SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRUNG TÂM GDTX TỈNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÝ LỚP 11
(BAN CƠ BẢN) THEO CÔNG THỨC GIPO Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Hải
Tổ bộ môn: Địa lý
Mã: 86
Số điện thoại: 01678375197
Địa chỉ email:
quan trọng để đổi mới quá trình dạy học Địa lý. GIPO là công thức thiết kế bài
giảng theo quan điểm công nghệ dạy học, nghĩa là coi dạy học như một quá trình
công nghệ để thiết kế những bài giảng sao cho hiệu quả, phù hợp với trình độ nhận
thức của học sinh, trình độ của giáo viên và phù hợp với cả điều kiện cơ sở vật chất
kỹ thuật trường, lớp học. Khi thiết kế bài giảng theo công thức GIPO thì không chỉ
mục tiêu của các hoạt động của thầy và trò được đặt ra mà còn xác định rõ đầu vào
cho những hoạt động đó là gì?, sản phẩm đạt được là gì? (đầu ra), và những quá
trình tương tác nào giữa Thày – Trò và giữa Trò - Trò cần được diễn ra để biến đầu
vào thành đầu ra. Đổi mới thiết kế bài giảng theo công thức GIPO nhằm tạo ra một
chương trình phối hợp hoạt động dạy của Thày và học của Trò sao cho mối liên hệ
giữa Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp và điều kiện học tập được thể hiện một
cách sinh động. Thiết kế bài giảng theo công thức GIPO đảm bảo tính khoa học và
khuyến khích sử dụng nhiều phương tiện kĩ thuật hiện đại, nhiều phương pháp mới
vào trong giảng dạy nên TKBG theo công thức GIPO còn có tính hiện đại, làm mới
và “trẻ hoá” cho môn học. Như vậy, TKBG theo công thức GIPO có ưu điểm hơn hẳn cách thiết kế truyền
thống, đó là việc quy trình hoá hoạt động dạy học một cách cụ thể và khoa học, xác
định cụ thể, chính xác mục tiêu dạy học, dự kiến sản phẩm đạt được, xác định điều
kiện dạy học cụ thể và cách kiểm tra đánh giá.
Tuy nhiên, có một điều phải nhận thấy rằng, trong các trung tâm GDTX hiện
nay việc đổi mới dạy học khó khăn hơn nhiều so với THPT, thiết kế bài giảng theo
công thức GIPO chưa nhiều và chưa phát huy được tính hiệu quả, tiện ích mà
những phương tiện này có thể mang lại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng
này: sự thiếu thốn về cơ sở vật chất như phòng học chức năng, phương tiện Song
điều đáng quan tâm là sự chuyển biến về nhận thức cũng như hành động của đội
ngũ giáo viên trong việc thiết kế bài giảng theo quan điểm công nghệ dạy học. Đây
là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn, góp phần đẩy nhanh quá trình đổi
mới nội dung và phương pháp giảng dạy Địa lí ở trung tâm GDTX, nhằm đạt hiệu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tế
+ Phương pháp điều tra thực tế
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
VI. Những đóng góp của đề tài
- Xây dựng quy trình thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công
thức GIPO.
- Đã tổ chức thực nghiệm để minh chứng tính khả thi và hiệu quả của việc
thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công thức GIPO ở trung tâm
GDTX Tỉnh Vĩnh Phúc.
VII. Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở bài, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
bao gồm các phần chính sau đây:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11
(Ban cơ bản) theo công thức GIPO.
Chương II: Thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công thức
GIPO.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
nguyên tắc hợp lí của công tác dạy học và những điều kiện thuận nhất để tiến hành quá trình dạy học, cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả
nhất để đạt được mục đích đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò".
Theo Jankieviz (Ba Lan 1971): "CNDH là hệ thống các chỉ dẫn sử dụng các
phương pháp, phương tiện hoạt động mà kết quả là phải đào tạo được những người
tốt nghiệp theo mong muốn trong thời gian ngắn nhất có thể được với sự chi phí
phương tiện một cách tối ưu nhất".
