DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Công nghiệp nông thôn
CNNT
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CN - TTCN
Kinh tế - kỹ thuật
KT - KT
Kinh tế - xã hội
KT - XH
Tiểu thủ công nghiệp
TTCN
Ủy ban nhân dân
UBND
1
2.2. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra với phát triển công
38
nghiệp nông thôn ở tỉnh Hòa Bình
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
56
CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH HÒA
BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Mục tiêu, phương hướng phát triển công nghiệp nông thôn
65
ở tỉnh Hòa Bình
3.2. Giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn ở tỉnh Hòa Bình
65
69
85
87
93
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
2
thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển mạnh, góp phần giảm nghèo bền vững và
cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân vùng nông thôn.
3
Tuy nhiên, tỉnh Hoà Bình hiện nay vẫn là một tỉnh nghèo, tốc độ tăng
trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, chưa tạo được bước đột phá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp chưa cao, sức cạnh tranh yếu, trình độ công nghệ và trang thiết
bị lạc hậu; kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, công tác xã hội hóa giáo dục,
y tế, văn hóa còn hạn chế, chưa trở thành phong trào sâu rộng trong các tầng
lớp nhân dân… Một trong những vấn đề dẫn đến thực trạng trên là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của Tỉnh chưa đạt hiệu quả
cao, nhất là phát triển CNNT những năm qua chưa đạt được như kỳ vọng do
chưa khai thác đúng tiềm năng của một tỉnh miền Núi phía Bắc. Điều đó đặt
ra yêu cầu phát triển CNNT ở tỉnh Hoà Bình là cấp thiết cả trước mắt và lâu
dài. Từ sự phân tích trên, vấn đề “Phát triển công nghiệp nông thôn ở tỉnh
Hòa Bình” được học viên lựa chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Công nghiệp nông thôn là nội dung được đông đảo các nhà nghiên cứu
lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm. Xuất hiện nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết về CNNT với cách tiếp cận khác nhau. Tiêu biểu là các nhóm
công trình nghiên cứu sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp
Tác giả Đặng Ngọc Dinh (1997), Vấn đề phát triển công nghiệp nông
thôn ở nước ta, do Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ấn hành. Trong công
trình này, tác giả đã đi vào phân tích và chỉ ra vai trò của công nghiệp nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở
Việt Nam; khái quát tình hình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
Tác giả Tô Hiến Thà (2014), Phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ Việt Nam theo hướng bền vững, Luận án tiến sĩ kinh tế Hoc viện
chính trị - Bộ Quốc phòng. Trong công trình này, tác giả đã luận giải cơ sở lý
luận về phát triển công nghiệp và phát triển công nghiệp theo hướng bền
vững. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra và phân tích các tiêu chí phát triển công
nghiệp theo hướng bền vững gồm: Bền vững về kinh tế; bền vững về môi
trường; bền vững về xã hội. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển công
5
nghiệp theo hướng bền vững, bao gồm cả những thành tựu và hạn chế, luận
án đã đề ra 4 nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ Việt Nam theo hướng bền vững.
* Nhóm công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến phát
triển kinh tế nông thôn
Nguyễn Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Văn Phúc (2002), Những
biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội. Cuốn
sách đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam và xác định hệ thống các tiêu chí đánh giá, đồng thời
đề ra những biện pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đông bằng sông Hồng.
Đỗ Quang Dũng (2006), Phát triển làng nghề trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Hà Tây, Luận án tiến sĩ
Kinh tế, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ Kinh tế
nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển làng nghề đồng thời đưa ra một
số bài học kinh nghiệm ở một số địa phương trong phát triển làng nghề từ đó
đề ra một số quan điểm, giải pháp trong phát triển làng nghề của tỉnh Hà Tây
trong thời gian tới.
