bảng 02 một lần nữa khảng định rằng hom cành già rất khó ra rễ.
Trong phạm vi thí nghiệm này hom chồi đầu cành hoàn toàn không có khả năng ra rễ, hom chồi
vợt tuy có tuổi giai đoạn trẻ hơn chồi đầu cành cũng chỉ ra rễ đợc 18,4%, trong khi đó hom lấy
từ cây con 2 tuổi có khả năng ra rễ từ 66,7-69,2%. Mặt khác, số liệu bảng 02 còn cho thấy khả
năng ra rễ của hom giâm vào thời điểm tháng 7 (69,2%) cao hơn thời điểm tháng 2 (66,7%) mặc
dù không nhiều.

3

Bảng 02: ảnh hởng của tuổi cây và thời vụ lấy hom.

Tuổi cây mẹ
lấy hom
Loại thuốc
và tỷ lệ
Thời điểm
(tháng)
Tỷ lệ ra rễ
(%)
1. Hom cây 2 tuổi
gieo từ hạt

IBA(1%)

2

66,7
2. Hom cây 2 tuổi
gieo từ hạt

bằng phơng pháp này có thể lu giữ liên tục đợc giống trong vờn ơm để cung cấp giống cho
sản xuất.

3.2.2. Thăm dò nhân giống bằng phơng pháp ghép
Ghép cây là một trong những phơng pháp nhân giống sinh dỡng đợc áp dụng phổ
biến trong nghiên cứu chọn giống cây ăn quả nh: Nhãn, Vải, Xoài, Hồng, Gần đây, trong
Lâm nghiệp cũng đã ứng dụng công nghệ ghép thành công cho một số loài cây rừng. Đặc biệt,
ghép Trám để phục vụ mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp lấy quả. Ngoài việc duy trì bản
chất di truyền của cây mẹ, phơng pháp ghép có thể khắc phục đợc nhợc điểm của phơng
pháp giâm hom đối với những loài cây "khó tính" nh cây Hồi. Với ý tởng đó, đề tài đã tiến
hành nghiên cứu thăm dò thời vụ và phơng pháp ghép Hồi với các vật liệu là chồi đầu cành của
các cây mẹ 10 tuổi và cây mẹ > 25 tuổi. Gốc ghép là cây con 2 năm tuổi đợc gieo tạo từ hạt,
đờng kính cổ rễ từ 0,6-0,8cm, chiều cao từ 0,7-0,8m.
Tháng 5/1999 đề tài đã tiến hành thử nghiệm thăm dò 2 phơng pháp ghép (ghép nêm và
ghép áp) với vật liệu ghép là chồi đầu cành của cây 10 tuổi. Kết quả theo dõi sau 2 tháng cho
thấy phơng pháp ghép áp và ghép nêm có tỷ lệ sống gần tơng đơng nhau (ghép áp có tỷ lệ
sống 40,1% và ghép nêm 38,8%). Do vậy, thời điểm tháng 9 và tháng 11/1999 đề tài chỉ chọn
phơng pháp ghép áp để tiếp tục thăm dò thời vụ ghép với vật liệu lấy từ cây 10 tuổi và 25 tuổi.
Bảng 03. Thí nghiệm thăm dò thời vụ và vật liệu ghép
Tỷ lệ sống sau 2 tháng
(%)
Tỷ lệ sống sau 4 tháng
(%)

Thời vụ ghép
10 tuổi >25 tuổi 10 tuổi >25 tuổi
Tháng 5/1999 40,1 - 11,1 -
Tháng 9/1999 6,6 - 00 -
Tháng 11/1999 89,0 81,2 81,5 71,8