Theo quan điểm của công nghệ dạy học, trong quá trình thiết kế bài học
không chỉ mục tiêu của các hoạt động của thầy và trò được quan tâm mà điều rất
quan trọng là phải định rõ đầu vào cho những hoạt động đó là gì?, sản phẩm đạt
được là gì? (đầu ra) và những quá trình tương tác nào giữa Thầy – Trò và giữa Trò
– Trò cần được diễn ra để biến đầu vào thành đầu ra. Cách thiết kế bài giảng như
vậy được các nhà nghiên cứu nước ngoài về lí luận dạy học gọi là thiết kế bài giảng
theo công thức GIPO. GIPO là chữ viết tắt gồm 4 chữ cái đầu của tiếng Anh (Goal,
Input, Process và Output).
3. Đặc điểm chương trình, nội dung Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) ở hệ BTVH
Theo thiết kế chung, có hai chương trình Địa lí 11: chương trình cơ bản và
nâng cao. Chương trình Địa lí 11 (Ban cơ bản) bao gồm hai phần:
* Phần I: Khái quát chung về nền KT - XH thế giới
- Về mặt lí thuyết, phần này gồm có 4 nội dung:
+ Sự tương phản về trình độ phát triển KT - XH của các nhóm nước trên thế
giới
+ Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá
+ Một số vấn đề mang tính toàn cầu
+ Một số vấn đề kinh tế của châu lục và khu vực
- Về mặt thực hành: do thời lượng hạn chế nên chỉ tập trung vào việc thảo
luận nhóm, kĩ năng chủ yếu là phân tích tư liệu và viết báo cáo ngắn.
* Phần II: Địa lí khu vực và quốc gia
mục đích lựa chọn nghề nghiệp.
- Có các HV lớn tuổi, lỗ hổng iến thức lớn. HV vừa học vừa làm nên thời gian cho
học tập hạn chế. Một số HV ý thức học tập, tổ chức kỉ luật chưa cao.
- Trong lớp học, HV ở các độ tuổi khác nhau, trình độ nhận thức, tâm lí lứa tuổi
khác nhau khó khăn cho giáo viên trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù
hợp.
Điều này đòi hỏi phải đổi mới PPDH, TKBG nói riêng để thực hiện được
nhiệm vụ tối thiểu đó mà TKBG theo công thức GIPO sẽ giải quyết được khó khăn
trên.
5. Thực trạng việc TKBG theo công thức GIPO ở các trung tâm GDTX.
Khi chương trình sách giáo khoa được đổi mới, Nhà nước đã có kế hoạch bồi
dưỡng các giáo viên thực hiện chương trình trong đó có đề cập đến định hướng đổi mới thiết kế bài giảng theo quan điểm công nghệ dạy học đặc biệt là thiết kế bài
giảng Địa lí theo công thức GIPO. Tuy nhiên, trên thực tế dạy học hiện nay, tôi
nhận thấy việc ứng dụng cách thiết kế bài giảng mới theo công thức GIPO chưa
nhiều và chưa phát huy hết được tính hiệu quả, tiện ích mà những phương tiện này
có thể mang lại. CHƯƠNG II: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11 (BAN CƠ BẢN)
THEO CÔNG THỨC GIPO
I. Thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công thức GIPO
1. GIPO - Một cách tiếp cận TKBG theo quan điểm công nghệ dạy học.
Theo quan điểm của CNDH, khi TKBG không chỉ quan tâm mục tiêu của
các hoạt động của thầy và trò được quan tâm mà còn phải định rõ đầu vào cho
những hoạt động đó là gì?, sản phẩm đạt được là gì? và những quá trình tương tác
nào giữa Thầy – Trò và giữa Trò – Trò cần được diễn ra để biến đầu vào thành đầu
ra. Cách TKBG như vậy được các nhà nghiên cứu về LLDH gọi là TKBG theo
Giải thích, nêu lí do, xác định nguyên nhân, chứng minh, minh hoạ
Ví dụ: Giải thích hiện tượng bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển.
QUY TRÌNH TKBG
Đ
ỊA LÍ
11
THEO CÔNG TH
ỨC GIPO
B1: Xác đ
ịnh mục ti
êu
(s
ản phẩm) b
ài h
ọcB2: L
ựa chọn v
à
x
ác đ
ịnh đầu v
ào (Input)B3
Phân tích. Có khả năng:
Phân chia, so sánh, đối chiếu, tìm sự khác nhau giữa các đối tượng.