Nguyễn Duy Cường (2010), Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
của Tỉnh), hợp tác xã công nghiệp đang tồn tại và phát triển trên địa bàn
nông thôn tỉnh Đồng Nai. Thực trạng phát triển công nghiệp phục vụ nông
nghiệp nông thôn ở Đồng Nai và các quan điểm giải pháp tiếp tục phát triển
công nghiệp phục vụ cho mục đích đó ở Đồng Nai.
Nguyễn Văn Phúc (2004), Công nghiệp nông thôn Việt Nam thực trạng
và giải pháp phát triển, Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội: Nghiên cứu những
nhận thức về bản chất CNNT ở nước ta, kinh nghiệm phát triển lĩnh vực này ở
một số nước, trình bày thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, những vấn đề được đặt
ra, xu hướng và giải pháp… để thúc đẩy phát triển CNNT ở Việt Nam trong
những năm tiếp theo.
Trần Thị Bích Hạnh (2008), Phát triển công nghiệp nông thôn ở các
tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ - Thực trạng và giải pháp, Đề tài cấp bộ: Công
7
trình này với mục đích đánh giá thực trạng CNNT trong quá trình công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở các Tỉnh duyên hải Nam Trung bộ trong
những năm qua, đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển
CNNT ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong thời gian tới. Trong phương
hướng và hệ thống giải pháp tác giả có đề cập đến phát triển CNNT, tuy nhiên
phạm vi khái quát rộng, với những giải pháp khung thể chế, giải pháp hướng
và giải pháp xã hội trong quá trình phát triển CNNT theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; hay nhóm giải pháp liên quan đến lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất; nhóm giải pháp liên quan đến cơ chế và chính sách vĩ mô
của nhà nước; sự phát triển CNNT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trên phạm vi một vùng kinh tế, tỉnh miền núi.
Phạm Đức Nhuấn và Nguyễn Quang Minh (2008), Tác động của phát
triển công nghiệp nông thôn đến đảm bảo nguồn vật lực cho khu vực phòng
với đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất trong cụm”, Tạp chí khu công
nghiệp Việt Nam, (số 02/2005).
GS.TS. Nguyễn Đình Phan, “Phát triển cụm công nghiệp làng nghề
trong quá trình hội nhập”, Tạp chí khu công nghiệp Việt Nam, (số 02/2005)
Nghiên cứu, đánh giá và đưa ra những dự báo, những giải pháp tác
động nhằm thúc đẩy công nghiệp nông thôn có các công trình:
Lã Văn Lý, “Giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghiệp nông
thôn năm 2005”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (số 02/2005).
Đỗ Hữu Hòa, “Những vấn đề đặt ra trong phát triển công nghiệp bền
vững ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 02/2005).
Nguyễn Quang Minh, “Phát triển công nghiệp nông thôn thời hội
nhập”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (số 28+29/2007),
Phan Ánh Hè, “Công nghiệp nông thôn với yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn”, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội, (9/2007) nghiên cứu vai trò công nghiệp nông thôn, ý nghĩa phát triển
công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy có sự khác nhau về góc độ tiếp cận, phạm vi đề cập nhưng các bài
viết trên đều hướng tới giải quyết các vấn đề sau: 1) nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn để chứng minh vị trí tầm quan trọng và sự cần thiết phải phát
triển CNNT ở nước ta. 2) đánh giá thành tựu và hạn chế, một số vấn đề đặt ra
9
trong quá trình phát triển CNNT theo hướng sản xuất hàng hóa hoặc những
thách thức cho nông dân, nông thôn Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế. 3) đưa ra những kiến nghị liên quan chính sách và tổ
chức quản lý của nhà nước, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển CNNT ở
nước ta trong thời gian tới. Sự đóng góp khoa học của các tác giả nêu trên về
phát triển CNNT ở Việt Nam là rất hữu ích.