3.3. Thí nghiệm nhân giống mở rộng
Căn cứ những kết quả bớc đầu đã đạt đợc, đề tài đã tiến hành thí nghiệm nhân giống
riêng rẽ cho từng cây mẹ. Nhng do đặc điểm của những cây ra quả ở đầu cành nh cây Hồi,
thờng những cây sai quả thì chồi đầu cành rất già và cằn cỗi, nên có những cây mẹ hoàn toàn
không chọn đợc hoặc chọn đợc rất ít chồi đạt tiêu chuẩn để ghép. Chính vì vậy, chỉ có 11/18
cây mẹ (*) đã đợc chọn lọc theo sản lợng quả và hàm lợng tinh dầu tham gia nhân giống mở
rộng, còn lại 9 cây khác đợc chọn theo sản lợng quả để bổ sung cho tập hợp giống, các cây bổ
sung này cũng đều có sản lợng quả vợt trội từ 21-26%. Trong số 20 cây mẹ tham gia nhân
giống ở bảng 04 có 10 cây ở tuổi >25 năm (không rõ chính xác năm trồng) bao gồm các cây từ
số 1-5 và 12-16, còn lại là ở tuổi 10 năm (trồng năm 1990).
Kết quả ở bảng 04 cho thấy tỷ lệ sống bình quân của cây ghép sau 3 tháng đạt hơn 79%,
sau hơn 5 tháng tỷ lệ sống của các cây ghép tuy có giảm nhng vẫn đạt gần 74% và sau 14 tháng
giảm mạnh chỉ còn gần 46%. Nh vậy, kết quả thí nghiệm mở rộng tơng đối phù hợp với kết
quả của các thí nghiệm thăm dò. Mặt khác, kết quả bảng 04 còn cho thấy cành ghép lấy từ các
cây mẹ khác nhau thì cây ghép có tỷ lệ sống rất khác nhau, sau 3 tháng ghép cây 10 tuổi nh cây
số 23vl cho các cành ghép sống tới 100%, nhng cây mẹ >25 tuổi nh cây số 1vq cho cành ghép
cũng đạt tỷ lệ cây sống tới 91,2%. Sau 5 tháng, phần lớn cành ghép của các cây mẹ sống >70%
kể cả cây 10 tuổi và cây >25 tuổi, cao nhất tới 88,9%, chỉ có 3 cây mẹ cho cành mà tỷ lệ sống
của cây ghép <50% gồm cả cây 10 tuổi và cây 25 tuổi.
Sau 14 tháng số cây mẹ cho cành ghép có tỷ lệ sống 50% chỉ có 9 cây, cao nhất là cây
số 01vq đạt tới 66,4%. Chứng tỏ tuổi cây mẹ cho cành ghép ảnh hởng cha rõ hoặc không ảnh
hởng đến tỷ lệ sống của cây ghép, mà phụ thuộc vào từng cây mẹ cho cành ghép. Mặt khác,
tuổi giai đoạn và tiêu chuẩn của cành ghép cũng là yếu tố cần phải đợc nghiên cứu kỹ hơn. Tuy
cha có thí nghiệm riêng giữa chồi vợt và chồi đầu cành, song trong quá trình thực hiện nhận
thấy rất rõ sự khác nhau giữa cây ghép với chồi vợt và cây ghép với chồi đầu cành. Cây ghép

5
bằng chồi vợt cho tỷ lệ sống cao hơn và khả năng sinh trởng cũng tốt hơn cây ghép với chồi
đầu cành.


