Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Pdf 15

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ta đang trên đường phát
triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH–HĐH) đất nước. Việc đặt nhiệm vụ
bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước là tiêu chí hàng đầu thì một vấn
đề không kém phần quan trọng và cần thiết là phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì khi một đất nước nghèo nàn, lạc hậu thì
cũng đồng nghĩa với đất nước đó sẽ là con nợ, sẽ lệ thuộc, và thậm chí có thể trở
thành thuộc địa của những nước khác. Vì thế, để phát triển kinh tế thì chúng ta
cần phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn
nhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật – công nghệ (KHKT–CN) tiên tiến hiện
đại…
Cùng với KHKT–CN và nguồn vốn thì nguồn nhân lực đóng vai trò quyết
định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội ở nước
ta. Giáo dục - đào tạo (GDĐT) là cơ sở phát triển nguồn nhân lực, là con đường
cơ bản để phát huy nguồn nhân lực. Với những triển vọng tốt đẹp nền giáo dục
Việt Nam đang và sẽ đào tạo được nguồn nhân lực dồi dào, có đủ khả năng và
tâm huyết trong việc gìn giữ nền độc lập dân tộc cũng như xây dựng một đất
nước giàu mạnh. Chính vì tầm quan trọng và mong muốn được tìm hiểu, học hỏi
cũng như chia sẻ những hiểu biết nhỏ bé của mình mà chúng tôi cùng đưa ra
quyết định chọn đề tài: “Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam”
Bác Hồ của chúng ta đã từng nói rằng: “Vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. [Trích Hồ Chí Minh: Sđd,
1996, t.12, tr.212], hay V.I.Lênin đã khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu
của nhân loại là công nhân, là người lao động”. [V.I.Lênin: Sđd, 1977, t.38,
tr.430]. Một lần nữa lại nhấn mạnh tới vai trò của nguồn nhân lực đối với sự
phát triển bền vững của một đất nước cũng như của tất cả các quốc gia trên thế
giới.
1
Bằng những phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp từ những
tài liệu quý báu mà chúng tôi đã tìm được kết hợp với phương pháp biện chứng

càng sinh sản vì con người có khả năng lao động sáng tạo, bộ não của con người
chứa đựng hàng tỷ nơron thần kinh, do đó, càng lao động, càng sang tạo thì trí
óc của con người càng phát triển.
3
+ Trong thời đại kinh tế tri thức, sự cạnh tranh của các địa phương các
quốc gia không chỉ đơn thuần về kinh tế mà nghiêng về trí tuệ, về hàm lượng
chất xám. Do đó, nguồn lực trí tuệ con người đang là một trong những lợi thế so
sánh quan trọng cho tiến trình phát triển nhanh chậm của mỗi địa phương, mỗi
quốc gia.
+ Chính vì lẽ đó, để có được nền kinh tế tri thức trong tương lai, việc phát
triển nguồn nhân lực đói hỏi phát triển mạnh các nghành và sản phẩm kinh tế có
giá trị tăng cao dựa vào tri thức, kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con
người việt nam với tri thức mới nhất của nhân loại.
II. Đặc điểm nguồn nhân lực của nước ta
1. Thực trạng chung về nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Nghiên cứu về nguồn nhân lực thực chất là đề cập đến mặt số lượng và
chất lượng của nguồn nhân lực. Cụ thể là số lượng đang trong độ tuổi lao động
và có khả năng tham gia lao động sản suất.
Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với sự phát triển. Nếu trước đây sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào
các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn Tư Bản, nguồn vốn lao
động đông đúc, thị trường tiêu thụ… thì hiện nay chính tri thức lại có ý nghĩa
hết sức lớn lao, góp phần tạo nên sự thịnh vượng, giàu có cho một quốc gia, lãnh
thổ, xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của cõng nghệ thông tin, đặc biệt
là sự ra đời của internet đã làm cho các quóc gia, lãnh thổ ngày càng trở nên gần
nhau hơn, qua đó sự cạnh tranh cũng càng trở nên gay gắt hơn, và tất nhiên ưu
thế cạnh tranh bao giờ cũng nghiêng về quốc gia, lãnh thổ có chất lượng nguồn
nhân lực cao hơn, được đào tạo tốt hơn.
Trong những năm qua, nguồn nhân lực của quốc gia nói chung và của Tp.
Hồ Chí Minh nói riêng có những phát triển nhất định về chất lượng. Tuy nhiên,

