PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH potx - Pdf 14


LUẬN VĂN
Đề tài: PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG
THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH

1
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m …à ố ồ ă
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m …à ố ồ ă
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Ch ng I. C s lý lu n v du l ch nông thônươ ơ ở ậ ề ị 5
1.1. Khái quát chung v du l ch nông thônề ị 5
1.2. V i nét v nông thôn Vi t Namà ề ệ 8
1.3. Th c tr ng phát tri n du l ch nông thôn Vi t Nam ự ạ ể ị ở ệ 13
1.4. Gi i thi u m t s tuor du l ch nông thôn ang c khai thác trên th tr ng Vi t ớ ệ ộ ố ị đ đượ ị ườ ệ
Nam 15
1.5. M t s tác ng v nh h ng c a du l ch nông thôn n i s ng kinh t - xã ộ ố độ à ả ưở ủ ị đế đờ ố ế
h i c a c dân a ph ng ộ ủ ư đị ươ 17
Ch ng II. Ti m n ng phát tri n du l ch nông thôn t nh Thái Bìnhươ ề ă ể ị ở ỉ 20
2.1. i u ki n chung phát tri n du l ch Thái BìnhĐ ề ệ để ể ị ở 20
2.2. Th m nh phát tri n du l ch nông thôn Thái Bìnhế ạ ể ị ở 23
2.3. Th c tr ng phát tri n du l ch nông thôn t nh Thái Bìnhự ạ ể ị ở ỉ 47
Ch ng III. nh h ng, gi i pháp v ki n ngh phát tri n du l ch nông thôn Thái ươ Đị ướ ả à ế ị để ể ị ở
Bình 52
3.2. M t s gi i pháp phát tri n du l ch nông thôn t i Thái Bìnhộ ố ả ể ị ạ 54
3.4. Các ki n ngh phát tri n du l ch nông thôn t nh Thái Bìnhế ị để ể ị ở ỉ 59
KẾT LUẬN 62
NH N XÉT C A GIÁO VIÊN H NG D NẬ Ủ ƯỚ Ẫ 64
NH N XÉT C A GIÁO VIÊN PH N BI NẬ Ủ Ả Ệ 65
2
LỜI MỞ ĐẦU

Tập trung nghiên cứu tất cả các tiềm năng phát triển du lịch nông thôn của các làng quê
ở tỉnh Thái Bình từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch nông thôn Thái Bình.
3. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp luận: sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm nền tảng.
 Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: sử dụng các dữ kiện thông tin thứ
cấp đã được công bố để phân tích, so sánh, khái quát…, thực hiện các phán đoán suy
luận.
4. Mục đích nghiên cứu
 Cung cấp cơ sở lý luận về du lịch nông thôn.
 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình.
 Đưa ra một số giải pháp để phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình.
5. Kết cấu
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn
Chương II. Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình
Chương III. Giải pháp phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình
Sau đây là nội dung cụ thể của từng chương.
4
Chương I. Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn
1.1. Khái quát chung về du lịch nông thôn
1.1.1.Sự ra đời và phát triển của du lịch nông thôn
Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành của ngành
đường sắt ở Châu Âu. Tuy nhiên, mãi đến những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ XX,
du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và được phổ biến ở hầu hết
các quốc gia ở Châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thuỵ
Điển… Lúc bấy giờ khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các
loại hình du lịch nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn…
Sự khác biệt về du lịch nông thôn ở các quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển
là ở chỗ: Tại các quốc gia đang phát triển, người ta xem du lịch nông thôn là đa dạng
hoá thu nhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực

phương.
 Bảo tồn, phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường.
 Luôn đổi mới và tạo sự khác biệt
 Tăng cường mối liên kết theo chiều dọc và chiều ngang để làm phong
phú thêm sản phẩm.
 Giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng du khách.
1.1.4. Đặc trưng của du lịch nông thôn
 Điều kiện tự nhiên: Các vùng nông thôn còn đậm đà hồn quê, là những
nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng. Du khách
đến với các vùng nông thôn nước ta vì vẻ đẹp thiên nhiên tự nhiên và văn hoá nguồn
6
cội không lai tạp. Vẻ đẹp thiên nhiên tự nhiên hoặc vẻ đẹp văn hoá mà bị suy giảm thì
khó thu hút được họ.
 Điều kiện về môi trường: Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về việc hạn
chế hoặc tuyệt đối không dùng các loại thuốc trừ sâu và phân bón tổng hợp đối với cây
trồng cũng như chất phụ gia trong thức ăn dành cho gia súc, gia cầm.
 Điều kiện con người: Người dân ở các làng quê hiền lành, cởi mở và hiếu
khách.
 Điều kiện an ninh: Khách du lịch đặc biệt coi trọng vấn đề an toàn trong
quá trình du lịch. Vì vậy những làng quê họ lựa chọn làm điểm đến du lịch của mình
phải là vùng có tình hình an ninh trật tự tốt.
 Các yếu tố khác: Đến làng quê, du khách không chỉ hoà mình vào cuộc
sống của người nông dân mà còn có thể tham gia các lễ hội và tham quan các di tích
lịch sử của địa phương vừa là nghỉ dưỡng vừa là khám phá.
1.1.5. Các hình thức du lịch nông thôn
5 hình thức du lịch nông thôn:
 Du lịch tự nhiên, mang tính giải trí.
 Du lịch văn hoá, quan tâm tới văn hoá, lịch sử và khảo cổ của địa
phương.
 Du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên cũng như

Thành Hoàng làng và những người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân
nghề nghiệp sinh sống. Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi cân bằng
phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân
làng. Vào những ngày lễ, tết, dân làng lại thắp hương tế lễ cầu mong Thành Hoàng
8
làng và trời đất cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Đây là lòng tri ân, trọng
nghĩa, trọng tài, “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam. Tuy đình là của dân
làng nhưng thần không hẳn là người của làng. Vì người Việt Nam thừa hưởng nhiều tín
ngưỡng cổ sơ, nguyên thuỷ, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần
nước (thần Tản Viên)…, ở Phù Ninh (Phú Thọ) thờ thần Đá Trắng, vùng đồng bằng
thờ thần cá, thần rắn… Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối
tạo thành một nền văn hoá hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến
cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo một niềm
tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã cộng đồng Việt Nam. Có lẽ
những đình cổ nhất nước ta vẫn là những ngôi đình mang kiến trúc theo hình chữ Nhất
như: đình Tây Đằng, đình Lỗ Hạnh. Riêng đình Lỗ Hạnh, nguyên xưa là chữ Nhất
nhưng qua các đời sau tu bổ đã thêm hậu cung nên đình thành chữ Đinh. Theo quan
niệm kiến trúc, đình là một công trình kiến trúc công cộng, rộng mở chào đón bất kỳ
người con nào của đất Việt. Với ý nghĩa như thế, đình làng Việt Nam chính là nơi
không phân biệt giàu sang nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhất văn hoá hiện thực của đời
sống nhân dân. Mái cong của đình không giống bất cứ mái cong nào của vùng Đông
Nam Á, kể cả Nhật, Trung Hoa và Thái Lan, vì góc đao của đình uốn cong và vút cao
do một hệ thống cấu trúc đặc biệt có tên gọi riêng la tâu đao lá mái, không do vôi vữa
đắp thành. Nhìn lại các đình Tây Đằng, Lỗ Hạnh, Cao Thương (Hà Bắc), Phù Lão, Chu
Nguyên, đình Hương Lộc, Phùng Thượng, đình Thổ Tang, Ngọc Canh để thấy rằng,
đình là một khối điêu khắc trong không gian, đầy chi tiết tinh tế, nhưng cũng đầy tính
khoa học kiến trúc. Nói về đường nét, đình là nơi hội tụ những mô típ trang trí tuyệt
hảo, gồm nhiều xu hướng: hiện thực, cách điệu, cách điệu và đồ hoạ. Sân đình là nơi tổ
chức hội làng, trong hội làng dân làng thường diễn Hèm. Theo từ điển Tiếng Việt, Hèm
có nghĩa là trò diễn lại sinh hoạt sự tích của vị thần thờ trong làng, những điều kiêng kỵ