Ví dụ: Phân biệt các quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá.
Đánh giá. Có khả năng: Phân xử, đánh giá, phê bình.
Ví dụ: Phê phán sự sai lầm của thuyết Mantuyt về dân số.
2. Lĩnh vực cảm xúc: Lĩnh vực này chủ yếu liên quan đến sự chú ý, mối quan
tâm, sự nhận biết, đánh giá về thẩm mĩ, đạo đức, cảm nhận hoặc các giá trị.
Ví dụ: Có khả năng lắng nghe, đánh giá hết tầm quan trọng của , ý thức được
về , cam kết với ,đánh giá giá trị về
3. Lĩnh vực tâm vận: Lĩnh vực này bao gồm các kĩ năng vận động. Có khả
năng quan sát, vẽ
Ví dụ: Có khả năng vẽ biểu đồ về năng suất lúa, sản lượng lúa
Ví dụ: Tiết 1. Sự tương phản về trình độ phát triển KT - XH của các
nhóm nước. Cuộc cách mạng KH và công nghệ hiện đại.
Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- Nêu sự tương phản về trình độ phát triển KT-XH của các nhóm nước: phát
triển, đang phát triển, nước công nghiệp mới (NIC).
- Trình bày được đặc điểm nổi bật và tác động của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại tới sự phát triển kinh tế.
2. Kĩ năng: Đọc bản đồ, phân tích bảng số liệu
3. Thái độ: Có ý thức học tập để thích ứng với cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại.
3.2. Xác định đầu vào - điều kiện dạy học Đầu vào (điều kiện dạy học) của quá trình công nghệ (quá trình dạy học) bao
gồm trình độ ban đầu và đặc điểm tâm sinh lý của HV, các phương tiện, kỹ thuật
dạy học và nội dung kiến thức bài học.
Việc xác định đầu vào một cách chính xác, cụ thể so với đầu ra là một yêu cầu
Để xác định nội dung kiến thức cơ bản cho bài học, người giáo viên phải căn
cứ vào các yếu tố sau:
+ Chương trình và nội dung SGK
+ Điều kiện dạy học cụ thể
Ví dụ về xác định đầu vào (Nguồn) cho những hoạt động dạy học của bài học
Liên minh Châu Âu (tiết 1) . Trong bài học này, GV thiết kế 3 hoạt động dạy học -
Đầu vào cho mỗi hoạt động không giống nhau. Nhiệm vụ của người GV khi thiết
kế hoạt động dạy học là phải xác định những đầu vào cần thiết để các hoạt động
diễn ra có kết quả.
Mục tiêu Đầu vào
Hoạt động 1 Xác định các đặc điểm cơ bản
về quá trình hình thành và phát
triển của EU
- Phương tiện: SGK, bản đồ
chính trị Châu Âu
- Thời gian: 10 phút
Hoạt động 2 Tìm hiểu về mục tiêu và một số
cơ quan đầu não của EU
- Phương tiện: SGK, sơ đồ
- Thời gian: 10 phút
Hoạt động 3 Tìm hiểu vị thế của EU trên
Thế giới
- Phương tiện: SGK, tư liệu,
ảnh, báo chí.
- Thời gian: 10 phút
3.3. Qui trình hoá các hoạt động dạy - học của thầy và trò
Theo quan điểm này chúng ta chúng ta có thể thiết kế bài giảng và thiết kế
các hoạt động của thầy và trò theo công thức GIPO. Dưới đây là những yêu cầu của
4.1. Kĩ thuật xác định mục tiêu (Goal)
Kĩ thuật biểu đạt mục tiêu theo hướng lấy HV làm trung tâm: Không nên
biểu đạt mục tiêu bài học theo hướng lấy GV làm trung tâm, chỉ nhấn mạnh đến
nhiệm vụ mà giáo viên cần thực hiện. Theo thiết kế bài giảng theo công thức GIPO,
sự biểu đạt mục tiêu bài học cần phải thể hiện rõ nhiệm vụ mà HV phải hoàn thành
và sản phẩm của hoạt động đó.