cho giai đoạn đẩy mạnh CNH–HĐH ở nước ta hiện nay. Thực tế, người lao
động chưa được tổ chức khám và theo dõi sức khỏe định kỳ một cách hệ thống,
liên tục; điều kiện lao động trong ngành sản xuất, trong cỏ quan hành chính sự
nghiệp chưa được quan tâm cải thiện, môi trường lao động bị ô nhiễm nghiêm
trọng, các yếu tố nguy hiểm và độc hại vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép
5
nhiều lần, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều hướng gia tăng… điều
đó cho thấy chất lượng dân số và người lao động nước ta cả về mặt thể lực, sức
khỏe, lẫn điều kiện lao động không đảm bảo, rất cần được cải thiện.
Về trí lực, người Việt Nam được đánh giá là có tư chất thông minh, sang
tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh. Với phẩm chất này, nếu được
đào tạo và sừ dụng lao động hợp lý thì sẽ có khả năng nắm bắt và sử dụng thành
thạo các loại công nghệ hiện đại. Song thực tế thì năng lực chuyên môn hóa,
trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp
còn hạn chế. Nguyên nhân chính là do mặt bằng dân trí nước ta còn thấp, tốc độ
nâng cao dân trí còn chậm. Cho đến nay đại bộ phận lao động nước ta chưa
đươc đào tạo đầy đủ, đến năm 1997 số người được đào tạo mới chỉ chiếm 7.0 %
dân số và 14.3% tổng số lao động. trình độ lao động đã qua đào tạo ở các bậc
trên đại học là 0.3%, đại học và cao đẳng là 20.1%, trung học chuyên nghiệp là
35.8%, công nhân kỹ thuật có bằng cấp là 24.4%, CNKT không có bằng cấp là
19.4%.
Tính đến năm 2005, lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn còn rất thấp
(25%), còn lại là lao động chưa được đào tạo.
Đối với CNKT, giai đoạn 1999 – 2005 có sự tăng đột biến (một phần do
số liệu năm 2005 tính cả số người có chứng chỉ nghề và sơ cấp). Trong thời gian
đó, tỉ lệ lao động có trình độ THCN cũng tăng nhưng chậm hơn (+1.3%/6năm).
Đối với lao động có trình độ cao đẳng trở lên, tăng bình quân 0.43% ở
giai đoạn 1999 – 2005. Tỷ lệ này so với tổng số lao động (năm 2006: 44.4 triệu
người). Như vậy trong 5 năm gần đây có sự tăng nhanh về quy mô đào tạo cao
đẳng, đại học trở lên đến 5.4 lần so với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1989 –

