DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Bảo hiểm y tế
BHYT
Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
UNDP
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Dân tộc thiểu số
DTTS
Kinh tế - xã hội
KT-XH
Khoa học kỹ thuật
KHKT
Nông thôn mới
giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình
Chương 2. THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HOÀ
BÌNH THỜI GIAN QUA
2.1. Thành tựu, hạn chế về giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình
2.2. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra với giảm
nghèo ở tỉnh Hòa Bình
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH GIẢM
NGHÈO Ở TỈNH HOÀ BÌNH THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm đẩy mạnh giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình
3.2. Giải pháp đẩy mạnh giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình
thời gian tới
13
13
21
31
31
61
69
69
72
KẾT LUẬN
83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84
đạo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta đã
xác định, thực hiện kinh tế thị trường phải “thừa nhận trên thực tế... sự phân
hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội” [8, tr.72], coi đó là một hiện tượng xã
hội đang hiện hữu, chi phối đời sống xã hội. Đại hội chỉ rõ, khuyến khích các
tầng lớp nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế
phân hoá giàu nghèo gắn với mục tiêu “phải luôn luôn quan tâm bảo vệ lợi
ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi
pháp, coi trọng xoá đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội,
tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” [8, tr.73]. Đại hội lần thứ
IX, đã có bước phát triển mới: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời
ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực sản
xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội” [9, tr.163]. Đại
hội lần thứ X của Đảng tiếp tục chỉ rõ và đề ra mục tiêu cụ thể: “Khuyến
khích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính
sách xoá đói, giảm nghèo”, “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã
hội trong phạm vi cả nước ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” [10, tr.101]; phấn đấu đến
năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 10 - 11% (năm 2005, tỉ lệ hộ
nghèo cả nước còn khoảng 22%). Đặc biệt, trong Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011 - 2020, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ
bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo cơ hội
bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản,
các phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù
hợp với từng thời kỳ; đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm
giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt
khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu
nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm
vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như các chính sách trong thực hiện
5
còn chồng chéo, thiếu thống nhất và đồng bộ; việc giảm nghèo vẫn chủ yếu
thiên về lượng, chưa chú ý đến chất lượng giảm nghèo, còn mang tính ngắn
hạn, thành tích và phong trào; tình hình phân cấp, phân quyền còn thiếu thống
nhất trong xây dựng và thực thi chính sách; công tác đánh giá và giám sát còn
yếu. Hệ thống chính sách giảm nghèo chưa thực sự tạo ra động lực mạnh mẽ
để người nghèo thoát nghèo.
Tỉnh Hoà Bình với đặc điểm kinh tế - xã hội đặc thù, là một tỉnh miền
núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, hiện có 1 thành phố và 10 huyện, trong đó
có với 210 đơn vị hành chính cấp xã (gồm có 11 thị trấn, 8 phường và 191
xã); có 6 dân tộc sinh sống với dân số trên 83 vạn người; thu nhập bình quân
đầu người: 1.500 USD. Mặc dù, tỉnh Hoà Bình đã có những hoạt động cụ thể
để giảm nghèo, nhưng đến năm 2015 tổng số hộ nghèo còn trên 2,7 vạn hộ
nghèo (chiếm 13,7%) và hiện vẫn là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo
cao so với cả nước. [7, tr.5]. Nguyên nhân đói nghèo của tỉnh ngoài những
nguyên nhân chung giống như các địa phương trong nước, còn có những
nguyên nhân gắn với đặc thù kinh tế, xã hội của địa phương:
Thiếu vốn sản xuất: Đây là nguyên nhân số 1. Khoảng trên 90 % số hộ
nghèo là thiếu vốn. Nông dân nghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, thường
xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu
hàng ngày nên không có vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng vì
không có tài sản thế chấp.
Không có kinh nghiệm làm ăn: Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản
xuất rất hạn chế. Khoảng 45% hộ thiếu kinh nghiệm làm ăn. Nguyên nhân là
do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với
đất đai, cây trồng, vật nuôi; không có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm,
không được hổ trợ cần thiết và một phần là do hậu quả của một thời gian dài
Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của
nhân dân nhằm giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, tác giả đã chọn vấn đề
7
"Giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình" làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành
kinh tế chính trị của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề nghèo đói, xóa đói giảm nghèo là chủ đề của rất nhiều công
trình nghiên cứu dưới các khía cạnh khác nhau ở cả trong nước và ngoài
nước:
- Nghiên cứu của UNDP (1995) đã được tiến hành đồng thời đó là
"Giảm nghèo ở Việt Nam"; điểm nổi bật trong nghiên cứu này là đã làm rõ
được nguyên nhân gây ra đói nghèo ở Việt Nam và phân tích tác động của các
nhóm giải pháp được thực hiện tương ứng với các nguyên nhân. Trong đó,
một số chính sách giảm nghèo như chính sách đất đai, chính sách tín dụng ưu
đãi, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng cũng được đánh giá chi tiết.
- PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS. Hoàng Văn Hoa (1999), “Kinh tế thị
trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã đánh giá
những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng ở
vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.
- TS. Lê Xuân Bá (2001), “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt
Nam”, Nxb Nông nghiệp. Tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên
thế giới; đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở
Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình; qua đó
đưa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
- Trung tâm Phát triển Nông thôn và Ngân hàng thế giới (2002); UNDP
(2002); Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và chương trình hợp tác Việt Đức (2002) "Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Ninh
* Đối tượng nghiên cứu: Về giảm nghèo ở tỉnh Hoà Bình.
* Phạm vi nghiên cứu
+ Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Hoà Bình
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2015 và định hướng
đến năm 2020.
10
+ Nội dung nghiên cứu: Về cơ chế chính sách, biện pháp giảm nghèo;
những thành tựu và hạn chế, những vấn đề đặt ra với hoạt động giảm nghèo
hiện nay cùng những giải pháp thực hiện.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận: Luận văn thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các lý thuyết của
kinh tế học phát triển và kinh tế học hiện đại để nghiên cứu về vấn đề giảm
nghèo.
- Cơ sở thực tiễn:
+ Nghiên cứu giảm nghèo ở tỉnh Hòa Bình, luận văn dựa vào các tiêu
chí xác định nghèo và chuẩn nghèo của Việt Nam là cơ sở để xem xét và đánh
giá kết quả của hoạt động giảm nghèo tại địa phương. Đồng thời, trong thực
tiễn nghiên cứu, luận văn đã nắm bắt những điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh
Hòa Bình - một tỉnh miền núi có nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế là
những bất lợi với hoạt động giảm nghèo. Từ đó, luận văn có căn cứ khoa học
để đánh giá khách quan, toàn diện hơn những kết quả và hạn chế trong hoạt
động giảm nghèo. Đó là cơ sở thực tiễn để tìm ra những mâu thuẫn với hoạt
động giảm nghèo ở địa phương hiện nay nhằm tìm ra những giải pháp phù
hợp để thúc đẩy hoạt động giảm nghèo theo hướng tích cực hơn, hiệu quả hơn
gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HOÀ BÌNH
1.1. Quan niệm về nghèo và giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về nghèo
* Quan niệm của thế giới
- Theo quan niệm của Liên hợp quốc, nghèo có hai dạng: Nghèo tuyệt
đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư
không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về
ăn (thiếu ăn nhưng không đứt bữa), mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo
tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của
cộng đồng địa phương hay một nước.
- Hội nghị bàn về giảm đói nghèo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
do Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc,
Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo đói là
tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ
bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong
tục tập quán của địa phương". Như vậy, nghèo tuyệt đối là không được thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản (cả nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu phi
lương thực) nhưng những nhu cầu cơ bản này lại tùy thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế và phong tục, tập quán của từng địa phương chứ không cố định.
* Quan niệm của Việt Nam
Trên cơ sở các khái niệm của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã đưa ra
khái niệm về nghèo cụ thể hơn:
13
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một
Ở góc độ giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo,
hộ nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách
nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn hơn để từng bước
thoát ra khỏi tình trạng nghèo.
1.1.2. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo
* Tiêu chí xác định chuẩn nghèo thế giới
Ngân hàng thế giới đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của
các quốc gia căn cứ vào bình quân thu nhập đầu người theo một số cách tính:
- Phương pháp ATLAS: Theo phương pháp này, ở cấp quốc gia, căn cứ
mức thu nhập bình quân đầu người năm 1990, Ngân hàng thế giới phân loại
giàu nghèo trên thế giới thành 6 mức như sau:
+ Nước cực giàu: trên 25.000 USD/người/năm
+ Nước giàu: từ trên 20.000 USD đến 25.000 USD/người/năm
+ Nước khá giàu: từ trên 10.000 USD đến 20.000 USD/người/năm
+ Nước trung bình: từ trên 2.500 USD đến 10.000 USD/người/năm
+ Nước nghèo: từ trên 500 USD đến 2.500 USD/người/năm
+ Nước cực nghèo: dưới 500 USD/người/năm.
- Phương pháp PPP (Purchasing Power Parity) là phương pháp sức mua
tương đương tính theo USD.