Tuy nhiên, hiện nay chưa thấy công trình nào nghiên cứu về phát
triển CNNT ở tỉnh Hòa Bình dưới góc độ kinh tế chính trị. Vì vậy, học viên
Đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên
quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phép biện chứng duy vật, đề tài sử dụng phương pháp của
khoa học kinh tế chính trị như trừu tượng hóa, phương pháp phân tích và tổng
hợp; thu thập thông tin; phương pháp so sánh; phương pháp chuyên gia,
chuyên khảo để nghiên cứu, đồng thời dựa trên những tài liệu thực tiễn của
các ngành có liên quan đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu để làm rõ vấn đề
mà luận văn đề cập.
6. Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
công nghiệp nông thôn ở tỉnh Hoà Bình.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan địa phương
trong công tác tham mưu đề xuất, hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển
CNNT ở tỉnh Hoà Bình và các địa phương có hoàn cảnh tương đồng; làm tài
liệu tham khảo trong học tập nghiên cứu môn kinh tế chính trị Mác - Lênin ở
các nhà trường trong và ngoài quân đội
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương với 6 tiết.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
Ở TỈNH HÒA BÌNH
1.1. Nông thôn, công nghiệp, công nghiệp nông thôn và vai trò công
nghiệp nông thôn
vùng đất đai rộng lớn bao quanh các đô thị, có điều kiện tự nhiên phong phú,
đa dạng hơn đô thị, nhưng kết cấu hạ tầng phục vụ dân sinh thấp kém hơn đô
thị; hai, kinh tế nông thôn tuy có tiểu thủ công nghiệp, song về cơ bản vẫn
mang tính thuần nông. Ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập
chính và chiếm tỷ trọng lớn, các ngành nghề sản xuất - kinh doanh, dịch vụ
phi nông nghiệp phát triển chậm hơn đô thị; ba, mật độ dân cư thưa hơn đô
thị, trình độ học vấn, khoa học - kỹ thuật, điều kiện giáo dục, y tế, đời sống,
vật chất, tinh thần, cơ sở hạ tầng thấp kém hơn đô thị; bốn, xã là đơn vị hành
chính cơ sở ở nông thôn với cộng đồng của những người nông dân và các mối
quan hệ cơ bản dựa trên cơ sở dòng tộc, nên là nơi lưu giữ nhiều phong tục,
tập quán và quan hệ xã hội tốt đẹp.
Nông thôn Việt Nam có vai trò hết sức to lớn trong sự nghiệp xây dựng,
phát triển đất nước và bảo vệ Tổ Quốc. Thấy rõ vai trò quan trọng của nông
thôn, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng, phát triển
nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Người nói: “Việt Nam là một nước sống
về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc
xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông
nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông dân ta thịnh thì
nước ta thịnh” [36, tr. 246]. Người khẳng định: “Nông thôn giàu có sẽ mua
nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời, sẽ cung cấp đầy đủ
lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là, nông thôn
giàu có giúp cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy
nông nghiệp mạnh hơn nữa” [37, tr. 212].
* Quan niệm về công nghiệp
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền
kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chât mà sản phẩm “chế tạo, chế
biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Theo từ điển tiếng Việt, công nghiệp là toàn thể những hoạt động kinh
tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến
13
nguyên thiên nhiên mà con người có thể khai thác và chế biến theo phương
14
pháp công nghiệp.
Công nghệ sản xuất được sử dụng trong công nghiệp chủ yếu là quá trình
tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ lý hóa để biến đổi các nguyên liệu ban
đầu thành các sản phẩm trung gian cho đến các sản phẩm cuối cùng khác nhau
về chất so với đặc tính ban đầu của chúng. Những công nghệ này ngày càng
phong phú đa dạng dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.
Sản phẩm công nghiệp do con người sáng tạo ra có khả năng đáp ứng
nhiều loại nhu cầu của sản xuất và đời sống. Gắn với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, đặc biệt là sự phát triển của quá trình chuyên môn hóa sản
xuất và sự phát triển khoa học công nghệ, các sản phẩm công nghiệp ngày
càng trở nên phong phú cả trong việc thỏa mãn nhu cầu đa dạng, muôn mầu
muôn vẻ của sản xuất đời sống, cũng như trong nguyên liệu sử dụng, trong
cấu trúc của sản phẩm và phương pháp cụ thể để sản xuất chúng.