T.L.S
(%)
1 01vq* >25 113 103 91,2 95 84,1 75 66,4
2 11vq* >25 36 31 86,1 31 86,1 20 55,6
3 02cl* >25 102 82 80,4 82 80,4 57 55,9
4 03cl* >25 85 69 81,2 61 71,8 54 63,5
5 04vq* >25 190 168 88,4 162 85,3 121 63,7
6 06vq* 10 49 34 69,4 28 57,1 15 30,6
7 11vl* 10 45 40 88,9 40 88,9 17 37,8
8 12vl* 10 52 25 48,1 20 38,5 13 25,0
9 22vl* 10 57 50 87,7 50 87,7 25 43,9
10 23vl* 10 9 9 100.0 8 88,9 5 55,6
11 24vl* 10 37 32 86,5 31 83,4 19 51,4
12 13vq >25 55 29 52,7 20 36,4 11 20,0
13 11cl >25 46 22 47,8 19 41.3 8 17,4
14 15cl >25 65 57 87,7 47 72,3 7 10,8
15 23cl >25 59 36 61,0 36 61,0 25 42,4
16 05cl >25 45 39 86,7 39 86,7 28 62,2
17 05vl 10 52 45 86,5 40 76,9 17 32,7
18 06vl 10 27 22 81,5 22 81,5 7 25,9
19 09vl 10 38 31 81,6 30 78,9 19 50,0
20 27vl 10 40 26 65.0 26 65,0 9 22,5

1202 950 79,03 887 73,79 552 45,92

Nh vậy, ghép là phơng pháp rất có triển vọng để nhân giống Hồi, có thể nói kết quả
này là một trong những cơ sở khoa học rất quan trọng góp phần để cải thiện giống Hồi có năng
suất và chất lợng cao trên cơ sở giống đã đợc chọn lọc. Nhng công việc này cũng rất tốn kém
về thời gian và kinh phí, nhất là các khâu tạo chồi từ cây mẹ và nuôi dỡng cây trong vờn ơm.
Tính riêng từ khi gieo hạt đến khi cây con đạt tiêu chuẩn làm gốc ghép mất 24 tháng và thời gian

T.L.S
(%)
Số gốc
ghép
Số cây
sống
T.L.S
(%)
1 Vqu 20 301 132 130 98,48 169 167 98,82
2 Vqu 21 204 64 61 95,31 140 139 99,29
3 Vqu 22 330 156 155 99,36 174 174 100,0
4 Vqu 23 260 175 171 97,71 85 83 97,65
1095 527 517 97,72 568 563 98,94

Kết quả kiểm kê sau 2 tháng (bảng 05) cho thấy tỷ lệ cây sống của cây ghép khá cao,
trung bình ở phơng pháp ghép áp đạt 97,72%, ghép nêm cũng đạt tới 98,94%. Nh vậy, lần này
ghép vào tháng 12/2003 sau 2 tháng cả phơng pháp ghép áp và ghép nêm có tỷ lệ sống khá cao.
Để có kết luận chắc chắn cần phải có thời gian theo dõi thêm. Tuy nhiên, kết quả bớc đầu này
cũng đã bổ sung thêm cơ sở khoa học về thời vụ ghép, có thể ghép vào tháng 12 hàng năm cũng
rất có triển vọng. Ngoài ra, kinh nghiệm và kỹ năng ghép cũng là vấn đề đã góp phần vào sự
thành công này.

4. Kết luận, tồn tại và kiến nghị
4.1. Kết luận
Căn cứ vào các kết quả đã đợc phân tích trên đây, có thể rút ra một số kết luận nh sau:
- Các cây trội đợc chọn để lấy vật liệu giống đồng thời vừa có sản lợng quả vợt trội từ 21-
47,33% vừa có hàm lợng tinh dầu và hàm lợng anethol cao hơn hẳn so với số trung bình của
quần thể.
- Nhân giống bằng phơng pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA(1%), hom lấy từ cây
2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66-69%, nhng với các hom từ cây >25 tuổi có tỷ lệ ra rễ rất

1. Tạo gốc ghép
Cây con làm gốc ghép phải đợc gieo ơm từ hạt giống của những cây mẹ khoẻ mạnh, ơm
trong bầu polyetylen cỡ 18x25cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm 70-80% đất tầng A+B phát triển trên
Rhyolit hoặc đá sét, 10-15% đất nung và 10-15% phân chuồng hoai. Nơi không có đất nung thì
dùng 90% đất tầng A phát triển trên Rhyolit và 10% phân chuồng hoai. Cây con đợc nuôi
dỡng trong vờn ơm từ 20-24 tháng. Sau đó chọn những cây có đờng kính gốc (D
00
)0,8cm,
chiều cao (H)0,8m, cây khoẻ mạnh, sức sinh trởng tốt, không bị sâu bệnh.

