Nghiên cứu khoa học
TĂNG CƯỜNG KHẢ
NĂNG KHÁNG BỆNH
CẢM ỨNG CHO CÂY KEO
LAI BẰNG SỬ DỤNG VI
KHUẨN NỘI SINH TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH CẢM ỨNG CHO CÂY KEO LAI BẰNG SỬ DỤNG VI
KHUẨN NỘI SINH
Tuyên Quang lên đến 85% cây bị chết ngọn. Nguyên nhân gây bệnh được xác định là nấm Colletotrichum
gloeosporioides (Penz.) Sacc, với triệu chứng đốm lá, khô cành ngọn đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh
trưởng và năng suất của rừng trồng.
Áp dụng biện pháp hoá học để phòng trừ bệnh cho rừng trồng là không khả thi khi diện tích lớn
và gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Sử dụng vi khuẩn nội sinh để ức chế sự xâm nhiễm của nấm
bệnh, làm giảm nguy cơ mắc bệnh đối với cây trồng đã và đang được các nhà khoa học quan tâm (Phạm
Quang Thu và Trần Thanh Trăng, 2002). Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về chủng loại và mật
độ của các vi khuẩn nội sinh có hoạt tính đối kháng với nấm gây bệnh trên các cây chủ ở các cấp bệnh hại
khác nhau. Sử dụng vi khuẩn nội sinh để tăng cường khả năng kháng bệnh, bảo vệ cây chủ, phòng chống
sự xâm nhiễm của sinh vật gây bệnh đốm lá, khô cành ngọn Keo lai do nấm Colletotrichum gloeosporioides
(Penz.) Sacc. gây hại.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu
- Phân lập và xác định nấm gây bệnh đốm lá, khô cành ngọn Keo lai.
- Phân lập các chủng vi khuẩn nội sinh ở các cây bị bệnh ở cấp 0 đến cấp 4. - Xác định hiệu lực ức chế bệnh đốm lá khô cành, ngọn Keo lai thông qua chủng loại và mật độ vi khuẩn
nội sinh.
- Ứng dụng vi khuẩn nội sinh trong phòng chống bệnh đốm lá, khô cành ngọn Keo lai.
Phương pháp nghiên cứu
- Lấy mẫu tại Lâm trường Tam Thắng, huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, tiến hành phân cấp mức độ bị
bệnh của các cây theo 5 cấp được đánh số theo chỉ số bệnh từ 0 đến 4 với các chỉ tiêu như sau:
Chỉ tiêu phân cấp mức độ bị hại theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự năm 2007.
Mức độ bị hại Cấp bệnh Biểu hiện bên ngoài
Không bị bệnh 0 Cây khoẻ, tán lá phát triển bình thường
Hại nhẹ 1 Dưới 25% tán lá bị bệnh hoặc dưới 10% cành bị bệnh.
Hại trung bình 2 25-50% tán lá bị bệnh hoặc 10-25% cành bị bệnh.
Hại nặng 3
Công thức 3: chủng vi khuẩn B03, tiêm 15ml dịch vi khuẩn
Công thức 4: chủng vi khuẩn B03, tiêm 20ml dịch vi khuẩn
Công thức 5: chủng vi khuẩn P01, tiêm 5ml dịch vi khuẩn
Công thức 6: chủng vi khuẩn P01, tiêm 10ml dịch vi khuẩn Công thức 7: chủng vi khuẩn P01, tiêm 15ml dịch vi khuẩn
Công thức 8: chủng vi khuẩn P01, tiêm 20ml dịch vi khuẩn
Công thức 9: chủng vi khuẩn X01, tiêm 5ml dịch vi khuẩn
Công thức 10: chủng vi khuẩn X01, tiêm 10ml dịch vi khuẩn
Công thức 11: chủng vi khuẩn X01, tiêm 15ml dịch vi khuẩn
Công thức 12: chủng vi khuẩn X01, tiêm 20ml dịch vi khuẩn
Công thức 13: tiêm 10ml nước cất vô trùng
Sau 2 tuần phun ướt toàn bộ cây thí nghiệm ở các công thức thí nghiệm bằng dung dịch nấm gây
bệnh Collectotrichum gloeosporioides có mật độ 10
5
CFU/1 ml. Theo dõi sau 1 tháng đánh giá tỷ lệ và
mức độ bị bệnh, chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính cổ rễ (Dg).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Nguyên nhân gây bệnh đốm lá, khô cành, ngọn bạch đàn
Từ các mẫu bệnh thu thập ở rừng trồng Keo lai tại Lâm trường Tam Thắng, Phú Thọ đã phân lập
và thuần khiết nấm gây bệnh. Bào tử vô tính hình trứng dài, kích thước: bào tử có chiều dài từ 11,87m -
16,38m, chiều rộng 3,26 - 4,78m. Từ đặc điểm trên nấm gây bệnh được xác định định là Colletotrichum
gloeosporioides (Penz.) Sacc.