* Quan niệm về công nghiệp nông thôn
Hiện nay, CNNT đang là mối quan tâm của các nước đang phát triển
trên thế giới và ở nước ta. Có nhiều quan niệm về CNNT do cách tiếp cận
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như sau:
Thứ nhất, cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế lãnh thổ
Theo đó, công nghiệp nông thôn được xem là một bộ phận của kinh tế
lãnh thổ, CNNT là công nghiệp được phân bố ở nông thôn. Cách tiếp cận này
chú trọng đến yếu tố lãnh thổ. Trên bình diện kinh tế lãnh thổ, CNNT được
xét trong quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của địa phương, nó là một bộ
phận hữu cơ trong cơ cấu kinh tế địa phương góp phần khai thác triệt để, có
hiệu quả các nguồn lực tại chỗ nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển KT - XH.
Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản lý ở địa phương dễ thực hiện quá
trình quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý công nghiệp nói riêng.
tiếp cận này thường được chấp nhận bởi các cán bộ quản lý, hoạch định chính
sách phát triển ngành công nghiệp vì nó gắn với quy hoạch, phân bố, điều
chỉnh hay theo dõi sự phát triển chung của ngành công nghiệp quốc gia, khái
niệm về CNNT có thể được hiểu như sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp đất nước được
phân bố ở nông thôn, bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy mô
vừa và nhỏ là chủ yếu, có các hình thức tổ chức và trình độ phát triển khác
nhau, hoạt động gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông
16
thôn do chính quyền địa phương quản lý.
Cần hiểu quan niệm CNNT với những nội dung sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp đất nước. Tuy
nhiên, doanh nghiệp công nghiệp nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp
lớn hoặc ngoài khu công nghiệp do thành phố hay trung ương quản lý tuy ở
trên địa bàn nông thôn nhưng không thuộc vào khái niệm CNNT.
Cơ cấu của CNNT bao gồm: công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản
tại nông thôn. Khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng. Sản xuất tư liệu tiêu
dùng, gia dụng, mỹ nghệ.
Hình thức tổ chức sản xuất của CNNT đa dạng phong phú: Hộ sản xuất
kinh doanh tiểu thủ công nghiệp. Các tổ hợp tác, hợp tác xã chuyên sản xuất
tiểu thủ công nghiệp, các công ty, doanh nghiệp tư nhân…
Quy mô công nghiệp nông thôn chủ yếu là vừa và nhỏ, lượng vốn ít, số
lượng lao động không nhiều.
1.1.2. Vai trò của công nghiệp nông thôn
CNNT là bộ phận của kinh tế nông thôn, bộ phận của nền công nghiệp
quốc dân. Sự phát triển của CNNT thu được nhiều lợi thế thể hiện vai trò to
lớn của công nghiệp nông thôn.
Một là, CNNT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phân
nông thôn ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Về cơ cấu vùng: CNNT là một giải pháp quan trọng cho sự phân công
lao động phù hợp để sử dụng có hiệu quả tiềm năng và lợi thế riêng từng
vùng. Ở từng vùng có thế mạnh khác nhau về đất đai, lao động, nguồn vốn và
kết cấu hạ tầng. Cho nên có phát triển CNNT mới có thể thu hút được nguồn
lao động dư thừa ở nông thôn cũng như tiềm năng lao động có tay nghề khác
ngoài sản xuất nông nghiệp bị lãng quên. Từ việc phát triển CNNT sẽ góp
phần phân bố lại lao động hợp lý ở những vùng đất hẹp người đông; làm cho
nông dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp có hiệu
quả. Như vậy, từ việc phát triển CNNT đã làm thay đổi cơ cấu lãnh thổ tạo
18
điều kiện khai thác các tiềm năng lợi thế của từng vùng, từ đó có cơ sở phân
bố lại cơ cấu lãnh thổ một cách hợp lý hơn.
