1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có nguồn
gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng
ẩm, tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kĩ
thuật, cây chè đã được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Cây chè được phát hiện và sử
dụng làm thứ nước uống đầu tiên ở Trung Quốc. Đến nay chè đã trở thành thứ nước uống
thông dụng và phổ biến.
Giống Trung Du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var.
Macrophilla), đây là giống trồng hạt chiếm diện tích đa số trong các vườn chè của nông
dân ở vùng trung du và vùng đồi thấp, chúng mang các tên giống địa phương như Trung
du Phú Thọ, Trung du Thái Nguyên. Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Chè (nay
là Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc), giống Trung Du chiếm tới 40% diện
tích ở các điểm điều tra.
Đặc điểm giống Trung Du thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính rõ rệt,
chiều cao phân cành thấp. Giống Trung Du có lá to trung bình, chiều dài lá từ 12-14
cm, chiều rộng lá 5-7 cm. Khối lượng của búp là 0,7- 0,78 gam/búp. Chất lượng của
búp thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen. Hàm lượng tanin của
giống Trung Du đạt trên 26,30%, chất hoà tan 51,40%. Giống Trung du có khả năng
chống chịu sâu bệnh, hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và khá rộng với các vùng chè.
Giống chè Trung du từ lâu đã được coi là khởi thủy của cây chè Việt Nam. Theo
kết quả của các nhà nghiên cứu về chè thì chè Trung du được di thực từ Vân Nam
(Trung Quốc) vào Việt Nam từ rất lâu, đã thích nghi, ổn định và phù hợp với điều kiện
đất đai thổ nhưỡng vùng Trung du, được mặc nhiên mang tên chè Trung du và là gốc
của các vùng chè miền Bắc nước ta. Do vậy, mà cây chè Trung du gắn liền với tập
quán sinh sống của người nông dân vùng Trung du miền núi phía Bắc. Đây là lợi thế
2
của giống chè Trung du cần được nghiên cứu để phát triển trong sản xuất. Hiện nay hầu
hết các nương chè Trung Du chủ yếu do trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên
quần thể cây trồng rất lẫn tạp, năng suất thấp. Từ đòi hỏi của thực tiễn sản xuất chúng tôi
gam/búp. Do trồng bằng hạt thường không được chọn lọc nên quần thể cây trồng rất
lẫn tạp, năng suất thấp (bình quân chỉ đạt 5 – 6 tấn/ha). Chất lượng của búp thuộc loại
khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen. Hàm lượng tanin của giống Trung Du đạt
trên 26,30%, chất hoà tan 51,40%. Giống Trung du có khả năng chống chịu sâu bệnh,
hạn hán khá tốt, có tính thích ứng cao và khá rộng với các vùng chè.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm đã có khả
năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp,
thường chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa khi kết quả có từ 1 - 4
hạt. Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các
4
quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho
cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất
lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ.
Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người ta có thể
nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô
tế bào, ghép cành, giâm cành Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số
nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng
đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng
đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu
hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được
nhân giống bằng phương pháp giâm cành.
Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có 3
yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường
ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm.
Giống chè trung du của tỉnh Thái Nguyên, hầu hết được mọc từ hạt do vậy có độ
phân li rất lớn về sinh trưởng, phát triển và các đặc điểm hình thái.
Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài. Nghiên cứu chọn lọc
cây đầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng.