2. Bố trí vờn ơm
- Vờn ơm phải đợc bố trí ở nơi cao ráo, thoát nớc.
- Cây con đợc xếp thành luống, hàng ngang trên luống xếp từ 10-12 bầu sát nhau sao cho chiều
ngang luống rộng khoảng 1m. Các hàng ngang trên luống xếp cách nhau đúng bằng 1 thân bầu
hoặc cứ hai hàng ngang xếp sát nhau thì để một khoảng cách bằng 2 thân bầu, giữa các khoảng
cách của hàng ngang và xung quanh luống lấp đất cao bằng mặt bầu.
- Dàn che cao từ 1,8-2,0m, dùng lới nilon đen hoặc cỏ, lá che sáng 75%, sau đó giảm dần
xuống 50% và trớc khi trồng từ 1-2 tháng giảm dần xuống còn 25%.

3. Chọn cây mẹ để lấy vật liệu ghép
Cây mẹ để lấy vật liệu ghép là những cây đã thành thục sinh sản, khoẻ mạnh, sinh trởng
vợt trội, tán lá rộng và cân đối, sai quả thờng xuyên, sản lợng quả hàng năm phải vợt trội
25% so với sản lợng bình quân tổng thể, quả to đều, đa số quả trên cây có 8 cánh.

4. Chọn cành ghép
- Cành ghép là những chồi bánh tẻ có đờng kính tơng đơng với gốc ghép, vỏ có màu xanh
thẫm, mắt và lá trên cành tha. Mỗi chồi nh vậy thờng chỉ lấy đợc 1 đoạn ở đầu cành.
- Dùng dao hoặc kéo thật sắc cắt đoạn chồi đó dài khoảng 10cm, cắt bỏ từ 1/2 đến 2/3 đầu lá
phía ngoài, sau đó ngâm ngay vào thùng đựng dung dịch benlate nồng độ 0,2-0,3% để bảo quản
và vận chuyển về vờn ơm, tiến hành ghép ngay, không nên để qua đêm.

buộc chặt ở phía dới sao cho nớc ma hoặc nớc tới không vào đợc chỗ tiếp xúc.

7. Kỹ thuật chăm sóc sau ghép
- Thờng xuyên nhổ cỏ và dùng que nhọn phá váng mặt bầu.
- Tới nớc ngày 2 lần, một lần vào khoảng 7-8 giờ sáng và một lần vào 4-5 giờ chiều, không để
nớc vào chỗ tiếp xúc giữa cành và gốc ghép.

9
- Đối với phơng pháp ghép áp, sau những trận ma, nếu có nớc ở trong túi nilon bảo vệ thì
phải tháo ra ngay. Khi thấy cành ghép bắt đầu nhú chồi thì phải tháo bỏ túi nilon bảo vệ, đồng
thời tiến hành cắt phần ngọn của cây làm gốc ghép, chỉ để lại 2-3 lá phía trên vị trí ghép. Sau khi
chồi ghép đã ra đợc 2-4 lá thì cắt hết phần thân cây của gốc ghép cách chỗ ghép khoảng 1-2cm
về phía trên.
Chú ý thờng xuyên cắt tỉa các chồi nằm ở phần gốc ghép.
- Bón thúc: khi chồi ghép đã ra đợc 2-4 lá có thể tới phân cho cây ghép mỗi tuần 1 lần. Loại
phân: đạm urê (hoặc đạm sunfat) và kali, tới riêng từng loại phân, cứ một tuần tới đạm thì một
tuần tới kali, hoà tan phân trong nớc theo tỷ lệ 1%, tới trung bình khoảng 2-4 lít dung dịch/

m
2
và tới vào buổi sáng. Chú ý không tới vào lá non và chỗ ghép.