Về cơ cấu các thành phần kinh tế: Do phát triển của CNNT, ở nông
thôn không chỉ dừng lại ở các hộ nông dân cá thể, các hợp tác xã nông nghiệp
mà còn có các công ty, doanh nghiệp công nghiệp thuộc nhiều thành phần
kinh tế hoạt động, thậm chí các nhà đầu tư nước ngoài còn đầu tư vào CNNT.
Sự đan xen giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động CNNT đã làm cho
kinh tế nông thôn sống động, đa dạng hơn. Từ đó các thành phần kinh tế
không chỉ có trong lĩnh vực CNNT mà lại lan tỏa ra ở hoạt động dịch vụ,
nông nghiệp. Sự sống động đa dạng của nhiều thành phần kinh tế đã góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và là điều kiện để CNNT phát triển.
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn hiện nay, CNNT là nội dung quan trọng đặc biệt vì nó làm biến đổi
cơ bản cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá ngành nghề nhằm
khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có ở nông thôn như tài nguyên đất
đai, khoáng sản, các vùng nguyên liệu, nguồn vốn, nguồn lao động và kỹ
thuật công nghệ, kinh nghiệm sản xuất của nhân dân.
ổn định và thường xuyên tăng lên ở nhiều hộ dân cư nông thôn làm cho sức
mua ở thị trường hàng tiêu dùng nông thôn tăng lên. Mặt khác do có nhu cầu sử
dụng sử dụng các máy móc công cụ nông nghiệp của các hộ sản xuất nông
nghiệp và nhu cầu sử dụng nguyên liệu là nông sản của các cơ sở công nghiệp
nông thôn ngày càng nhiều, dẫn đến sức mua ở thị trường tư liệu sản xuất của
nông thôn cũng tăng lên đáng kể.
Hai là, công nghiệp nông thôn làm tăng giá trị sử dụng và tăng giá trị
sản phẩm nông nghiệp
Mỗi sản phẩm tùy theo tính chất tự nhiên của nó có ít hay nhiều giá trị
sử dụng. Về cơ bản, tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công
nghệ là yếu tố quan trọng nhất làm tăng giá trị sử dụng cho các sản phẩm.
CNNT với những đặc thù riêng về kỹ thuật công nghệ đã đóng vai trò quan
trọng trong việc gia tăng giá trị sử dụng và giá trị cho các sản phẩm nông
nghiệp và sản phẩm khác trong nông thôn.
20
Điều quan trọng là CNNT với công nghệ không đòi hỏi phải có cơ sở
hạ tầng kỹ thuật hiện đại, không đòi hỏi quy mô lớn cũng đã có tác động làm
tăng giá trị sử dụng cho sản phẩm như những tiến bộ khoa học công nghệ
khác, yêu cầu phương tiện kỹ thuật hiện đại và tác động với quy mô sản phẩm
lớn. Có thể thấy rõ nhất là tác động của các ngành nghề truyến thống trong
chế biến nông sản. Ở nông thôn và trong nông nghiệp có một số sản phẩm
trồng trọt như mía, cam, nhãn, vải... thu hoạch theo mùa vụ, số lượng không
lớn, không thể bảo quản theo cách thông thường mà có thể để sử dụng lâu
hoặc vận chuyển đi xa được. Nếu không có tác động của CNNT là các ngành
chế biến nông sản thủ công thì các sản phẩm đó chỉ có thể dùng làm thực
phẩm tươi sống, sử dụng trong một thời gian ngắn. Những nghề chế biến
nông sản truyền thống ở một số làng nghề truyền thống với công nghệ phân
loại, sơ chế, sao tẩm đã làm cho các sản phẩm quả này không chỉ là thực
Các nguồn lực ở trong nước như vốn, lao động, đất đai, vùng sản xuất
nguyên liệu và kỹ thuật công nghệ sản xuất và các nguồn lực từ nước ngoài
như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm, bí quyết sản xuất và quản trị doanh
nghiệp... được coi trọng sẽ động viên và huy động kịp thời cho phát triển
CNNT. Chẳng hạn như phát triển CNNT đa ngành sẽ tận dụng và sử dụng được
hiệu quả hơn tiềm năng loại đất không thể canh tác được, bị bỏ hoang.
