Phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Hòa Bình hiện nay - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BẠCH THỊ HÀ

PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thường

Hà Nội-2014

1


MỤC LỤC

2


1. Lý do chọn đề tài
Sau đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt,
lịch sử Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới, có vị trí quan trọng trên trường
quốc tế. Đạt được những thành tựu đó là do Đảng và Nhà nước ta sau nhiều
lần sửa đổi, bổ sung và phát triển Nghị quyết tại Đại hội VII và Đại hội VIII
đã xác định: tập trung phát triển mọi mặt, trong đó lấy phát triển kinh tế là
trung tâm và kinh tế phải gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Cùng với cả nước, tỉnh Hòa Bình cũng đang tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa với những đặc điểm riêng của mình. Là một tỉnh miền núi Tây Bắc,
có nhiều dân tộc anh em, tỉnh Hòa Bình có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí
quan trọng về chính trị, quốc phòng và an ninh. Do vậy, việc tổng kết thực tiễn,
cũng như việc vận dụng lý luận vào thực tiễn đời sống để rút ra những bài học,
kinh nghiệm nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Hòa Bình trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Phát triển lực lượng sản
xuất ở tỉnh Hòa Bình hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đã được các nhà khoa học đề cập đến từ nhiều góc độ khác nhau.
Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển
lực lượng sản xuất của các tác giả được xuất bản như: Phát triển kinh tế - xã
hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Mai Quốc Chánh,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Xây dựng quan
hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng, xã
hội ở Việt Nam, Lương Xuân Quỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002...
đều bàn đến các khía cạnh của việc phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế...
4


Vấn đề này còn được nêu ra trong các tạp chí, cụ thể là các nhân tố như
khoa học - công nghệ, nguồn lực con người... có tác động như thế nào tới sự
phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước như hiện nay. Tiêu biểu phải kể đến các bài viết: Ưu tiên

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về việc
phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hòa
Bình dưới dạng một luận văn khoa học. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài
trên làm luận văn thạc sĩ của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Phát triển lực lượng sản xuất nhằm đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về thực
trạng, triển vọng, giải pháp phát triển lực lượng sản xuất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
4. Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hòa Bình hiện nay, luận văn phát hiện vấn đề nảy sinh
và đưa ra những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển lực lượng sản
xuất, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Hòa Bình.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của nó trong sự
phát triển xã hội.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng của lực lượng sản xuất ở tỉnh Hòa Bình
và chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hòa Bình.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản
xuất ở tỉnh Hòa Bình, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những tác phẩm chính yếu của triết học
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận hình thái kinh tế xã hội, về quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất; các Văn kiện của Đẳng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, tham khảo các công
trình nghiên cứu của nhều nhà khoa học có liên quan đến đề tài.
6

7


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận của việc phát triển lực lượng sản xuất ở Hòa Bình
hiện nay
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành lao động sản xuất vật
chất. Muốn hoạt động đó của con người được tiến hành bình thường, cần phải có
một số điều kiện nhất định như: môi trường địa lý, điều kiện dân số, phương
thức sản xuất. Các yếu tố kể trên đều có sự tác động qua lại lẫn nhau và ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất vật chất nói chung; nhưng trong đó
phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và có ý nghĩa quyết định nhất.
Phương thức sản xuất là cách thức làm ra của cải vật chất của con
người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Phương thức sản xuất đóng vai
trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội : kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong
lịch sử quyết định sự phát triển của lịch sử loài người từ thấp đến cao.
Trong sản xuất, con người có quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ
giữa người với tự nhiên, tức là lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa
người với người, tức là quan hệ sản xuất. Phương thức sản xuất chính là sự
thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản
xuất tương ứng.
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành của nó
Trong nghiên cứu sự vận động, phát triển của xã hội loài người, điểm
cơ bản làm cho C. Mác thành công và khác về chất so với các nhà triết học
trước C. Mác ở chỗ ông đã vận dụng phép biện chứng duy vật để giải quyết
những vấn đề của lịch sử. Cụ thể hơn, ông đã xuất phát từ những "sự thật giản
đơn" trong đời sống vật chất của con người và xã hội để giải thích các hiện