xuất phát từ một nghịch lý ở nước ta hiện nay, cha mẹ lo việc học hành của con
cái, đầu tư tiền của cho con học, nhưng việc làm, quyền lợi của con thì họ không
biết sẽ ra sao sau khi học xong. Mọi thứ tốn kém đều do cha mẹ học sinh chịu,
nhưng doanh nghiệp và xã hội hưởng kết quả (có quyền lựa chọn sử dụng theo
nhu cầu của mình). Chính vì vậy nên việc chọn ngành nghề đào tạo, cấp học của
học sinh phần lớn là theo ý chí của cha mẹ học sinh, họ muốn việc làm của con
cái sau khi tốt nghiệp phải xứng đáng với công sức, tiền của mà họ đã đầu tư.
7
Muốn thay đổi tâm lý này cần phải có sự nỗ lực chung từ Nhà nước, doanh
nghiệp và xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều hành, chi phối;
doanh nghiệp hấp dẫn, thu hút đội ngũ công nhân kỹ thuật bằng tuyển dụng và
chính sách tiền lương; toàn xã hội cần có cuộc vận động làm cho ai cũng thấy
được học nghề có vị trí quan trọng và được xã hội đánh giá cao.
Tính tới tháng 12/2000, Việt Nam đã có trên 1.3 triệu người có trình độ
đại học – cao đẳng; trên 10.000 thạc sỹ; 13.55 tiến sỹ ( trong đó 610 tiến sỹ khoa
học). Bình quân có 190 cán bộ khoa học công nghệ/10000 dân (tỷ lệ trong năm
1989 là 105). Theo đó, cơ cấu tỷ lệ cán bộ (theo trình độ chuyên môn): 98% đại
học, cao đẳng; 0.75% thạc sỹ; 0.97% tiến sỹ và tiến sỹ khoa học (tiến sỹ khoa
học: 0,05). Tỷ lệ đó thể hiện mối tương quan giữa các loại trình độ là: 1 tiến sỹ;
0.8 thạc sỹ; 105 đại học, cao đẳng.
Đến 2006, Việt Nam đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ đại học, cao
đẳng trở lên, trong đó có trên 14 nghìn tiến sỷ và 16 nghìn thạc sỹ. Số lượng cán
bộ khoa học công nghệ trên đại học đã tăng từ 23.500 (2000) lên trên 20.000
(2006). Theo thống kê của Bộ Nội Vụ, tính đến 11/2004, cả nước có khoảng
5.479 giáo sư, phó giáo sư được công nhận, trong đó số lượng giáo sư, phó giáo
sư đang làm việc là 3.075, chiếm 56.1%. Mối tương quan giữa các loại trình độ
ở thời điểm năm 2006 là: 1 tiến sỹ: 1.14 thạc sỹ: 128 đại học, cao đẳng. Tỷ lệ
trên cho thấy số lượng tiến sỹ và tiến sỹ khoa học có tăng lên nhưng tăng chậm
hơn so với sự tăng lên của đội ngũ. Những con số đó còn quá nhỏ bé so với yêu
cầu của quá trình CNH - HĐH, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Hơn nữa,

đông đảo đội ngũ lao động lành nghề, lực lượng chất xám về khoa học tự nhiên,
công nghệ và xã hội nhân văn chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước. Bên cạnh đó,
thành phố Hồ Chí Minh có tầng lớp doanh nhân nhạy bén với thị trường, có mối
liên hệ và điều kiện, cho phép thành phố Hồ Chí Minh chủ động hội nhập kinh
tế với khu vực và thế giới nhanh, thu hút mạnh đầu tư bên ngoài, đặc biệt là trí
tuệ và nguồn vốn của của ngươì Việt ở nước ngoài. Có thể nói, nguồn nhân lực
của thành phồ Hồ Chí Minh có thế mạnh nổi trội, quyếtđịnh vai trò đi đầu trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Do vậy, việc sử dụng có
hiệu quả nguồn nhân lực sẽ giúp cho thành phố phát triển kinh tế bền vững,
9
đồng thời nhanh chóng vươn lên ngang tầm với các thành phố khác trong khu
vực Đông Nam Á.
Để sử dụng triệt để những lợi thế nêu trên và có nguồn lao động chất
lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế-
xã hội của thành phố, tháng 12/2002, Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh đã xây
dựng chương trình hành động, xác định 1 trong 7 nhiệm vụ trọng tâm để phát
triển thành phố đến năm 2010 là “ Phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chăm lo phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo để nhanh chóng nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho thành phố và
đất nước. Trong đó, vấn đề đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để
sử dụng và phát huy nguồn nhân lực được đặc biệt chú trọng”.
Công tác đào tạo ở các bậc học của Thành phố Hồ Chí Minh được chú
trọng phát triển về nhiều mặt: quy mô, chất lượng, rèn luyện về nhân cách, đạo
đức và đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ lao động. Số lượng
trường đại học, cao đẳng, cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố tăng; nguồn
kinh phí ngân sách và ngoài ngần sách đầu tư cho công tác đào tạo được chú
trọng (từ nhiều nguồn kinh phí, trong năm 2003, thành phố đã chi 278 tỷ đồng
để phát triển cơ sở dạy nghề, khắc phục đáng kể tình trạng lạc hậu về trang thiết
bị để đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng (Nguồn: Sở Lao Động-Thương
binh và Xã hội).