1.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước
* Về năng suất:
Bảng 1.2: Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2011
(Đơn vị: tạ chè khô/ha)
Tên nước Năm
2007 2008 2009 2010 2011
Trung Quốc 9,405 9,527 9,568 10,338 10,834
Ấn Độ 16,74 16,986 17,021 17,001 16,668
Indonexia 13,591 14,105 14,953 13,915 11,606
Việt Nam 15,27 15,946 16,639 17,532 17,997
Mianma 3,639 3,771 3,935 4,219 3,992
Nhật 19,522 20,104 18,181 18,162 20,565
Kenya 24,447 21,928 19,83 23,211 20,117
Bangladest 10,159 10,171 10,169 10,05 10,676
Châu Á 12,659 13,371 13,515 13,77 13,798
Thế giới 13,666 14,184 14,148 14,441 14,336
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)
Qua số liệu Bảng 1.2 cho thấy:
Tính đến năm 2011, năng suất chè trên Thế Giới đạt 14,336 tạ chè khô/ha
tăng 0,67 tạ chè khô/ha tương đương 4,67% so với năm 2007. Nhật Bản là nước có
năng suất chè cao nhất đạt 20,565 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của
thế giới là 43,45%. Mianma là nước có năng suất thấp nhất chỉ đạt 3,992 tạ chè
khô/ha tương ứng 27,85% năng suất chè thế giới. Việt Nam tính đến năm 2011 đạt
năng suất 17,997 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế Giới là
25,54%, so với năng suất bình quân Châu Á là 30,43%.
7
* Về sản lượng:
Bảng 1.3: Sản lượng chè của Thế Giới và một số nước trồng
chè chính năm 2007 - 2011
(Đơn vị: tấn)
lọc, khảo nghiệm đánh giá bằng cách xác định mối tương quan giữa các yếu tố hình
thái, sinh trưởng của cây chè với sản lượng hoặc dựa trên mối tương quan giữa các yếu
tố đó với nhau.
Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, hiện nay Trung Quốc có nhiều giống
chè cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè đen như:
Phúc Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng Đỉnh Bạch (Phúc Kiến), Phú Thọ
10 (Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết Giang)
Srilanca rất chú ý đến công tác chọn dòng, kết hợp chọn dòng có sản lượng cao,
có khả năng chống hạn và chống bệnh. Trong những năm 1940 đã chọn ra các dòng
chè TRI
2020
, trong đó có các giống nổi tiếng như TRI
777
, TRI
2043
. Trong những năm
1950, 1960 Srilanca đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI
14
, DT, DN, DP và DV
Hiện nay diện tích trồng chè bằng các giống chè được nhân giống vô tính đạt
trên 40% diện tích trồng chè trong cả nước.
Theo Satoshi Yamagushi, Jitanaka (1995), giống chè chủ yếu ở Nhật Bản là
giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến chè xanh.
Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý ở Nhật Bản, nhiều giống chè mới
đã được đưa vào sản xuất, trong đó giống Yabukita được trồng phổ biến nhất chiếm tới
70% diện tích chè ở Nhật Bản.
Kenia mới chỉ bắt đầu sản xuất chè vào những năm 1925 - 1927 tuy nhiên do có
điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển, do chú trọng đầu tư, áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cho nên Kênia là một trong những quốc gia có
năng suất chè cao nhất thế giới, đạt trên 1500kg chè khô/ha. Kênia lần đầu tiên nhập
10
tươi/ngày) cùng với hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến tại gia đình. Đội ngũ làm
chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè.
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam
từ năm 2002 - 2011
Năm
Diện tích chè kinh
doanh (1000ha)
Năng suất
(tạ khô/ha)
Sản lượng
(1000 tấn khô)
2002 77,20 12,20 94,20
2003 86,10 12,11 104,30
2004 92,40 12,93 119,50
2005 97,70 13,56 132,53
2006 102,10 14,79 151,00
2007 107,40 15,27 164,00
2008 108,80 15,95 173,50
2009 111,40 16,67 185,70
2010 113,20 17,53 198,47
2011 114,80 17,99 206,60
( Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)
Chè là cây công nghiệp thế mạnh của Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và thứ 6
về sản lượng chè trên thế giới. Chè phân bố trên 35 tỉnh nhưng tập trung ở 12 tỉnh
trọng điểm (chiếm 94% diện tích toàn quốc). Trong khoảng mười năm gần đây, sản
xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam có bước tăng trưởng khá cả về diện tích, năng suất
và chất lượng. Trong 5 năm từ 2007 - 2011, diện tích chè Việt Nam từ 107.400 ha đã
tăng lên 114.800 ha, năng suất tăng từ 15,27 tấn lên 17,99 tạ khô/ha chè búp tươi cho
thấy sự tiến bộ vượt bậc của ngành chè.
triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc) đã tiến hành hai cuộc
điều tra ở các vùng chè miền Bắc (1969 - 1970) và ở miền Nam (1978) và ở Grudia
thuộc Liên Xô cũ (1978) kết quả của các cuộc điều tra là:
Ở Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, Viện nghiên cứu chè đã ứng dụng
thống kê sinh học qua phân tích tương quan dựa vào các đặc trưng hình thái để lựa
chọn nhanh các loại hình chè có triển vọng khi cây chè 2 - 3 tuổi, sơ đồ tuyển chọn
gồm 4 bước:
12
Bước 1: Đánh giá khả năng cho sản lượng của cây chè của các cá thể 2 – 3tuổi,
bằng các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng trên đồng ruộng kết hợp với phân tích trong
phòng theo các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Số búp nhiều, trọng lượng búp tương đối lớn.
- Tán rộng, chiều cao cây lớn, số cành cấp 1 nhiều.
- Số lá mọc, kích thước lá (dài, rộng) thời gian sinh trưởng đạt trung bình tiên
tiến trong quần thể chọn lọc (sơ đồ 1.1).
+ Giai đoạn 1: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu đo đếm dưới mức trung bình
(X
1
) của quần thể;
+ Ở giai đoạn 2: Loại bỏ các cá thể có các chỉ tiêu do đếm dưới mức trung bình
tiên tiến (X
2
), chỉ giữ lại những cá thể sau giai đoạn 2 có các chỉ tiêu đo đếm ≥ X
2
.
X
1
: Là giá trị trung bình đo đếm các chỉ tiêu của quần thể lựa chọn.
X
2
0
8950,
N
0
89401 và N
0
8819, trong đó cây N89502 có số cành cấp 1 nhiều, lá lớn, gồ ghề, đang
được nhân vô tính thành dòng để tiến hành thí nghiệm so sánh.
Ngoài ra các nhà khoa học Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT
Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên mầm chè giống
PH
1
, trong thời gian 24 - 48h với nồng độ 0,2% cũng đã thu được kết quả bước đầu.
Vật liệu khởi đầu
Bước 1
Chè 1 đến 2
tuổi
Đánh giá khả năng cho sản lượng, khả năng
nhân giống vô tính, một số chỉ tiêu chất lượng
sản phẩm
Số cây
Các chỉ tiêu
Loại bỏ ở giai
đoạn 1
Loại bỏ ở giai
đoạn 2
Giữ lại ở giai
đoạn 2
X
1
tuổi
Khảo sát
tính nông học
Phân dòng bằng nhân giống vô tính
kết hợp đánh giá khả năng nhân giống
Bước 4
Chè 5
tuổi
So sánh dòng có triển vọng với giống
tiêu chuẩn - Khảo nghiệm - Khu vực hoá
Sơ đồ 1.2: Chọn lọc cá thể chè
Nghiên cứu khả năng giâm cành của một số giống chè ở Thái Nguyên:
Tác giả Lê Tất Khương (1997), cho rằng: Các giống PH
1
, TRI
777
, TH
3
là những
giống dễ giâm cành. Tỷ lệ xuất vườn đạt từ 69,7 - 72,0%, giống 1A là giống khó giâm
cành, tỷ lệ xuất vườn chỉ đạt 50,7%.
Nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ xuất vườn cho chè giâm cành tác
giả Lê Tất Khương (1997), và số lần bón phân cho chè giâm cành đã làm tăng tỉ lệ xuất
vườn và hạ giá thành cây xuất vườn từ 5,6 - 11,5% trong đó, công thức đạt hiệu quả
15
kinh tế cao nhất là tăng 25% lượng phân so với quy trình (78g Ns, 36g Ps, và 60g Ks
cho 1m
2
- 100 bầu) và bón 7 lần vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 sau cắm hom.
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu lá và hom chè có liên quan đến tỷ lệ
mở
Lá thật
xuất hiện
Cành chè
ngừng sinh
trưởng
Mầm chè
được phát
động
Giai đoạn ẩn
Giai đoạn hiện
Thời kỳ
hoạt động
Thời kỳ
tiềm sinh
Đợt
Sinh trưởng
16
Sơ đồ: 1.3. Đợt sinh trưởng tự nhiên
- Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994), cho rằng các giống chè có sản
lượng búp cao thường có góc lá từ 40 - 60
o
, khoảng cách giữa 2 lá lớn. Nghiên cứu
tương quan giữa khoảng cách giữa 2 lá của các giống chè với sản lượng búp chè các
tác giả trên cho rằng: Khoảng cách giữa 2 lá có tương quan thuận với sản lượng búp
chè (r = 0,624 ± 0,034).
- Nghiên cứu quan hệ giữa diện tích lá với sản lượng búp chè các tác giả
Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994), cho rằng: Trong khoảng diện tích lá chè
từ 6cm
2
Thái Nguyên đã quy hoạch vùng sản xuất chè thành 2 vùng chính: Vùng chè Tân
Cương gồm có Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân và vùng chè Trại Cài. Sản phẩm ở
Thái Nguyên với thương hiệu nổi tiếng chè Tân Cương đã chiếm được một thị trường
khá rộng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương, trong nước và nhu
cầu thế giới, góp phần phát triển ngành chè Việt Nam trong việc hợp tác kinh tế
với các nước trong khu vực và thế giới.
18
Người dân có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt và chế biến đặc biệt có kinh
nghiệm sản xuất chè truyền thống từ lâu đời, đã hình thành nên nhiều vùng chuyên
canh cây chè có sản phẩm chè ngon được người tiêu dùng ưa chuộng như: Tân Cương,
Trại Cài Thái Nguyên đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về diện tích, năng
suất, sản lượng cũng như chất lượng chè và đã trở thành một trong những vùng chè nổi
tiếng của cả nước.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên thì diện tích,
năng suất, sản lượng chè Thái Nguyên trong những năm trở lại đây được thể hiện ở
bảng sau:
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyên
từ năm 2005 - 2011
Năm
Tổng
diện tích
(ha)
Diện tích kinh
doanh (ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng tươi
(nghìn tấn)
Sản lượng khô
(nghìn tấn)
Địa điểm nghiên cứu:
- Huyện Đại Từ, Đồng Hỷ và xã Tân Cương (Thành phố Thái Nguyên) tỉnh
Thái Nguyên.
- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tuyển chọn những cây chè Trung du búp tím có khả năng sinh trưởng phát
triển tốt, có khả năng cho năng suất chất lượng cao làm cây đầu dòng.
- Nghiên cứu đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của
các cây chè Trung du búp tím đầu dòng.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Điều tra tình hình sản xuất, phát triển chè Trung du búp tím tại vùng nghiên
cứu bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn PRA (Participatory Rapid
Assessment), kết hợp với điều tra trực tiếp theo phiếu điều tra.
2.4.2. Phương pháp điều tra tuyển chọn cây chè Trung du đầu dòng
Tiêu chuẩn cây đầu dòng (số: 67/2004/QĐ-BNN ngày 24/ 11/2004) của Bộ
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn.
* Đặc điểm hình thái:
* Đặc điểm sinh trưởng:
21
* Phương pháp tuyển chọn:
- Lập tổ điều tra, đánh giá.