Trong quá trình đó, con người đồng thời tự cải tạo bản thân mình cả về sinh
thể và trí tuệ. Ngày nay, yếu tố trí tuệ đang ngày càng trở nên chiếm ưu thế và
được coi là lực lượng sản xuất trực tiếp.
9


Thứ ba: Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong
phương thức sản xuất, nó thường xuyên vận động và phát triển; nó quyết định
sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Thông qua việc các nhà kinh điển sử dụng khái niệm lực lượng sản
xuất, đã có khá nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về lực lượng
sản xuất. Trong số đó, theo chúng tôi, định nghĩa sau đây phản ánh tương đối
đầy đủ nội hàm và ngoại diên của khái niệm này:
Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (trước
hết là công cụ lao động) và những người sử dụng những tư liệu này để sản
xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất chủ yếu là những con người có
thói quen, kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn nắm được kỹ thuật,
sử dụng được công cụ để tiến hành sản xuất [từ điển triết học, (1986), Nxb
Tiến Bộ, Mátxcơva,tr. 281-282].
Như vậy, lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố:
1.1.1. 1. Người lao động
Người lao động là yếu tố quan trọng bậc nhất của lực lượng sản xuất.
V.I Lênin đã từng viết: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
người công nhân, là người lao động" [11, tr. 430]. Con người là chủ thể tích
cực, sáng tạo và quyết định hoạt động tác động đến tự nhiên. Trong hoạt động
sản xuất, con người không chỉ tác động một cách đơn giản bằng sức mạnh cơ
bắp của mình đến tự nhiên, mà con người với trí tuệ là chủ đạo, biết vận dụng
tri thức khoa học - kỹ thuật, chuyên môn, kỹ xảo, v.v... còn biết tạo ra những
công cụ bổ trợ cho các khí quan của mình, và sử dụng những công cụ đó làm
cho tự nhiên thay đổi theo mục đích, yêu cầu có sẵn hình ảnh trong tư duy từ

1.1.1.2. Tư liệu sản xuất
Cùng với người lao động, tư liệu sản xuất là một trong những mặt cơ
bản của lực lượng sản xuất. Theo C.Mác, tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Ông viết: "Nếu đứng về mặt kết quả của nó, tức
là đứng về mặt sản phẩm mà xét toàn bộ quá trình, thì cả tư liệu lao động lẫn đối
tượng lao động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất" [12, tr. 271].

11


Trong những yếu tố của tư liệu sản xuất, tư liệu lao động - được hiểu là
những công cụ lao động, đó là một trong những yếu tố thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của con người, thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
thông qua nó, sức mạnh của con người trước tự nhiên được tăng lên nhiều lần.
Công cụ lao động là những vật thể hay những phức hợp vật thể do con
người và xã hội tạo ra để "đặt" giữa con người và đối tượng lao động. Chúng
có vai trò truyền dẫn sức lực và trí tuệ của con người đến đối tượng lao động,
cải biến những vật liệu tự nhiên thành những vật phẩm theo mục đích, yêu
cầu có trước của một quy trình sản xuất cụ thể nào đó. Tùy thuộc vào loại
công cụ và trình độ kỹ thuật của nó mà con người có thể sử dụng nó. Có những
công cụ lao động có kết cấu đơn giản như: công cụ thô sơ, công cụ thủ công; có
những công cụ phức tạp, tinh xảo như máy móc cơ khí, máy móc bán tự động
hoặc tự động, v.v... Trình độ phát triển của công cụ lao động chỉ rõ trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, mức độ tinh xảo của công cụ lao động giúp
chúng ta phân biệt được lực lượng sản xuất đó ở nền văn minh nào, ở giai
đoạn lịch sử nào. Nếu công cụ lao động càng tinh xảo, nó càng truyền dẫn
được nhiều sức lực của con người tác động đến đối tượng lao động thì năng
suất lao động càng cao. Vì thế có thể gọi công cụ lao động là "hệ thống xương
cốt" của nền sản xuất xã hội.
Hiện nay, trong quá trình sản xuất vật chất, mục đích lớn nhất của các nhà