Chí Minh cần giảm thiểu những khiếm khuyết còn tồn tại trong việc quản ký
nguồn nhân lực, đẩy mạnh các yếu tố phát triển chất lượng của nguồn nhân lực.
Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực sẽ rút ngắn khoảng cách phát triển giữa
Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
2. Thế mạnh và hạn chế của nguồn nhân lực ở nước ta
a. Thế mạnh:
+ Dân số đông là điểm mạnh của Việt Nam bởi vì nó tạo ra lực lượng lao
động dồi dào, giá thành lao động sẽ rẻ và tạo lợi thế về nguồn lao động so với
các nước trong khu vực hiện nay.
VN là nước có dân số đông thứ hai Đông Nam Á và thứ 13 thế giới, ở
thập niên 90 nước ta có 35 triệu lao động đến đầu thế kỳ 21 là 40 triệu lao động.
11
Do dân số tăng nhanh từ trước cho nên nguồn nhân lực tiếp tục tăng với tốc độ
cao. Hàng năm có từ 1.0 đến 1.2 triệu lao động gia tăng. Nguồn nhân lực trẻ
tăng nhanh là một lợi thế đối với sự phát triển của dất nước.
+ Nó đảm bảo yếu tố cơ bản cho đầu tư phát triển, phát triển theo chiều
rộng và chiều sâu.
+ Lao động trẻ có sức bật nhanh thuận lợi cho sự phát triển chuyên sâu, có
sức khoẻ dồi dào đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Thuận lợi phát triển hoạt động xuất khẩu lao động, một dạng đặc thù của
kinh tế đối ngoại.
+ Cơ cấu dân số trẻ, số người trên độ tuổi lao động chiếm khoảng 10%,
trong độ tuổi lao động chiếm 56%, dưới độ tuổi lao động chiếm 34%. Như vậy
ngưòi Việt Nam tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao
động.
+ Phẩm chất, tính cách con người Việt Nam: Con người Việt Nam có
truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó, có tinh thần tự tôn dân tộc, tinh thần
nhân ái “lá lành đùm lá rách”, thông minh, chịu khó, giỏi chịu đựng Đây là
những giá trị con người Việt Nam đã, đang và sẽ tạo nên sức mạnh phi thường
cho quá trình phát triển đất nước.