- Tiến hành tuyển chọn căn cứ vào đặc điểm hình thái như thân, cành, lá, búp để
chọn ra những cây ưu tú làm cây đầu dòng.
* Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi:
- Đường kính thân cây: Theo phương pháp đo chu vi thân cây.
- Chiều cao cây: Tính từ mặt đất đến vị trí cao nhất của tán cây.
- Chiều rộng tán: Đo theo hình chiếu vuông góc của tán cây
- Độ cao phân cành: Đo từ mặt đất đến điểm phân cành đầu tiên.
- Số cành cấp 1: Đếm tất cả các cành cấp 1 trên thân cây
- Tỷ lệ ra mô sẹo: Mỗi công thức theo dõi 10 hom liên tiếp, theo dõi sau căm
hom 10 ngày, sau đó cứ 5 ngày theo dõi 1 lần (lần theo dõi sau không trùng với lần
theo dõi trước).
- Tỷ lệ ra rễ: Mỗi công thức theo dõi 10 hom, bắt đầu theo dõi sau cắm hom 40
ngày, sau đó cứ 10 ngày theo dõi một lần (lần sau không trùng với lần trước).
- Tỷ lệ nảy mầm: Mỗi công thức cố định 10 hom liên tiếp, 30 ngày theo dõi một lần.
- Tỷ lệ xuất vườn: Tính tất cả những cây chè con sinh trưởng tốt, có chiều cao
20cm sau cắm hom 10 tháng.
- Chất lượng cây xuất vườn: Mỗi công thức theo dõi 10 cây gồm các chỉ tiêu
(chiều cao cây, đường kính gốc, số lá trên cây, khối lượng cây, khối lượng rễ, số rễ cấp
1, chiều dài rễ cấp 1, tỷ lệ rễ/thân lá) theo dõi trước khi xuất vườn.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
- Các thông tin thu thập được trong điều tra được xử lý theo phương pháp thống
kê mô tả bằng phần mềm Excel trên máy tính.
- Xử lý bằng phần mềm xử lý sinh học IRRISTAT .
23
Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả tuyển chọn cây chè Trung du búp tím dòng
Bảng 3.1: Kết quả tuyển chọn cây chè Trung du đầu dòng
STT Địa điểm
Số cây tuyển chọn được qua các vòng tuyển chọn
Vòng 1 Vòng 2 Vòng 3 Cây đầu dòng
1 Tân cương
2 La Bằng
3 Sông Cầu
Tổng số
3.2. Đặc điểm hình thái của các cây chè Trung du búp tím đầu dòng
3.2.1. Đặc điểm thân cành
Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái thân cành
C.rộng
lá (cm)
Diện tích
lá (cm
2
)
Dài/rộng
Số đôi gân
chính (đôi)
1
2
3
…
3.2.3. Đặc điểm búp chè của những cây chè Trung du búp tím đầu dòng
Bảng 3.5: Đặc điểm búp của các cây chè Trung du búp tím đầu dòng
STT Cây đầu dòng
Chiều dài búp
(cm)
Khối lượng
búp (g/búp)
Mức độ
lông tuyết
1
2
3
…
3.2.4. Đặc điểm sinh trưởng của các cây chè Trung du búp tím đầu dòng
3.2.4.1. Đặc điểm sinh trưởng búp
Bảng 3.6: Thời gian sinh trưởng búp và số lứa hái trong năm
của các cây chè Trung du búp tím đầu dòng
…
CV (%)
LSD.
05
Tỷ lệ ra rễ của các cây chè đầu dòng
Bảng 3.9. Tỷ lệ ra rễ của các cá thể chè Trung du búp tím đầu dòng
STT Cá thể chè
TL ra rễ sau cắm hom (%)
60 ngày 90 ngày
1
2
3
… …
CV(%)
LSD
05
Tỷ lệ nảy mầm của các cây chè đầu dòng
Bảng 3.10. Tỷ lệ nảy mầm của các cá thể chè Trung du búp tím đầu dòng