Kết quả phân lập vi khuẩn nội sinh
Với 30 mẫu cành Keo lai ở các cấp bị bệnh từ 0 đến 4 đã phân lập được 30 chủng vi khuẩn nội
sinh trong đó có 20 chủng khác nhau, kết quả được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Số lượng chủng vi khuẩn ở các mức độ bị bệnh
STT Mức độ bị bệnh Số lượng Ký hiệu chủng vi khuẩn
nặng có số lượng chủng vi sinh vật ít nhất, chỉ có 2 chủng. Chủng vi khuẩn X02 có ở tất cả các mẫu từ
cây khỏe đến cây bị bệnh ở mức độ trung bình.
Xác định hiệu lực ức chế bệnh đốm lá khô cành ngọn Keo lai của các chủng vi khuẩn nội sinh
Xác định hiệu lực ức chế nấm gây bệnh được thực hiện theo phương pháp cấy nấm bệnh và vi
khuẩn trên cùng một đĩa Petri. Những chủng có hiệu lực là những chủng có vòng ức chế lớn (hình 1). Hình 1: Các chủng khuẩn ức chế nấm Colletotrichum gloeosporioides
Hiệu lực đối kháng với nấm gây bệnh và mật độ tế bào của các chủng vi sinh vật nội sinh phân
lập từ các mẫu được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2. Khả năng kháng nấm Colletotrichum gloeosporioides của các chủng khuẩn nội sinh
STT Mức độ bị bệnh Số lượng
Ký hiệu
chủng vi
khuẩn
Mật độ
(CFU/1gam)
Đường kính vòng ức
chế (mm)
1 B01 12 . 10
5
37.5
2 B02 12 . 10
5
30
3 B03 13 x 10
5
41,6
4 B1.3 9 . 10
13
Hại nhẹ 9
B1.2 4 . 10
5
14 14 B1.3 9 . 10
5
16
15 P1.1 6 . 10
5
14
16 P1.3 3 . 10
5
18
17 P2.2 4 . 10
5
15
18 X1.1 7 . 10
5
25
19 X02 9 . 10
5
37
20 B1.3 9 . 10
5
16
21 B3.1 3 . 10
5
Hại rất nặng
2
P4.1 1 . 10
5
-
Kết quả ở bảng 2 cho thấy mật độ của các chủng khuẩn có khả năng ức chế nấm gây bệnh có
trong cây chủ nằm ở mức 1.10
5
- 13.10
5
CFU/1gam. Cây không bị bệnh (cây khoẻ) có số lượng chủng vi
khuẩn và cả mật độ tế bào cao hơn so với cây chủ bị bệnh ở mức độ nhẹ và trung bình và nặng. Những
chủng khuẩn có đường kính vòng ức chế lớn hơn 20mm thường và có mật độ cao (7.10
5
- 13.10
5
) là những
chủng có hiệu lực tốt trong việc ngăn chặn và ức chế sự xâm nhiễm của nấm gây bệnh. Như vậy, từ các
mẫu cây khỏe có 6 chủng vi khuẩn có hiệu lực kháng nấm gây bệnh cao, đường kính vòng ức chế > 20mm,
đó là các chủng: B01, B02, B03, P01, X01 và X02. Cây bị hại nhẹ có 4 chủng vi khuẩn có hiệu lực cao là:
B01, B03, X1.1 và X02. Cây bị hại trung bình chỉ có 1 chủng vi khuẩn có hiệu lực cao là X02. Cây bị hại
nặng và hại rất nặng không có chủng vi khuẩn nào có hiệu lực kháng nấm. Qua trên thấy rằng sự có mặt
của vi khuẩn nội sinh trong cây chủ đã nâng cao tính kháng bệnh cho cây chủ. Sự kháng bệnh này được gọi
là kháng bệnh cảm ứng, với từ tiếng Anh tương ứng là Induced Disease Resistance.