ra khoảng cách giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên toàn thế
giới. Lực lượng lao dộng không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, không làm chủ được các công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới,
không cạnh tranh được với thị trường lao động của khu vực và trên thế giới do
đó sẽ kìm hãm sự phát triển của đất nước.
+ Cơ cấu nguồn nhân lực VN vẫn còn rất lạc hậu so với thế giới, đặc biệt
so với các nước phát triển. Người lao động VN còn tập trung khá nhiều ở khu
vực nông nghiệp, chiếm 62.56%.
Trong đó ở các nước phát triển thì tỷ lệ này rất thấp.
Tỷ lệ ở các ngành công nghiệp và dịch vụ thì lại chiếm rất ít: 13.5% và
24.29%. Trong đó ở Anh công nghiệp 30%, Nhật 34%.
+ Văn hoá lao động, kỷ luật lao động công nghiệp con rất hạn chế.
+ Mức sống thấp, sức khoẻ hạn chế.
13
+ Tư tưởng, tâm lý tiểu nông nặng nề; coi trọng danh vị; ngôi thứ; trọng
tình hơn lý; trọng lệ hơn luật; trọng kinh nghiệm hơn cơ sở khoa học, óc gia
ytrưởng; tính bảo thủ; đối truỵ; hẹp hòi
+ Tính tích cực, tính năng động XH còn thấp; tâm lý thụ động, trông
chờ
+ Chủ nghĩa thực dụng, cá nhân ích kỷ, lối sống phi giá trị truyền thống
dân tộc của bộ phận nhân dân đang có xu hướng gia tăng
III. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của đất nước
trong thời kỳ CNH-HĐH và sự ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia
đối với sự phát triển nguồn nhân lực
1. Vai trò của nguồn nhân lực với sự phát triển đất nước
Nguồn nhân lực là mục tiêu tác động chính của sự phát triển:
Nói đến vai trò nguồn nhân lực là nói đến vai trò của con người trong sự
phát triển. Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, mọi sự phát triển đều
hướng vào mục tiêu duy nhất là phục vụ con người.
Vai trò của con người được thể hiện ở hai mặt: trước hết con người là

2. Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đối với phát triển
nguồn nhân lực và nền kinh tế của nước nhận đầu tư
2.1. Mối quan hệ giữa chiến lược của TNCs và sự phát triển nguồn
nhân lực
Nhân tố con người đóng vai trò then chốt trong mọi sự phát triển.Mỗi
công ty muốn phát triển phải có bộ máy lãnh đạo tốt, tài tình, hiệu quả và lực
lượng lao động có tay nghề.Họ có thể mua được công nghệ máy móc tốt nhưng
nếu không có người vận hành và không biết sử dụng thì công nghệ đó cũng
không có giá trị. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự
phát triển, các TNCs luôn đề ra những chính sách phát triển nguồn nhân lực
song song và cùng với những chiến lược phát triển của mình.
Thật vậy, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các TNCs luôn gắn
liền với chiến lược phát triên chung của công ty. Mỗi một chiến lược phát triển
khác sẽ có sự đầu tư khác nhau đối với nguồn lực. Khác với các công ty nội địa,
15
các công ty xuyên quốc gia, phân bổ nguồn nhân lực của mình trên quy mô quốc
tế theo sự phân công lao động giữa các chi nhánh. Các công ty này có những
chiến lược phát triển cụ thể như sau:
a. Chiến lược độc lập
Hoạt động của các chi nhánh chính quốc chỉ nhằm phục vụ thị trường nội
địa và một số thị trường lân cận chứ không có mục đích xuất khẩu. Để đáp ứng
nhu cầu của các thị trường khác thì TNCs lại thành lập các chi nhánh và tiến
hành các hoạt động tương tự. Tuy nhiên, mức độ đào tạo của TNCs cho lực
lượng lao động còn nhiều hạn chế. TNCs thường tiến hành các hoạt động R&D
tại công ty mẹ và không chuyển giao những công nghệ hàng đầu cũng như kỹ
năng tiên tiến nhất cho nước chủ nhà.
b. Chiến lược hợp nhất giản đơn:
Khác với chiến lược trên, trong chiến lược này, TNCs thường phân công
cho mỗi chi nhánh đảm nhận một khâu hoặc một công đoạn nào đấy trong dây
chuyền gia tăng giá trị của mình. Các công ty mẹ không áp dụng cách thức