Kĩ thuật động từ hoá các mục tiêu cần biểu đạt: Kĩ thuật động từ hoá các mục
tiêu bài học sẽ giúp GV biểu đạt chính xác và tường minh các mục tiêu của bài học.
Kĩ thuật phân hoá, cụ thể hoá mục tiêu: Mục tiêu đưa ra cần phải cụ thể để có
thể kiểm chứng được và phù hợp với điều kiện nguồn lực, giáo viên và trình độ
HV.
4.2. Kĩ thuật xác định đầu vào (Input)
Input (đầu vào) của các hoạt động bao gồm thời gian, công cụ (phương tiện),
phương pháp và hình thức tương tác giữa Thày - Trò và Trò - Trò. Vì vậy, khi thiết
kế GV cần lựa chọn các phương tiện dạy học cần thiết cho từng hoạt động (bản đồ,
quả địa cầu, băng hình, tranh ảnh, bảng số liệu ), đồng thời dự kiến các phương
pháp và quy trình hướng dẫn học sinh khai thác các phương tiện học tập đã lựa
chọn kĩ lưỡng.
4.3. Kĩ thuật thiết kế hoạt động dạy - học của thầy và trò
* Kĩ thuật tạo nhu cầu hứng thú nhận thức cho học sinh
Để tạo hứng thú học tập cho HV trong một tiết học trên lớp. Khi thiết kế bài
học GV phải chú ý đến cách mở bài. Cần lựa chọn cách mở bài sao cho phù hợp
với nội dung cơ bản của bài.
Mở bài bằng cách tạo biểu tượng: Có thể dùng tranh ảnh, bản đồ, hoặc lời
nói mô tả, kể chuyện để tạo ra biểu tượng về những sự vật, hiện tượng có liên quan
đến bài học để thu hút sự chú ý của HV.
Mở bài bằng cách nêu vấn đề: GV đặt ra trước HV một vấn đề ngay từ đầu
tương tự như trên. Do các mục kế tiếp nhau, nên GV vừa tiểu kết mục trước, vừa
đồng thời chuyển tiếp sang mục sau một cách thích hợp.
- Xác định rõ các quá trình (Process), các hoạt động dạy học cần phải diễn ra
để có thể đạt được mục tiêu bài học. Đây là bước chủ chốt có ý nghĩa quyết định
đến chất lượng của bản TKBG. Theo tinh thần đổi mới, giờ học được thiết kế thành
một chuỗi các hoạt động phối hợp của Thầy và Trò (thông thường một tiết học có
từ 3 - 5 hoạt động). Mỗi hoạt động đều nhằm đạt được một mục tiêu nhất định,
được giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định và được thông qua các hành
động của Thầy (hướng dẫn, chỉ đạo) và các thao tác trí tuệ (quan sát, phân tích, so
sánh, phán đoán, khái quát hoá, hệ thống hoá) cũng như thao tác thực hành (vẽ biểu
đồ, xử lí văn bản, số liệu, tranh ảnh) của HV theo một trình tự nhất định. Mỗi một
quá trình dạy học cũng có thể thể hiện bằng một hoặc một vài tương tác hành động
của Thầy và Trò.
GV cần xác định rõ các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cần biểu
đạt một cách ngắn gọn trên giáo án. Trong bản thiết kế cần sử dụng các kí hiệu
ngắn gọn để thể hiện sự đa dạng của các loại hình việc làm của Thầy và Trò. Cụ thể
như sau:
GV: GV thực hiện việc làm
GV - HS: GV làm việc (hướng dẫn) một HS.
GV - Lớp: GV làm việc với tập thể lớp.
HS: Cá nhân HS làm việc độc lập.
Nhóm HS: HS làm việc theo nhóm
HS - HS: HS làm việc theo cặp đôi.
Lớp: Cả lớp cùng làm việc.
4.4. Kĩ thuật xác định cách củng cố, kiểm tra, đánh giá sản phẩm
Trên lớp, GV là người duy nhất có quyền củng cố đánh giá kết quả học tập
của HV. Không nên củng cố theo kiểu nhắc lại ý chính của bài học và kiểm tra chỉ
đòi hỏi HV tái hiện.