tâm linh của con người. Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu
như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa. Tục ngữ có câu:
"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề"
Hay:
"Cây thị có ma, cây đa có thần"
Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người
khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên. Cây đa
được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ. Cây đa nào càng
già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh. Gốc đa ở các di tích thường
được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu
cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân
làng.
Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của
biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa
mang đậm yếu tố tâm linh. Phải chǎng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây
đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi
con người Việt Nam.
Ở những làng quê Việt Nam, đặc trưng với những cây đa, bến nước, con đò, hay
với những cánh cổng làng đơn sơ cổ kính. Mỗi cái cổng làng đều có một nét văn hoá
riêng, tùy theo đặc điểm làng đó. Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề tất cả
những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng.
Những cánh cổng ấy thường được gọi với cái tên làng, và tên làng được lấy theo đặc
trưng của làng đó, hay một sự kiện, một di tích lịch sử …. Ví dụ: làng lụa Vạn Phúc. Ở
mỗi làng thường chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng thường được dựng ở đây
để làm ranh giới giữa các làng. Đối với những người xa quê đã lâu, khi về quê hương,
còn cách khoảng 2, 3km là đã có thể nhìn thấy vòm cây đa và biết rằng mình đã sắp
sửa về đến làng. Nhưng về tới gần hơn, qua cổng làng mới chính thức bước vào mảnh
11
đất chôn rau cắt rốn của mình, và coi như đã về tới nhà mình vì người trong làng
thường đối xử với nhau như trong một gia đình. Cổng làng thường thấy nhiều ở các

Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, địa hình đa dạng gồm đồi, sông suối, biển đảo, hang
động, hệ động, thực vật phong phú, vùng nông thôn với những làng quê cổ kính vùng
Bắc Bộ, những nét văn hoá truyền thống đặc sắc, những vùng đất có lịch sử hình thành
lâu đời, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử và truyền thống văn hoá tập tục của người xưa,
những cánh đồng bát ngát, phì nhiêu ở Nam Bộ…là những điều kiện để nước ta phát
triển du lịch nông thôn.
Người Việt Nam nhân hậu, thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình và giàu lòng mến
khách cùng với đôi bàn tay khéo léo, trí thông minh, nhạy bén và giàu lòng quả cảm đã
làm nên những nét văn hoá truyền thống đặc sắc Việt Nam từ chính tâm hồn mộc mạc
ấy của mình.
Một tiềm lực đáng kể ở nhiều vùng nông thôn là truyền thống làm hàng thủ công,
như sản xuất đồ gốm sứ, hàng dệt, đồng, da, sơn mài, mây tre và nón… Các mặt hàng
này tuy có tiềm năng phát triển nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức.
Du lịch đã được thiết lập như là một nguồn thu nhập và là công việc đáng kể ở
một vài vùng nông thôn cụ thể. Du lịch có tiềm năng mang lại lợi ích trên phạm vi rộng
hơn nếu được phát triển một cách bền vững.
Ở Việt Nam, du lịch nông thôn đã xuất hiện ở Sa-Pa (Lào Cai), Khánh Hoà, Mỹ
Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ nhưng mới chỉ dưới dạng những hoạt động mang dáng dấp
du lịch nông thôn, rất lẻ tẻ.
Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng các loại hình du
lịch, nhưng du lịch nông thôn chưa phát triển bởi các lý do sau:
13
 Chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du lịch nông
thôn, cụ thể là chưa có khung lý thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch
này.
 Du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi
trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực.
 Phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài nguyên thiên
nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững. Trong khi đó, người