8. Tiêu chuẩn cây ghép xuất vờn
Cây ghép đạt tiêu chuẩn xuất vờn phải là những cây khoẻ mạnh, lá xanh, phiến lá rộng bình
thờng. Chiều cao của chồi mới 20cm (tính từ vị trí ghép lên đến đỉnh sinh trởng). Thông
thờng nếu chồi ghép là các chồi vợt thì sau 12-14 tháng ghép có thể đạt đợc tiêu chuẩn,
nhng nếu chồi ghép là các chồi đầu cành thì từ 20-24 tháng mới có thể đạt đợc tiêu chuẩn và
số cây đủ tiêu chuẩn xuất vờn chỉ đạt khoảng 50%.

B. hớng dẫn Kỹ thuật trồng rừng hồi thâm canh

- Xử lý thực bì: Đối với thực bì tự nhiên, phát rạch theo đờng đồng mức rộng từ 0,8-1,0m, băng
chừa rộng 4m, nhng tốt nhất là phát cục bộ theo hố đờng kính rộng từ 0,8-1,0m. Đối với thực
bì tha không đảm bảo độ che phủ hoặc đất không có thảm thực vật tự nhiên phải tiến hành gieo
trồng cây họ đậu thân gỗ bổ sung hoặc tạo lập lớp thảm mới hoàn toàn sao cho cây hồi con đợc
che bóng lúc ban đầu 70%.
- Làm đất: làm đất cục bộ bằng thủ công, cuốc hố trớc khi trồng 2 tháng, kích thớc hố
40x40x40cm.
- Bón lót: bón từ 2-3kg phân chuồng/hố hoặc 1kg phân chuồng + 3-5kg phân xanh/hố, bỏ phân
và lấp hố để ủ trớc khi trồng trớc 1 tháng.

6. Trồng cây
Lấp đất bổ sung gần đầy hố (cách miệng hố phía dới dốc 5-7cm), đảo phân đều trong hố
và cuốc một lỗ nhỏ giữa hố. Trớc khi đặt bầu cây vào hố phải bóc bỏ vỏ bầu, tránh làm vỡ bầu
đất, đặt ngay ngắn cây vào giữa hố, lấp đất bột và ấn nhẹ xung quanh, tiếp tục xới lớp đất mặt
xung quanh vun vào cho đầy hố (bằng miệng hố phía dới dốc).

7. Chăm sóc rừng trồng
- Trong 3 năm đầu mỗi năm chăm sóc 3 lần, lần 1 vào vụ xuân, lần 2 vào vụ hè-thu và lần 3 vào
vụ thu-đông. Nội dung chăm sóc: dãy cỏ, xới xáo cục bộ quanh gốc cây rộng 0,8m, phát dọn dây

11
leo, cây cỏ lấn át và bón phân. Riêng năm thứ nhất sau khi trồng đợc 1 tháng phải tiến hành xới
xáo và vun gốc kết hợp trồng dặm.
- Từ năm thứ 4 đến năm thứ 6 chăm sóc mỗi năm 2 lần, lần 1 vào vụ xuân, lần 2 vào vụ thu. Nội
dung chăm sóc: cuốc xới xung quanh gốc trong phạm vi hình chiếu tán của cây (0,8-1,0m), phát
dọn loại bỏ những cây rừng chèn ép lấn át và bón phân.
- Từ năm thứ 7 đến năm thứ 10 chăm sóc mỗi năm 1 lần vào vụ xuân. Nội dung chăm sóc: chủ
yếu là phát dọn dây leo, cây rừng chèn ép và bón phân.
- Bón thúc: từ năm thứ 2 đến năm thứ 3 mỗi năm bón 1 lần vào vụ xuân khi chăm sóc lần đầu
gồm 100g NPK + 1-3kg phân chuồng. Cuốc xung quanh gốc cây theo hình chiếu tán, sâu 10-


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status