5. Mẫu giáo án theo thiết kế mới:
Theo quy trình các bước ở trên ta cần TKBG theo công thức GIPO cụ thể như sau:
Hành động 1.
1.
2.
Hành động 2.
I. Kiến thức cơ bản 1
1.
2.
I. Kiến thức cơ bản 2
1. 1.
2.
2.4. Củng cố, kiểm tra, đánh giá
Sơ đồ hoá tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học theo công thức GIPO như sau:
các
hoạt
động
GOAL INPUT OUTPUT PROCESS
Hoạt
động 1
Hoạt
động 2
-
M
ục ti
êu
theo hướng
lấy HS làm
trung tâm
- Biểu đạt
chính xác,
tường minh
- Có thể
kiểm chứng
được
-
Th
ờigian
- Công cụ
- Phương
pháp, hình
đồ, biểu đồ,
lời giải của
BTNT, bài
viết, II. Thiết kế giáo án Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công thức GIPO
1. Mục đích:
* Tạo ra một sản phẩm thiết kế theo công thức GIPO có khả năng cho phép
giáo viên sử dụng trực tiếp trên lớp để dạy học.
* Xác định cách thức thiết kế (phương pháp, qui trình thiết kế, kĩ thuật thiết
kế) và công cụ cần thiết để thiết kế giáo án theo công thức GIPO.
2. Tổ chức thiết kế thử nghiệm giáo án Địa lí lớp 11 (Ban cơ bản) theo công
thức GIPO
2.1. Thiết kế bài giảng kiến thức mới trong chương trình Địa lí lớp 11 (Ban cơ
bản) theo công thức GIPO
Bản thiết kế bài giảng tức là trong đó nêu rõ kế hoạch làm việc thầy và trò
trong suốt tiết học như: Các bước chủ yếu, các hoạt động của GV, HV đồng thời
nêu lên được những đặc điểm cơ bản về nội dung và phương pháp của GV, HV
nhằm đạt được mục đích cụ thể mà người GV đã xác định theo yêu cầu của chương
trình học.
Từ đó ta có thể thấy được bản thiết kế bài giảng kiến thức mới sẽ thể hiện tất
cả những vấn đề trên, nhưng nội dung chuyển tải đến HV là các kiến thức lí thuyết
mới cùng với các kĩ năng kèm theo.
Có thể nói do đặc trưng của bài giảng kiến thức mới là cung cấp lượng kiến
thức quan trọng và phong phú nhất, cần thiết nhất trong chương trình học tập Địa lí,
nên bài giảng kiến thức mới quan trọng nhất. Do đó, bài giảng kiến thức mới cũng
được đầu tư nghiên cứu sâu hơn sao cho phù hợp với mục tiêu đặt ra cũng như
năng lực của HS.
Đây là loại bài nhằm mục đích tổ chức, điều chỉnh HV lĩnh hội tri thức mới.
cho việc ứng dụng vào thực tiễn. Khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức và cách
thức hoạt động.
- Luyện tập theo mẫu trong những điều kiện quen thuộc, nhằm mục đích rèn
luyện kỹ năng ứng dụng kiến thức một cách đúng đắn, rồi luyện tập, ứng dụng kiến
thức vào những tình huống mới.
- Tổng kết bài học
Hiện nay trong chương trình Địa lí nói chung và chương trình Địa lí lớp 11
(Ban cơ bản) nói riêng số lượng các bài thực hành khá lớn góp phần củng cố kiến thức
và rèn luyện các kĩ năng cần thiết cho HS. Trong chương trình Địa lí lớp 11 (Ban cơ
bản) có 8 bài thực hành với nội dung đa dạng khác nhau như các bài thực hành làm
việc với bản đồ, xây dựng biểu đồ, viết báo cáo, nhận định và phân tích về một vấn đề
địa lí
2.3. Thiết kế bài giảng bài ôn tập trong chương trình Địa lí 11 (Ban cơ bản) theo
công thức GIPO Mục đích của loại bài này nhằm tổ chức cho HV tiến hành hệ thống hoá và
khái quát hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, sau khi học xong một chương, một phần
hay toàn bộ chương trình môn học. Nó mang tính chất của hoạt động ôn tập, củng
cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo làm cho HV nắm được những tri thức đã học một cách
sâu sắc, chắc chắn và có hệ thống. Có thể tiến hành theo con đường quy nạp hoặc
diễn dịch, song hiệu quả là đưa được những tri thức kỹ năng bộ phận về cái toàn
vẹn.