phẩm trùng lắp. Ví du như một tuor du lịch nông thôn miền Tây Nam bộ, khách đến
Tiền Giang đã vào thăm vườn, ngồi ăn trái cây hái sẵn, nghe đờn ca tài tử, thì sang
Vĩnh Long, Cần Thơ hay đi Sóc Trăng cũng vẫn thấy các món này. Cách làm đơn điệu,
thiếu sức hấp dẫn và không có điểm nhấn khiến các tour du lịch nông thôn không thể
thuyết phục khách du lịch ở lại lâu hơn.
 Dịch vụ du lịch ở nông thôn vẫn còn ít lại không đạt tiêu chuẩn về chất
lượng. Cơ sở lưu trú ở các làng quê đa phần có chất lượng trung bình, không có các
khu nghỉ dưỡng cao cấp nên ít khi đón được khách sang ở lâu, có rất ít các loại hình
vui chơi giải trí đặc sắc.
Có thể khẳng định, du lịch nông thôn phát triển chậm, chắc chắn không phải vì
thiếu tài nguyên, cũng chưa hẳn vì thiếu tiền, mà là thiếu cách làm phù hợp với cái
khách cần. Lượng khách biết và đặt tuor du lịch nông thôn rất ít. Một phần do chưa
được phổ biến quảng cáo rộng rãi, phần khác do điều kiện của nước ta chưa đủ, dù là
nước nông nghiệp nhiều tiềm năng.
1.4. Giới thiệu một số tuor du lịch nông thôn đang được khai thác trên thị trường
Việt Nam
 Tour 1. Hà Nội – Đường Lâm – Sơn Tây
15
Thời gian: 1 ngày
Phương tiện vận chuyển: xe ô tô
Lịch trình tham quan:
7h30: Sau khi ăn sáng, xe khởi hành đi Đường Lâm – làng Việt cổ.
10h00: Đến Đường Lâm, du khách xuống xe và hành trình đi thăm Đường Lâm bao
gồm: Thăm làng Cam Lâm – làng có hai vua, thăm làng cổ Mông Phụ, thăm cổng làng
có niên đại hơn 200 năm, thăm đình làng Mông Phụ với niên đại cổ nhất hơn 400 năm
lịch sử đã từng chứng kiến những hào hùng, những thăng trầm của ngôi làng hai vua.
Du khách đạp xe vòng quanh làng trên những con đường gạch nghe hướng dẫn viên
giới thiệu về hai vị vua của làng.
12h00: Du khách nghỉ ngơi, ăn trưa.
14h00: Thăm quan đình thờ vua Phùng Hưng, mộ vua Ngô Quyền.Sau đó đoàn lên xe

ruộng, trong công việc hàng ngày thì người dân có thể là những hướng dẫn viên du lịch
tại điểm, giúp cho các chương trình du lich nông thôn. Họ sẽ là những hướng dẫn viên
du lịch lành nghề nhất, những người hướng dẫn tốt nhất về công việc của chính mình.
Hơn nữa nhà người dân cũng là nơi lưu trú tuyệt vời nhất cho khách lưu trú qua đêm.
Cư dân địa phương cũng là những người đầu bếp phục vụ cho khách những bữa ăn
mang đặc trưng của quê hương mình, nhà mình. Chính những công việc thường ngày
ấy sẽ giúp cho người dân địa phương tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống của chính
mình, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế địa phương khi họ tham gia vào các
chương trình du lịch nông thôn.
Mặt khác khi muốn chương trình du lịch nông thôn được thực hiện dễ dàng hơn
thì các công ty du lịch chính quyền địa phương, các doanh nghiệp sẽ bỏ vốn đầu tư
nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kĩ thuật tại các làng quê nơi diễn ra hoạt động du
17
lịch nông thôn. Chính điều này sẽ góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo ra những
bước phát triển mới.
Đối với công ty du lịch đây cũng là loại hình du lịch mới có khả năng hấp dẫn du
khách. Nếu đầu tư phát triển, các công ty du lịch có thể tạo ra sự phong phú cho các
sản phẩm du lịch của mình. Một thị trường sẽ được mở ra để khai thác làm mới những
hoạt động của công ty. Đồng thời điều đó cũng giúp cho các công ty du lịch tạo ra dấu
ấn trên thị trường về khả năng của chính mình trong việc tổ chức những chương trình
du lịch nông thôn nghe có vẻ đơn giản nhưng lại khó lấy long du khách.
Không chỉ mang lại những mặt tích cực cho cộng đồng địa phương và các công ty
du lịch, du lịch nông thôn còn thỏa mãn một lượng không nhỏ các du khách luôn muốn
khám phá những nét văn hóa cổ truyền của Việt Nam. Họ có thể được thẩm nhận sâu
sắc hơn cuộc sống của con người sau lũy tre làng. Đồng thời họ có thể trực tiếp tham
gia vào công việc sản xuất của người nông dân. Họ được thử công việc của một người
gánh mạ, cấy lúa, gặt lúa kể cả là cày ruộng. Họ có thể thử làm một người thợ thêu,
chạm khắc đồ bạc, đục gỗ…Và sau những giờ làm việc căng thẳng được giải trí bằng
những điệu chèo truyền thống thấm đẫm tình dân tộc, được ăn những món ăn tuy thanh
đạm đơn giản nhưng mang dấu ấn của quê lúa thân thương. Thoát khỏi những lo toan