Ngân hàng thế giới đã đưa ra chuẩn nghèo đói tính theo số Calo tối
thiểu cần thiết cho một người để sống là 2100 Calo/người/ngày, những hộ gia
đình không đảm bảo được mức này là những hộ nghèo khổ. Tiêu chuẩn này
được tính chung cho các nước trên thế giới, do đó nghèo khổ theo tiêu chuẩn
này chính là nghèo tuyệt đối. Theo mức đánh giá chung của thế giới, để đảm
bảo mức 2100 Calo/người/ngày thì cần ít nhất là 01USD/người/ngày. Theo
15
tiêu chuẩn này, thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đói nghèo, các khu vực có
người nghèo nhất thế giới hiện nay là châu Phi và châu Á. Đến năm 1995,
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương
đương 70.000 đồng).
+ Vùng thành thị: dưới 25kg/người /tháng (tương đương 90.000 đồng).
- Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH):
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng thành thị: dưới 150.000 đồng/người /tháng.
- Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg):
+ Vùng nông thôn (cả miền núi và đồng bằng): từ 200.000
đồng/người/tháng trở xuống.
+ Vùng thành thị: từ 260.000 đồng/người/ tháng trở xuống.
- Giai đoạn 2011 – 2015 (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg).
+ Khu vực nông thôn: từ 400.000đồng/người/tháng trở xuống.
+ Khu vực thành thị: từ 500.000đ/người/tháng trở xuống.
Giai đoạn 2011-2015, Chính phủ còn quy định chuẩn nhóm cận nghèo,
cụ thể:
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ
401.000đ đến 520.000đ/người/tháng.
17
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ
501.000đ đến 650.000đ/người/tháng.
- Giai đoạn 2016– 2020 (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg), Thủ tướng
Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020
+ Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016-2020.
Các tiêu chí về thu nhập:
700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. [19, tr.1].
1.1.3. Quan niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng
bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ % và số lượng người
nghèo giảm. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân
cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển
từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa
chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Giảm nghèo là một phạm trù mang tính lịch sử. Bởi nghèo vẫn còn tồn
tại khi nền kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và tồn tại sự khác biệt về năng
lực, thể chất, địa vị xã hội… giữa các cá nhân. Do đó, chỉ có thể từng bước
giảm nghèo, chưa thể tiến tới xóa được nghèo.
19
Do việc đánh giá và cách nhìn nguồn gốc dẫn đến nghèo khác nhau,
nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về giảm nghèo:
- Nếu hiểu nghèo là tình trạng đình đốn của phương thức sản xuất đã bị
lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo chính là quá trình chuyển đổi
sang phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn (nghèo ở các nước đang phát
triển).
- Nếu hiểu nghèo là do tình trạng phân phối thặng dư trong xã hội một
cách bất công đối với người lao động, do chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất thì giảm nghèo chính là quá trình xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất.
- Nếu hiểu nghèo là hậu quả của tình trạng chủ nghĩa thực dân đế quốc
Giảm nghèo tại tỉnh Hòa Bình là hoạt động có mục đích, có tổ chức
của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên địa bàn tỉnh, kết hợp chặt chẽ
đồng bộ việc thực hiện các mục tiêu giảm nghèo với quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn dân cư của từng xã - thị trấn,
thành phố - huyện và toàn tỉnh nhằm tạo ra môi trường, cơ hội phát triển
thuận lợi, trợ giúp hữu hiệu người nghèo về vật chất, tinh thần, được tiếp cận
các nguồn lực phát triển (vốn, kỹ thuật, thông tin, thị trường…; đồng thời
động viên người nghèo, hộ nghèo tăng cường phát huy nội lực, chủ động, có
niềm tin, có ý thức tiết kiệm và ý chí tự vươn lên thoát nghèo.
Theo quan niệm này, các chủ thể tham gia các hoạt động giảm nghèo
bao gồm: Tổ chức đảng và chính quyền, ban, ngành là người lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức thực hiện các chương trình giảm nghèo; các tổ chức đoàn thể, các
hội đóng vai trò hỗ trợ; người trực tiếp trong lao động sản xuất kinh doanh để
21
thoát nghèo là chính bản thân những hộ nghèo, người nghèo có sự tham gia
hỗ trợ của cộng đồng xã hội.
- Ở nước ta, chương trình giảm nghèo là chương trình quốc gia nên cơ
quan nhà nước các cấp thường tham gia với tư cách tổ chức điều hành chính.