Cấu trúc của loại bài này như sau:
- Tổ chức lớp
- Thông báo đề tài, mục đích, nhiệm vụ của bài học
- Tổ chức cho HV hệ thống hoá, khái quát hoá trên cơ sở đã được chuẩn bị ở
nhà theo sự hướng dẫn của GV. Cần có sự trao đổi hai chiều giúp HV xây dựng
những bản tổng kết, thiết lập sơ đồ, biểu đồ…
- Tổng kết bài học: GV đánh giá và nhận xét tinh thần, thái độ làm việc.
Về kĩ năng: Vẽ, phân tích được biểu đồ, số liệu thống kê có trong bài học và
biết cách trình bày một vấn đề.
Kiến thức cơ bản của bài học: Bài học có 2 mảng kiến thức cơ bản, đó là:
* Mảng kiến thức cơ bản liên quan đến ý nghĩa của việc hình thành một thị
trường chung Châu Âu.
* Mảng kiến thức cơ bản liên quan đến vai trò của EU trong nền kinh tế thế
giới.
3.3. Thiết kế giáo án Tiết 14. Tìm hiểu về Liên minh Châu Âu theo công thức
GIPO
3.3.1. Sơ đồ hoá thiết kế bài " Tìm hiểu về Liên minh Châu Âu" theo công thức
GIPO 3.3.2. Giáo án: Tiết 14. Bài. Tìm hiểu về Liên minh Châu Âu
Trung tâm GDTX Tỉnh Vĩnh Phúc.
phát triển lĩnh vực giao thông vận tải?2. Định hướng bài học, tạo nhu cầu học tập cho HV
* Khởi động:
GV khởi động giờ học bằng cách chiếu hình ảnh BÀI 7
Thực hành:LIÊN MINH CHÂU ÂU ( EU )
1
GV: Sự hợp tác giữa các nước thành viên EU đã đưa EU lên một vị thế mới,
quan trọng trên trường quốc tế. Trong bài thực hành hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu
ý nghĩa của việc hình thành một EU thống nhất và vai trò của EU trong nền kinh tế
thế giới.
3. Bài mới
Hoạt động 1:
1. GV – Lớp: GV đưa ra các tư liệu, thông tin, yêu cầu HV làm bài tập nhận thức:
Cho biết việc hình thành thị trường chung Châu Âu và việc sử dụng chung đồng
Euro đã tạo ra những thuận lợi và khó khăn gì cho các nước thành viên EU.
2. Nhóm HS: Các nhóm thảo luận để tìm ý trả lời sau đó đại diện nhóm trình bày,
cả lớp góp ý kiến
3. GV – Lớp: GV chuẩn xác kiến thức. I. TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA VIỆC HÌNH
THÀNH MỘT EU THỐNG NHẤT
Khi hình thành một EU thống nhất:
Các xe tải vượt chặng đường 1200km
1. GV – Lớp: GV đưa ra bảng số liệu, hướng dẫn HV cách vẽ biểu đồ tròn thể hiện
tỉ trọng GDP, dân số của EU và một số nước trên thế giới.
II. TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA EU TRONG
NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
49,023,5Các nước còn lại
17,01,7Ấn Độ
20,34,0Trung Quốc
2,011,3Nhật Bản
4,628,5Hoa Kì
7,131,0EU
Dân sốGDPChỉ số
Các nước, khu vực
Bảng 9.2. Tỉ trọng GDP, dân số của EU và một số nước trên thế giới – năm 2004 (Đơn vị: %)
a. Dựa vào bảng 9.2, hãy vẽ biểu đồ thể hiện tỉ trọng GDP,
dân số của EU và một số quốc gia trên thế giới.