Tuy vậy, cũng phải nhấn mạnh rằng, vai trò động viên và huy động các
nguồn lực phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để CNNT có sức lan tỏa,
tích cực hỗ trợ cho kinh tế nông thôn phát triển và đạt hiệu quả cao.
Bốn là, CNNT có vai trò rất lớn đối với việc phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế kỹ thuật nông thôn
Phát triển CNNT không chỉ đặt ra yêu cầu cao mà còn trực tiếp góp
phần phát triển kết cấu hạ tầng KT - KT ở nông thôn. Bởi kết cấu hạ tầng kinh
tế nói chung và kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật nông thôn nói riêng là điều
kiện của sản xuất. Vì vậy, để CNNT phát triển phải phát triển đồng bộ các loại
kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc…, sự phát triển
này phải xuất phát từ yêu cầu phát triển KT - XH nông thôn nói chung và phát
triển CNNT nói riêng. Đồng thời chính sự phát triển của CNNT đã tạo ra các
điều kiện như vốn, công nghệ,… để phát triển các loại kết cấu kết cấu hạ tầng
kinh tế phục vụ cho nó.
22
Theo đó CNNT góp phần nâng cao kết cấu hạ tầng (điện, đường,
trường, trạm) ở nông thôn, phục vụ tốt cho KT - XH nông thôn, làm xuất hiện
nhiều trung tâm kinh tế ở nông thôn và đẩy mạnh được quá trình đô thị hóa
nông thôn (thị trấn, thị tứ).
Năm là, công nghiệp nông thôn góp phần giải quyết các vấn đề văn
hóa, xã hội ở nông thôn
Hiện nay, yêu cầu phát triển CNNT phải bền vững. Sự phát triển của
triển CNNT chưa hẳn đã thống nhất.
Thứ nhất, không ít tác giả cho rằng phát triển CNNT là quá trình
mở rộng, đẩy nhanh các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Một
số người thì đồng nghĩa phát triển CNNT với sự phát triển các doanh
nghiệp công nghiệp vùng nông thôn. Một số khác lại cho rằng phát
triển CNNT là một nội dung của phân bố địa lý công nghiệp và phát
triển công nghiệp toàn quốc cũng như của từng khu vực, địa phương
theo những bước đi khác nhau, theo phương thức tuần tự từ trình độ
thấp đến trình độ cao, từ phân tán đến tập trung.
Thứ hai, có tác giả khẳng định rằng, quan niệm về phát triển
CNNT tuy có sự khác nhau, nhưng phải thấy phát triển CNNT là một
vấn đề KT - XH nằm trong chiến lược phát triển đất nước, vừa gắn với
các chương trình phân bố lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế vùng,
miền vừa gắn với những chương trình phát triển các ngành KT - KT.
Thứ ba, phát triển CNNT vừa nhằm mục tiêu kinh tế, chính trị, xã
hội vừa nhằm mục tiêu quốc phòng - an ninh. Những mục tiêu này gắn
bó với nhau, đan quyện vào nhau một cách hữu cơ, làm điều kiện tiền
đề cho nhau, nhưng tùy tình hình cụ thể mà có thể mục tiêu này nổi
trội so với mục tiêu kia ở những vùng, địa phương, những ngành khác
nhau, thời điểm khác nhau.
Thứ tư, phát triển CNNT là một trong những nội dung rất cơ bản của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; là bộ phận có tầm
quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển KT - XH khu vực nông thôn.
Sự phát triển CNNT đúng hướng có tác động tích cực đến tăng trưởng
24