việc khai thác mang về là có thể đáp ứng ngay được những nhu cầu nào đó
của mình, cũng có những loại vật phẩm lại phải qua nhiều lần cải tạo, nhiều
khâu trung gian, mới trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Khi
nền sản xuất xã hội càng phát triển, khoa học - công nghệ càng cao, thì loại
đối tượng phải cải tạo nhiều lần càng được mở rộng, điều này là do nhu cầu
ngày càng cao của con người quy định.
Chúng ta đã biết rằng, trong sản xuất con người thường xuyên tự cải
tạo mình về mọi mặt, cũng như liên tục cải tiến công cụ lao động, để ngày
càng làm ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của
con người và xã hội. Ngược lại, nhu cầu của xã hội cũng tác động làm cho sản
xuất ngày càng phát triển, kéo theo các lĩnh vực phục vụ cho hoạt động sản
xuất cũng phát triển theo. Đặc biệt là sự phát triển của công cụ lao động và
13


việc ứng dụng các thành tựu của khoa học để cải tiến, sáng chế, phát minh
những công cụ lao động đó, đã làm cho con người ngày càng có vai trò to lớn,
càng có sức mạnh ghê gớm trước tự nhiên. Sức mạnh của con người phát triển
ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng trong việc tác động, khai thác đối tượng lao
động. Vì thế mà hiện nay, vấn đề đối tượng lao động cần phải được xem xét
và quan tâm đặc biệt, để tránh những hiểm họa do chính sự phát triển của nó
gây ra như tài nguyên cạn kiệt, môi trường suy thoái và ô nhiễm... làm cho sự
sống của con người đang bị đe dọa
Trong những đối tượng lao động mà con người tác động, khai thác, có
những yếu tố có khả năng phục hồi trở lại, cũng có những yếu tố không thể
hồi phục được bởi quá trình sinh thành nó phải trải qua một thời kỳ thiên tạo
rất lâu dài so với lịch sử của xã hội con người. Do đó, hiện nay
vấn đề cạn kiệt tài nguyên, cạn kiệt năng lượng, ô nhiễm môi trường, bệnh tật,
v.v... đã trở thành vấn đề toàn cầu, thách thức toàn nhân loại, bắt buộc mọi
quốc gia, mọi dân tộc, mọi khu vực phải xem xét lại những vấn đề thuộc về

lý, có hiệu quả cao nhằm biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành những
vật phẩm hay hàng hóa. Công nghệ còn là kỹ năng chế tạo, sử dụng những
công cụ lao động, trình độ tổ chức, quản lý sản xuất và mua, bán sản phẩm,
v.v... Nhờ những thành tựu của khoa học - công nghệ mà sản xuất xã hội có
những thay đổi to lớn. Nó không chỉ là sự thay đổi, phát triển trong kỹ thuật
sản xuất mà còn đưa đến những công nghệ mới, những ngành sản xuất mới;
phát hiện và đề ra nhiều phương pháp mới trong sản xuất, nhất là những phát
hiện về nguồn nguyên liệu và nguồn năng lượng mới. Nó đã làm cho hoạt
động sản xuất của xã hội phát triển với một tốc độ chưa từng có, đáp ứng
nhanh chóng tất cả các nhu cầu của con người.
Nhân loại đã từng chứng kiến nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất vật
chất do những cuộc cách mạng về khoa học - công nghệ đem lại. Càng về sau,
khoa học càng đem lại cho con người những đổi thay mạnh mẽ và sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngày nay, vừa phát triển mạnh về
chiều sâu, vừa mở rộng ra nhiều lĩnh vực và đang được đặc biệt quan tâm ở ba
mũi nhọn cơ bản là:

15


Thứ nhất: Công nghệ điện tử, tin học và viễn thông. Bằng kỹ thuật số
và ứng dụng rộng rãi tin học vào đời sống và sản xuất: từ tổ chức, quản lý,
điều hành cho đến mua bán các sản phẩm, tạo mẫu mã, v.v... quá trình sản
xuất vật chất và hoạt động của con người đã ngày càng tự động hóa cao.
Trong đời sống - xã hội đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như: nền kinh tế ảo,
thị trường ảo hoặc kinh tế mạng, kinh tế tri thức... Sự toàn cầu hóa thông tin
và thị trường kinh tế làm cho thế giới dường như trở nên nhỏ bé hơn đối với
con người. Điều đó cho phép những quốc gia chậm phát triển có cơ hội tránh
được các bước phát triển tuần tự không cần thiết trong lịch sử để đi tắt, đón
đầu tạo ra sự phát triển mới của mình. Nhưng đó cũng chính là rào cản lớn

những khuynh hướng vận động của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói
riêng, nhờ đó có những chính sách, định hướng phát triển kinh tế - xã hội một
cách phù hợp.
1.1.2. Vị trí và vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người.
Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra
bản than con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua
lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã
hội. Theo Ph. Ăngghen, “điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người và xã
hội loài vật là ở chỗ: loài vật chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất”
[cm, ă,(1998), Toàn tập, tâp 34, tr.241].
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác
động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra
của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không ngừng thỏa mãn
với những cái có sẵn trong giới tự nhiên, mà luôn luôn tiến hành sản xuất vật
chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng
phong phú, đa dạng của con người. Việc sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt là
yêu cầu khách quan của đời sống xã hội. Bằng việc “sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống
vật chất của mình”[giáo trình triết học, tr.350].
17


Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển
của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã
hội. Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuât,
tôn giáo… đều hình thành biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất. Khái quát lịch
sử phát triển của nhân loại, C.Mác đã kết luận: “Việc sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta

lực lượng sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của
công cụ lao động; trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người;
trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học
vào sản xuất. Do đó, khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công
lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa. Như
vậy, có thể nói, lực lượng sản xuất có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng
trong sự vân động và phát triển của xã hội loài người. Điều này được thể hiện
rõ nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất như sau:
Thứ nhất, sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và
làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó.
Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó, quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, xã hội luôn vận
động và phát triển làm cho lực lượng sản xuất cũng không ngừng biến đổi
theo. Do vậy, lực lượng sản xuất nào, quan hệ sản xuất ấy; lực lượng sản xuất
thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo. Nghĩa là, nếu quan hệ
sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không biến đổi kịp thời thì đến
một lúc nào đó nó trở nên lạc hậu, không phù hợp với lực lượng sản xuất nữa,
nó trở thành xiềng xích, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay thế
quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Vì vây, C.Mác viết:
“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… trong đó, từ
19


trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình
thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những


Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định rõ: “có nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp”. Cương lĩnh
nhấn mạnh việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có quan
hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa”, đây chính là điểm mấu chốt, là nguyên nhân sâu xa
góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước
ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp.
Là một tỉnh miền núi nghèo phía Tây Bắc, Hòa Bình còn nhiều khó
khăn, yếu kém trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Những hạn chế, khuyết
điểm này của tỉnh chỉ có thể khắc phục bằng việc phát triển lực lượng sản
xuất. Vì vậy, tỉnh Hòa Bình phải biết vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất một cách
linh hoạt, mềm dẻo vào quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế của tỉnh
mình, có như vậy mới góp phần thúc đẩy sự nghiệp của đất nước đi lên.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của quy luật trong sự phát triển kinh tế
của tỉnh cũng như của cả nước, tỉnh Hòa Bình cũng đã có những thay đổi
trong chiến lược, cũng như sách lược nhằm đưa nền kinh tế cũng như mọi lĩnh
vực của tỉnh đi lên theo hướng tích cực.
Hòa chung với không khí đổi mới của đất nước, cố gắng bắt kịp theo xu
hướng của thời đại, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Hòa
Bình cũng đã có những thay đổi trong cơ cấu và điều chỉnh chiến lược phát
triển kinh tế của tỉnh. Cải tạo và đổi mới tư liệu sản xuất sẵn có trong tỉnh,
phát triển hơn nữa những tư liệu chưa có. Đặc biệt, tỉnh đã chú trọng hơn
trong việc nâng cao trình độ cũng như chất lượng người lao động bằng việc
đổi mới và đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, ưu tiên trong việc phát triển y tế
các cấp… Quan trọng hơn nữa, tỉnh Hòa Bình đã có những bước tiến mới
đáng kể trong việc tiếp thu cũng như sử dụng rộng rãi những thành tựu khoa
học công nghệ hiện đại trong mọi lĩnh vực… Trải qua nhiều năm thực hiện

Tây sát nhập thành Hà Sơn Bình. Năm 1991, kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa VIII
đã quyết định điều chỉnh lại địa giới và chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh
Hà Tây và Hòa Bình.
22


Tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và một thị xã, bao gồm 195 xã, 8 phường
và 11 thị trấn. Tỉnh lỵ của Hòa Bình hiện nay là thị xã Hòa Bình, cách trung
tâm thành phố Hà Nội 76 km. Đường quốc lộ số 6 đi qua Hòa Bình dài 125
km, nối liền Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào. Các
tuyến đường 12, 15, 21 đã nối liền Hòa Bình với các tỉnh Ninh Bình, Thanh
Hóa, Hà Nam. Hiện nay tuyến đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc
lộ 21, giao với quốc lộ 12 tại Thanh Hà, Lạc Thủy, nối liền với các tỉnh bạn
rất thuận lợi cho việc thông thương, giao lưu phát triển kinh tế xã hôi.
Địa hình Hòa Bình bị chia cắt phức tạp và có độ dốc lớn. Vùng núi cao hiểm
trở nằm ở phíaTây Bắc tỉnh chiếm 46% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với độ
cao trung bình 600 – 700 m so với mực nước biển và độ dốc 300 - 350, có nơi
có độ dốc trên 400. Phía đông nam là vùng núi thấp chiếm 54% diện tích tự
nhiên của tỉnh, với độ cao trung bình 100 – 200 m và độ dốc 200 – 250.
Trên dải cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ - Lai Châu đến bờ biển
tỉnh Ninh Bình, hoạt động cácxtơ hóa đã tạo ra các bồn địa giữa núi có điều
kiện cư trú thuận lợi (địa hình thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có
nguồn nước…), hình thành nên các xứ Mường trù phú thường được người
Mường ca tụng: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (nay thuộc địa
phận các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong và Kim Bôi).
1.2.1.2. Điều kiện lịch sử, dân cư
* Điều kiện lịch sử:
Tỉnh Hòa Bình được thành lập ngày 22 tháng 6 năm 1886 theo nghị
định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường, tách phần đất có
người Mường cư trú từ các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình..

về kinh tế và văn hóa mở rộng, nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đều
tìm kiếm cơ hội làm ăn và sinh sống ở Hòa Bình.
Người Thái, chủ yếu sống tập trung ở huyện Mai Châu. Tuy sống gần
với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống
(đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Hiện
nay, khu du lịch Bản Lác là một trong những điểm du lịch hàng đầu ở Hòa
Bình hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
24


Người Tày, chủ tập trung ở huyện Đà Bắc, sống xen kẽ với người
Mường, người Dao. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống
với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang
phục thì người Tày ở Đà Bắc giống người Thái Trắng thuộc các huyện Phù
Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La.
Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương
Sơn, Kim

Bôi, Cao

Phong, Kỳ

Sơn và thành

phố

Hòa

Bình. Người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status