Tối ưu hóa môi trường nuôi cấy vi khuẩn LACTOBACILLUS ACIDOPHILUS để sản xuất chế phẩm PROBITICS - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG & CÔNG NGHỆ SINH HỌC
o0o
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề Tài:
TỐI ƯU HÓA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY VI
KHUẨN LACTOBACILLUS ACIDOPHILUS ĐỂ
SẢN XUẤT CHẾ PHẨM PROBIOTICS
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ SỐ NGÀNH: 111
GVHD: TS. NGUYỄN HOÀI HƯƠNG
SVTH: NGUYỄN HOÀNG ÂN
MSSV: 105111004
LỚP: 05DSH
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 6 năm 2009
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp ngoài nổ lực bản thân còn có sự giúp đỡ
của quý thầy cô và các bạn trong lớp.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
TS. Nguyễn Hoài Hương là người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm q báo trong suốt thời gian làm đồ án tốt nghiệp.
Thầy cô khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh Học đã trang bò cho tôi
những kiến thức quý báo trong suốt thời gian học tập 4 năm tại nhà trường
Thầy cô phụ trách phòng thí nghiệm đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hòan
thành tốt đồ án tốt nghiệp.
Tất cả các bạn sinh viên lớp 05DSH đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
làm đồ án.
Lời cảm tạ cuối cùng xin được giành gia đình. Con xin cảm ơn ba mẹ. Ba mẹ luôn
là điểm tựa vững chắc, là niềm động viên và tạo điều kiện cho con có ngày hôm
nay.

SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
 So sánh khả năng ức chế vi sinh vật chỉ thị (E. coli) của dòch nuôi cấy L.
acidophilus trong môi trường MRS và dòch chiết dứa tối ưu.
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Probiotics
2.1.1. Lòch sử nghiên cứu Probiotics
Vào những năm đầu của thế kỷ 19, những nghiên cứu đầu tiên về sự tương
tác của vi sinh vật với cơ thể vật chủ đã bò phủ nhận. Đến đầu 1885, Escherich
đã miêu tả về sự hình thành hệ vi sinh vật trong ruột của trẻ em và nêu ra những
lợi ích của chúng trong tiêu hoá. Doderlein khẳng đònh rằng sự có lợi của vi
khuẩn trong âm đạo bằng cách sản xuất ra acid lactic, nó có thể ngăn chặn hoặc
ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Các vi khuẩn sản xuất acid lactic
trong quá trình trao đổi chất mà tiêu biểu là nhóm vi khuẩn lên men lactic đã
được sử dụng kết hợp với các sản phẩm lên men sữa. Cuốn sách Prolongation of
Life của Metschnikoff đã đưa ra những lợi ích của vi khuẩn lactic đến sức khoẻ
của con người khi con người sử dụng những sản phẩm sữa kết hợp với các vi
khuẩn lactic. Ông cho rằng người Cap-ca có thể sống lâu là do họ đã sử dụng một
lượng lớn các sản phẩm sữa lên men [19].
Henry Tissier là một bác só khoa nhi ở Pháp kiểm tra phân của những trẻ em
bò tiêu chảy và thấy rằng chỉ chứa một lượng ít các vi khuẩn “bifi”. Trong khi đó
vi khuẩn này lại tồn tại một lượng lớn trong phân của các trẻ em có sức khoẻ tốt.
Ông cho rằng vi khuẩn này có thể giúp bệnh nhân hồi phục lại bệnh.[45]
Năm 1900, Tissier cho rằng Bifidobacteria và một số nhóm vi khuẩn khác sản
sinh acid lactic nhưng chủ yếu là vi khuẩn lactic có tác dụng tốt đối với sức khoẻ
[19].
Năm 1917, trước khi Alexander Fleming khám phá ra ampicilin, giáo sư
Alfred Nissle người Đức đã phân lập ra một chủng thuộc loài E. coli không gây

SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 4
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
đoạn có thể dẫn đến một số bệnh lý do mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột làm
tăng nhanh số lượng vi khuẩn gây bệnh. Probiotics được chứng minh là có khả
năng chống lại một số tác nhân gây bệnh như Escherichia coli, Salmonella,
Listeria monocytogenes, Helicobacter pylori, và rotavirus. Cơ chế tác động của
probiotics như sau:
2.1.3.1. Sinh tổng hợp ra các chất kháng khuẩn: bao gồm bacteriocins,
acid hữu cơ, và hydrogen peroxide .
Bacteriocins là một chất kháng khuẩn, được chia làm 4 lớp:
 Lớp thứ nhất là những phân tử peptid nhỏ (< 5 kDa)
 Lớp thứ hai là những phân tử peptid nhỏ (< 10 kDa), thường là những
phân tử peptid hoạt động ở màng tế bào.
 Lớp thứ 3 là những phân tử protein lớn (>30 kDa), bền về nhiệt, gồm
các enzyme ngoại bào
 Lớp thứ tư là những bacteriocins phức tạp, ngoài protein còn có các
thành phần khác như lipid và cacbohyrate [35].
Bacteriocins được sản xuất bởi vi khuẩn lactic, khi tiến hành phân tích gen
cuả các vi khuẩn lactobacilus gồm L. plantarum, L. acidophilus NCFM, L.
johnsonii NCC 533, và L. sakei đều thấy chúng là các loài có khả năng sinh
bacteriocins và chúng thường độc đối vi khuẩn gram dương như Lactococcus,
Streptococcus, Staphylococcus, Listeria, và Mycobacteria. Cơ chế hoạt động cơ
bản của bacteriocins chủ yếu tạo nên những lỗ trên màng tế bào chất và sau đó
enzyme được tiết ra gây trở ngại cho quá trình trao đồi chất của vi khuẩn gây
bệnh. Một vài vi khuẩn thuộc chi Bifidobacteria cũng có khả năng sản xuất ra
bacteriocins gây độc cho cả vi khuẩn gram âm và gram dương. Đặc biệt probiotics
còn kích thích các tế bào biểu mô ruột sản xuất ra các chất kháng khuẩn [25].
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
Acid hữu cơ cũng có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh,

ngăn ngừa bệnh viêm ruột và các tế bào chết bám trên biểu mô ruột. Cuối cùng
là chức năng ngăn chặn, lactobacillus được chứng minh rằng là chủng có khả
năng làm giảm độ thẩm thấu vào màng nhầy, hạn chế được sự xâm nhập của vi
sinh vật có kích thước nhỏ ở chuột [26].
Sinh tổng hợp chất nhày là một trong những cơ chế chống lại các tác nhân
gây bệnh, chất nhầy sẽ cô lập, bất hoạt vi sinh vật gây bệnh. MUC2 và MUC3 là
hai mRNA làm tăng kích thích sản sinh ra chất nhầy, bảo vệ tế bào biểu mô
chống lại sự bám dính của vi khuẩn gây bệnh. Lactobacillus plantarum 299v được
chứng minh rằng có khả năng làm giảm tác động của E. coli trên tế bào biểu mô
ruột.
2.1.3.3. Cạnh tranh nguồn dinh dưỡng
Probiotics còn có khả năng cạnh tranh các chất dinh dưỡng với các vi sinh
vật gây bệnh. Bất kỳ vi sinh vật nào cũng cần có nguồn dinh dữơng để phát triển,
chẳng hạn sự phát triển vi khuẩn probiotics sử dụng đường đơn (glucose, fructose)
làm giảm sự phát triển của Clostridium difficile (sử dụng đường đơn ) [26].
Sắt là yếu tố quan trọng đối với tất cả các tế bào sống ngoại trừ
Lactobacillus plantarum và Borrelia burgdorferi, nó cần thiết trong các quá trình
sinh hóa trong tế bào và có thể gây độc ở ngưỡng cao. Sự hấp thu và lưu trữ sắt
được điều chỉnh bởi tế bào [19]. Siderophore lá chất có khối lượng phân tử thấp,
có khả năng gắn kết các ion sắt. Siderophore có thề hòa tan sắt tủa thành dạng dễ
sử dụng cho vi sinh vật. Do đó tận ứng yếu tố này, có thể chọn các vi sinh vật vô
hại có khả năng sản xuất siderophore làm vi khuẩn probiotic, nó sẽ cạnh tranh ion
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
sắt với vi khuẩn gây bệnh [9]. Bifidobacteria có khả năng sản sinh siderophore và
cạnh tranh ion sắt trong ruột già như E. coli [19].
Ngoài ra probiotics còn tác động đến hệ thống quorum sensing ở vi khuẩn
gây độc, quorum sensing có liên quan đến quá trình điều hòa các nhân tố gây độc
của vi khuẩn đặc biệt là Virio. Vi khuẩn probiotics sẽ phá vỡ hệ thống này, đây
cũng là một biện pháp mới để chống lại các vi khuẩn gây bệnh trong thủy sản.