Các TNCs tác động đối với phát triển nguồn lực và tạo việc làm qua hai
cách trực tiếp và gián tiếp. Cách trực tiếp là thông qua các dự án TNCs góp phần
tạo ra một khối lượng công việc khổng lồ. Cách gián tiếp là TNCs đã tạo ra
nhiều cơ hội cho việc phát triển nguồn lực.
Là những công ty có quy mô lớn nên nhu cầu về lao động của các TNCs
cũng rất lớn. Thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài TNCs đã trực
tiếp tạo ra một khối lượng đáng kề việc làm cho các nước tiếp nhận đầu tư. Một
cách gián tiếpTNCs cũng tạo ra một khối lượng lớn việc làm thông qua việc liên
doanh với các đơn vị khác để cùng phát triển, thông qua việc liên kết với các
nhà cung cấp, các nhà phân phối từ đó mở rộng phạm vi hoạt động của những
đơn vị này và chính những đơn vị này lại tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm
cho người lao động.
Như vậy, các TNCs làm tăng khối lượng việc làm trên thế giới bao gồm
tăng việc làm ở cả chính quốc và cả nước chủ nhà. Với gần 77.000 công ty mẹ
và 900.000 chi nhánh trên toàn thế giới các TNCs là nguồn việc làm khổng lồ
cho lực lượng lao động thế giới. Số liệu cụ thể như sau: (xem bảng 3)
17
Ta thấy, số lượng lao động làm việc tại các chi nhánh nước ngoài liên tục
tăng lên:
Nếu năm 1982, chỉ có 19.537 triệu lao động làm việc trong các chi nhánh
của TNCs tại nước ngoài thì đến đầu năm 2005 con số này là 62.092 triệu lao
động tức tăng gấp 3 lần so với năm 1982. Cũng theo báo cáo đầu tư thế giới của
UNCTAD năm 2004 thì tỷ lệ lao động làm việc tại các chi nhánh nước
ngoàicũng chiếm phần lớn trong tổng cơ cấu lao động của các công ty mẹ.
Chẳng hạn, hãng Generai Electric của mỹ có 307.000 nhân viên thì trong đó có
142.000 nhân viên tại các chi nhánh, Simens AG của đức có 430.000 nhân viên
trong đó có 266.000 nhân viên làm việc tại các chi nhánh, Nissan của nhật có
183.000 nhân viên trong đó có 112.530 nhân viên làm việc tại các chi nhánh.
Như vậy, tỷ lệ lao động tại các chi nhánh của nước ngoài của các hãng Siemens
AG, Nissan, IBM, lần lượt là 62%, 61%, 53%.

nhân lực nước ta.
Cơ bản xoá được nạn mù chữ, phổ cập GD tiểu học, đây là tiền đề quan
trọng để đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, có chất lượng và tiếp thu nhanh
được khoa học công nghệ tiên tiến của khu vực và thế giới.
Các cấp bậc học, nghành học ngày càng được mở rộng, các trường trung
học chuyên nghiệp, dạy nghề được phát triển rộng khắp, đây là cơ sở đề đào tạo
tay nghề trực tiếp cho nguồn nhân lực nước ta.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên
môn đây là đội ngũ rất quan trọng để phát triển chất lượng nguồn nhân lực Việt
Nam.
Cơ sở vật chất cho GD-ĐT ngày càng được nâng cao đáp ứng ngày càng
tốt hơn cho sự nghệp GD và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
Các chương giảng dạy ngày càng được cải tiến cho phù hợp với tình hình
mới, đây là điều kiện để nước ta hội nhập với khu vực và thế giới.
Liên hệ thực tế
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiên nay thì vấn đề gd còn có rất nhiều điều
cần phải bàn về chất lượng GD cơ sở vật chất, chính sách, ngân sách.
19
Tuy chúng đã phát triển mở rộng được các loại hình đào tạo, tuy nhiên
chất lượng các trường dân lập, bán công, bổ túc vẫn còn nhiều hạn chế.
Mặc dù các cấp học, bậc học đã được mở rộng tuy nhiên hệ thống các
trường trung học chuyên nghiệp, Trung học dạy nghề vẫn còn thiếu rất nhiều,
nguồn nhân lực chưa qua đào tạo.
Chế độ đào tạo giảng dạy đã cũ mà vẫn chưa đổi mới về giáo trình,
b. Hướng giải quyết:
Tiến hành xã hội hoá GD nhanh hơn nữa trong thời kỳ tới, khuyến khích
các thành phần tham giavào sự nghiệp GD của nhà nước, dưới sự quản lý có
hiệu quả của nhà nước, nguồn nhân lực có thể đào tạo từ những hướng khác
nhau, từ nhiều nguồn khác nhau, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp hoá, hiện đại
hoá.