Ứng dụng vi khuẩn nội sinh để tăng cường khả năng kháng bệnh của cây
Chọn 3 chủng vi khuẩn có hiệu lực cao nhất trong việc ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh là
B03, P01 và X02. Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Kết
quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.
nhiễm
nấm gây
bệnh
Trước
khi
nhiễm
nấm
gây
bệnh
Sau khi
nhiễm
nấm
gây
bệnh
Trước
khi
nhiễm
nấm
gây
bệnh
Sau
khi
nhiễm
nấm
gây
bệnh
Trước
khi
nhiễm
nấm
Nguyên nhân gây bệnh đốm lá, khô cành ngọn Keo lai tại Phú Thọ được xác định do nấm
Colletotrichum gloeosporioides (Penz.) Sacc.
Số lượng chủng vi khuẩn nội sinh và mật độ tế bào các chủng vi khuẩn nội sinh có trong 1 gam
gỗ của cây chủ Keo lai ở các cấp bị bệnh khác nhau là rất khác nhau. Cây khỏe, không bị bệnh có số
lượng chủng vi khuẩn nhiều nhất, cây bị bệnh nặng có số lượng chủng vi khuẩn ít nhất. Chủng vi khuẩn
có hiệu lực cao đối với ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh cũng khác nhau ở các mức độ bị bệnh
khác nhau. Cây khỏe có nhiều chủng vi khuẩn hiệu lực cao, số lượng các chủng vi khuẩn giảm dần theo
mức độ bị bệnh và cây chủ bị bệnh nặng hoàn toàn không có chủng vi khuẩn nội sinh nào có hiệu lực
kháng nấm gây bệnh. Khi tiêm vi khuẩn nội sinh vào trong thân cây Keo lai ở giai đoạn vườn ươm, khả năng kháng bệnh của
cây đó được tăng lên, được đánh giá trên 4 chỉ tiêu tỷ lệ bị bệnh, mức độ bị bệnh, chiều cao của cây và đường
kính gốc. C
hủng vi khuẩn B03 được tiêm với liều lượng 15ml/cây, mật độ 1.10
5
CFU/ml có hiệu quả nhất về
khả năng kháng bệnh và tăng sinh trưởng của cây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2007. Quyết định về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc
năm 2006. Quyết định số 2503/QĐ/BNN-KL, ngày 27 tháng 8 năm 2007.
Chanway C.P., 1996. Endophytes: They are not just fungi. Canadian Journal of Botany 74: 321-322.
Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu và Nguyễn Văn Chiến, 2007. Báo cáo công nhận giống các
dòng bạch đàn, Keo lai và Keo lá tràm chống chịu bệnh có năng suất cao. Bộ NN&PTNT - Viện KHLN
Việt Nam. Hà Nội.
Phạm Quang Thu và Trần Thanh Trăng, 2002. Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn đối kháng với nấm gây
bệnh vùng rễ cây thông. Thông tin Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp- Số 3, trang 2-5. ENHANCEMENT OF INDUCED DISEASE RESISTANCE OF ACACIA HYBRID USING BACTERIAL