Hình thức của tổ chức này là một ban chỉ đạo gồm các thành viên kiêm nhiệm
lấy từ các cơ quan chức năng của Nhà nước và ban, ngành có liên quan như
cơ quan phụ trách về lao động, thương binh, xã hội, cơ quan tài chính, cơ
quan kế hoạch đầu tư, hội phụ nữ, đoàn thanh niên... Ở một số nước, cơ quan
chỉ đạo chính sách xóa đói, giảm nghèo có thể là một tổ chức độc lập chuyên
trách hoạt động theo một văn bản pháp lý nhất định với các quy định rõ ràng
về tài chính, quyền hạn và các mục tiêu phải hoàn thành. Mỗi hình thức tổ
chức cơ quan nhà nước chỉ đạo chính sách xóa đói, giảm nghèo có ưu thế và
nhược điểm riêng. Chẳng hạn, hình thức kiêm nhiệm có ưu điểm tiết kiệm chi
nghèo cùng gặp khó khăn trên thị trường, các hoạt động hỗ trợ này dễ bị đứt
đoạn. Các tổ chức thanh niên, phụ nữ, hội nông dân... do bản chất xã hội,
chính trị của họ, có thiện chí tham gia tích cực vào hoạt động giảm nghèo. Có
những tổ chức phát huy vai trò của mình rất tốt như: Đoàn thanh niên, Hội
Nông dân, Hội Phụ nữ... Các hội này có thế mạnh ở bộ máy tổ chức hoàn
chỉnh, lãnh đạo thống nhất, đồng bộ, hệ thống chân rết ăn sâu tận cơ sở nên dễ
dàng tiếp cận và hỗ trợ người nghèo. Tuy nhiên, họ gặp khó khăn về tài chính,
thường phải xin tài trợ của các tổ chức khác hoặc phối hợp thụ động theo
chương trình của cơ quan khác. Ngày nay, một số tổ chức quốc tế cũng tham
gia vào chương trình hỗ trợ nhóm dân cư thua thiệt ở các nước nghèo. Rất
nhiều tổ chức đã có hành động hỗ trợ người nghèo ở nước ta như: Ngân hàng
thế giới, các tổ chức phi chính phủ của một số nước, UNICEF... Một số
trường hợp nguồn tài trợ khá lớn. Tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ này không
có tính thường xuyên, không đặt ra các mục tiêu có tính hệ thống, chủ yếu
mang tính cứu trợ, hỗ trợ các trường hợp đơn chiếc. Mục tiêu giảm nghèo của
23
một nước có thể thuận lợi hơn nếu được các tổ chức quốc tế tài trợ, nhưng sự
nỗ lực của chủ thể trong nước, trong đó bản thân người nghèo và Nhà nước có
vai trò quyết định.
- Nếu cơ quan chỉ đạo chính sách xóa đói, giảm nghèo của Nhà nước có
vai trò khởi xướng, điều hành, tài trợ, khuyến khích, kiểm tra, đánh giá, điều
chỉnh, bổ sung chính sách thì sự tham gia của bản thân người nghèo tạo nên
động lực thực hiện chính sách. Người nghèo có nhiều phương thức và nhiều
tư cách khi tham gia chính sách giảm nghèo. Trước hết, họ tham gia với tư
cách đối tượng thụ hưởng chính sách. Người nghèo có thể tham gia chính
sách ở tư thế cung cấp thông tin xác định mức đói nghèo, đối tượng đói
nghèo, thông tin về kết quả chính sách, thông tin về tác động của công cụ
- Các dự án giảm nghèo.
* Thực hiện xã hội hoá hoạt động giảm nghèo với các hình thức đa
dạng nhằm phát huy sức mạnh của cộng đồng
- Tăng tính liên kết cộng đồng trong chương trình giảm nghèo thông qua
mô hình do các đoàn thể tổ chức như nhóm tương trợ tiết kiệm, tự nguyện góp
vốn, tích luỹ nguồn quỹ để dành hỗ trợ giúp đỡ những hội viên khó khăn,
những tổ nhóm giúp vốn, kỹ thuật, tự hướng dẫn nhau kinh nghiệm sản xuất.
- Nhà nước phải thường xuyên tạo thêm nguồn thu để từng bước tăng tỷ
lệ chi ngân sách cho các hoạt động giảm nghèo, đồng thời tăng cường quản lý
để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí được cấp.
- Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực, trước hết là chủ động phát huy
nguồn lực tại chỗ, huy động nguồn lực của cộng đồng, kết hợp với sự hỗ trợ
đầu tư của nhà nước; mở rộng hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật, tài
chính môi trường pháp lý, tâm lý xã hội người giảm nghèo.
* Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo bền vững, khuyến khích
người nghèo chủ động tự vươn lên thoát nghèo.
25