19
Chương II. Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình
2.1. Điều kiện chung để phát triển du lịch ở Thái Bình
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Phía Bắc giáp
với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng; phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Nam
Định và Hà Nam; phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ.
Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.546,54 km
2
. Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành
phố là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư
và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn.
Thái Bình cách Thủ đô Hà Nội 110km, cảng Hải Phòng 70km, nằm trong vùng
ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế và trung tâm du lịch lớn Hà Nội -
Hải Phòng - Quảng Ninh, gần một số tỉnh có tiềm năng du lịch như Ninh Bình, Nam
Định, Hải Phòng, là cầu nối quan trọng giữa miền Trung với cảng Hải Phòng, cảng Cái
Lân. Với vị trí địa lý, Thái Bình có những thuận lợi trong giao lưu kinh tế và mở rộng
hành lang liên kết kinh tế và du lịch với hầu hết các trung tâm kinh tế, du lịch trong
toàn quốc và một số nước Đông Nam Á.
2.1.1.2.Địa hình
20
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc
nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ
bắc xuống đông nam.
Thái Bình được bao bọc bởi một hệ thống sông, biển khép kín. Với bờ biển dài
trên 50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía bắc và đông bắc có sông
Hóa dài 35,3 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53
km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu
cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Đồng thời có 5

có vốn đầu tư trên 4.000 tỷ đồng; đường 39B từ thị trấn Thanh Nê đến thị trấn Diêm
Điền, vốn đầu tư trên 2.200 tỷ đồng; đường vành đai phía Nam Thành phố Thái Bình,
vốn đầu tư trên 1.000 tỷ đồng…
Một số cầu đã được xây dựng như cầu Triều Dương nối với Hưng Yên, cầu Tân
Đệ nối với Nam Định, hệ thống đường nông thôn đang phát triển là điều kiện thuận lợi
cho giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội, du lịch giữa Thái Bình với các tỉnh bạn.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp với gần 90% dân số ở các vùng nông thôn và hơn
70% lao động nông nghiệp. Mặc dù diện tích đất trồng lúa giảm, nhiều dịch bệnh lúa
mới xuất hiện, nhưng năm qua lại là năm nông nghiệp Thái Bình lập được nhiều kỷ
lục: là năm đầu tiên được mùa lớn nhất từ trước đến nay với năng suất lúa cả 2 vụ đạt
132,35 tạ/ha, cao nhất từ trước đến nay và tốc độ tăng trưởng cũng đạt 6%, cao nhất cả
nước, là lá cờ đầu về sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc. Thái Bình đang phấn đấu
xây dựng thương hiệu từ “quê hương 5 tấn” trong thời đánh Mỹ thành “quê hương 15
tấn” trong thời kỳ hội nhập.
Ban lãnh đạo tỉnh Thái Bình đang thực hiện chính sách xây dựng mô hình nông
thôn mới, tạo ra đời sống mới cho người nông dân.
Không chỉ có những bứt phá trong phát triển kinh tế, trong lĩnh vực văn hóa xã
hội, Thái Bình cũng đã tạo được những dấu ấn đặc biệt: lần đầu tiên tỉnh tổ chức thành
22
công Lễ hội Văn hóa Đồng bằng sông Hồng, quy tụ về đây 13 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Với truyền thống mến khách, người dân quê lúa đã để lại những thiện cảm lớn đối với
các tỉnh bạn. Song, điều quan trọng hơn là Lễ hội đã khơi dậy những tinh hoa văn hóa,
truyền thống hào hùng của miền đồng bằng châu thổ sông Hồng.
2.2. Thế mạnh phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi ruộng mật” do được bồi tụ
bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống các công trình thuỷ lợi tưới tiêu
thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14-15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ
cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên.
Tổng diện tích tự nhiên là 153.596 ha. Trong đó: Diện tích cây hàng năm là