+ Mặt tiêu cực
Bên cạnh những ưu điểm thì vẫn tồn tại rất nhiều yếu kém, chính những
yếu kém này đã đặt ra rất nhiều thách thức cho nghành y tế như:
- Sự eo hẹp về tài chính cho y tế trong khi nhu cầu về khám chữa bệnh
ngày một cao.
- Tính nhân đạo và sự công bằng đang bị tác động tiêu cực bởi mặt trái
của cơ chế thị trường.
- Sự quản lý của nhà nước còn lỏng lẻo, kém hiệu quả. Ngân sách cho y tế
còn quá ít.
- Vấn đề bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập và mới đảm bảo được một phần.
dường như BHYT không phải là của người nghèo. v.v…
Chính những tác động này đã và đang gây sức ép không nhỏ cho nghành
y tế cũng là cho chính sức khỏe của người dân nói chung và cho nguồn nhân lực
nói riêng.
3. Phát triển kinh tế xuất khẩu lao động
Là cơ sở quan trọng để phát triển nguồn lực con người, bởi vì: Phát triển
kinh tế sẽ tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân, phát triển giáo
dục, văn hoá, dân số tạo thêmm nhiều việc làm…Do vậy:
21
Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường kinh tế định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa, đồng thời đảm bảo sự công bằng trong phân phối sản phẩm của xã hội để
tạo động lực cho mọi, người làm giàu chính đáng, vươn lên xóa đói, giảm
nghèo, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các tầng lớp dân cư, vùng miền.
Phát triển kinh tế thị tường nhưng phải nâng cao năng lực quản lý của nhà
nước nhằm làm cho kinh tế thị trường phát triển sâu rộng nhưng được định
hướng vào mục tiêu phục vụ con người, phục vụ sự tiến bộ xã hội.
4. Tăng cường quản lý phát triển nguồn nhân lực con người
Sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người và phát triển nó, làm cho nó trở
thành vô tận. Do đó:
- Lấy phát triển bền vững làm môi trường trung tâm.

chính là điều quyết định một nguồn lực toàn diện cả về tài trí lẫn thể chất.
Chính vì vai trò quan trọng đó nên đây là một đề tài mà chúng tôi rất tâm
đắc, với mong muốn đưa ra để mọi người cùng nhau thảo luận để có nhiều giải
pháp tích cực hơn nữa trong việc phát triển, nâng cao nguồn nhân lực hiện nay,
đó cũng chính là góp phần phát triển đất nước Việt Nam ngày một giàu mạnh,
công bằng, dân chủ và văn minh.
Câu nói của Bác: “Non Sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân
tộc Việt Nam có được vẻ vang sách vai các cường quốc năm châu hay không
chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các cháu”.[ trích Hồ Chí Minh
toàn tập] đã thay cho lời kết lại của đề tài cũng như càng khẳng định vị trí quan
trọng hơn nữa vai trò của nguồn nhân lực mà cụ thể là vai trò của việc học tập,
nghiên cứu, trau dồi kiến thức, rèn luyện tay nghề. Đó là con đường duy nhất để
dẫn tới thành công và đem lại sự phồn thịnh cho đất nước. Đây là trách nhiệm
của tất cả mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta, một thế hệ chủ nhân tương
lai của đất nước.
23
PHẦN PHỤ LỤC
Năm
Số
CNKT/1
CĐĐH
và trên
ĐH
Số
THCN/1
CĐĐH và
trên ĐH
Người có
trình độ CĐ,
ĐH trở lên

Cả nước 1.870.315 100
Tp.Hồ Chí Minh 295.058 16
T.Bình cả nước 30.666 1,64
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status