nghề hàn đồng, gò thùng chậu, đánh dao kéo, chữa khoá, làm quai và vòi ấm tích, điếu
bát , về sau mới làm đồ kim hoàn, trong đó chuyên sâu về việc chạm bạc. Cũng như
nhiều nghề thủ công cao cấp khác như đúc đồng, luyện kim , nghề kim hoàn có kỹ
thuật hết sức phức tạp nhưng mang lại thu nhập cao cho người thợ nên suốt mấy trăm
năm người Ðồng Xâm luôn giữ bí mật nghề. Ðến nay, kỹ thuật này không còn là độc
quyền của thợ Ðồng Xâm nữa, nhưng một số thủ pháp kỹ thuật và nghệ thuật tinh xảo
nhất vẫn được giữ bí truyền. Làng chạm bạc xưa đã qui định chặt chẽ trong hương ước
của làng rằng: người nào đem bí quyết nghề chạm bạc của làng truyền dạy cho người
làng khác, hay làm đồ giả để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải phạt tiền thật nặng,
hoặc đem đánh đòn trước nhà thờ Tổ, hoặc phải xoá tên trong làng.
Các hàng chạm bạc Ðồng Xâm khác hẳn và nổi trội so với hàng bạc của các nơi
khác về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, về thủ pháp xử lý sáng-tối nhờ tận dụng đặc tính
phản quang của chất liệu bạc, nhất là ở các đồ án trang trí của Đồng Xâm tinh vi mà
cân đối, lộng lẫy mà nổi rõ chủ đề chính. Ðặc trưng của sản phẩm Ðồng Xâm là sự
24
điêu luyện, tinh tế và hoàn hảo tới mức tối đa. Có thể nói rằng tài năng và tính cẩn
trọng của nghệ nhân bạc Ðồng Xâm có thể đáp ứng được mọi yêu cầu về đồ chạm bạc
của những khách hàng khó tính và am tường nghệ thuật nhất. Suốt những năm kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), nghề chạm bạc của làng bị đình đốn. Sau
ngày hoà bình lập lại, từ năm 1955 trở lại đây, sản xuất đồ vàng bạc được phục hồi và
phát triển. Nhưng các sản phẩm của thời kỳ bao cấp nhìn chung ít sáng tạo, nhỏ lẻ và
khá đơn điệu. Phải đợi đến thời kỳ đổi mới, mấy năm nay, người thợ chạm bạc mới
thực sự được tự làm, tự kinh doanh theo kiểu các doanh nghiệp nhỏ, qui mô gia đình,
được trực tiếp xuất khẩu Vận hội mới đang quay trở lại với người Ðồng Xâm và nghề
chạm bạc. Thợ Ðồng Xâm hiện nay phần lớn vẫn làm nghề tại làng và nhờ nghề chạm
bạc mà nhiều gia đình trong làng trở nên giàu có. Ở môi trường nào cũng vậy, từ xa
xưa đến nay, thợ bạc Ðồng Xâm luôn lấy chữ Tín làm trọng. Họ giữ phẩm chất, lương
tâm của người thợ và tinh hoa kỹ thuật nghề nghiệp của đất nước quê hương. Vì vậy,
sản phẩm của họ vẫn giữ được niềm tin của khách hàng ở khắp mọi nơi.
 Làng dệt Phương la


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status