Lactobacillus có khoảng 60 loài bao gồm L. acidophilus, L. plantarum, L.
casei, và L. rhamnosus…. Cách đây hơn 100 năm con người đã sử dụng các vi
khuẩn Lactobacillus bổ sung vào thực phẩm nhằm tăng thời gian bảo quản, tăng
vò ngon, tạo ra các cấu trúc khác nhau trong thực phẩm. Hương vò của sản phẩm là
do các sản phẩm trao đổi chất của Lactobacillus. Chẳng hạn acetaldehyde có
trong yogurt, diacety có trong có trong các sản phẩm sữa lên men [19].
Khả năng ức chế các vi khuẩn gây bệnh của lactobacillus đã được nghiên
cứu trong điều kiện in vitro, đặc biệt khả năng bám dính và cạnh tranh vò trí bám
dính của lactobacillus với các vi khuẩn gây bệnh. Coconnier et al, chứng minh
được L. acidophilus ngăn cản sự bám dính của E. coli O157:H7, Salmonella
enterica, Yersinia pseudotuberculosis và Listeria monocytogenes trên tế bào Caco-
2 cells. Tương tự như vậy, Forestier et al. cũng chứng minh được khả năng ngăn
cản bám dính của L. casei và L. rhamnosus Lcr35 đối với E. coli và Klebsiella
pneumoniae trên tế bào Caco-2 cells. Ngoài cớ chế cản trở sự bám dính của vi
khuẩn gây bệnh thì Lactobacillus còn ức chê vi khuẩn gây bệnh bằng sinh acid
làm pH môi trường giảm xuống và bacteriocins. Theo nghiên cứu của Vescovo et
al, ông tiến hành thử nghiệm khả năng kháng khuẩn của năm chủng L. casei trên
Aeromonas hydrophila, L. monoytogenes, S. typhimurium,và S. aureus trong điều
kiện invitro. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, L. casei IMPCLC34 là chủng có tác
động mạnh nhất đối với Aeromonas hydrophila, S. typhimurium, và S. aureus, tuy
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
nhiên nó không có tác động kháng đối với L. monocytogenes. Nhưng ngược lại
Lactobacillus spp phân lập từ gà lại có khả năng kháng lại Campylobacter spp
trong điều kiện invitro [19].
Dựa vào khả năng sinh bacteriocins của Lactobacillus, mà Lactobacillus
được sử dụng rất nhiều trong các sản phẩm rau quả, thòt, và cá lên men. Khả năng
sinh bacteriocins của lactobacillus được khám phá vào 1975, và nhiều loại
bacteriocins khác đã được biết đến. Hiện nay lactobacillus được ứng dụng rộng
rãi trong các sản phẩm cá, bơ sữa, và thòt trong vấn đề bảo quản và nâng cao chất

monocytogene, Clostridium perfringens, Salmonella spp, vibrio cholerae, và E.
coli, hầu hết E. coli và C. perfringens bò tiêu diệt bởi B. infantis va øB. Longum.
bifidobacterial còn được ứng dụng bổ sung vào thức ăn cho những đứa bé gớp
phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và tiêu chảy cấp do rotavirus do với
những đứa trẻ bình thường [19].
Không giống với Lactobacillus, bifidobacteria rất hạn chế về các tài liệu về
bacteriocins. Bifidin là một bacteriocins được sinh ra từ B. bifidum NCDC 1452 có
khả năng kháng rất nhiều vi khuẩn : E. coli, Bacillus cereus, Staphylococcus
aureus, Micrococcus flavus, và Pseudomonas fluorescens [19].
2.1.4.2.Nấm men:
Lactobacillus, Bifidobacterium được sử dụng rộng rãi nhất trong các sản
phẩm probiotics, tuy nhiên nấm men cũng được sử dụng như một probiotics. Theo
nghiên cứu của H. Kumura, Y. Tanoue, M. Tsukahara, T. Tanaka, và K.
Shimazaki kiểm tra hoạt tính probiotic của tám loài nấm :Debaryomyces
occidentalis, Kluyveromyces lactis, Kluyveromyces lodderae, Kluyveromyces
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
marxianus, Saccharomyces cerevisiae, và Yarrowia lipolytic được phân lập từ kefir
[21].
Saccharomyces boulardii tác dụng trò tiêu chảy ở trẻ nhỏ. Theo bác só
Karpa S. boulardii có khả năng sinh enzyme khử độc tố của C. difficile.
Saccharomyces boulardii, khác với lactobacilli hoặc bifidobacteria nó không tạo
hệ vi sinh trong ruột người mà nó chỉ tồn tại một hoặc hai tuần trong ruột. Chúng
ngăn chặn các tác nhân gây bệnh và sau đó ra khỏi ruột, đồng thời giúp
lactobacilli và bifibacteria phát triển nhanh [55]. Theo kết quả nghiên cứu của
McFarland và Bernasconi Saccharomyces boulardii phát triển tốt nhất ở 37
0
C và
có thể sống sót khi trãi qua hệ tiêu hóa của người và động vật. S. boulardii có
khả năng ức chế sự phát triển của nấm Candida albicans [19].

- Tăng cường khả năng hấp thụ lactose
- Giảm huyết áp của những người bò chứng cao huyết áp.
- Ngăn ngừa và giảm mức độ gây bệnh tiêu chảy
- n đònh cấu trúc gen trong quá trình tạo chế phẩm
2.1.6. Ứng dụng của probiotics
2.1.6.1. Trong thực phẩm và dược phẩm
Trong cơ thể người tồn tại khoảng 10
14
tế bào vi sinh vật với sự đa dạng
của các loài, có khoảng 400 loài. Các vi sinh vật tồn tại trong đường ruột tác động
qua lại giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột. Sự tồn tại của các vi sinh vật trong
hệ tiêu hoá còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng trong cơ thể. Trong cơ thể luôn
tồn tại các vi khuẩn cơ hội, khi gặp điểu kiện thuận lợi nó sẽ phát triển đủ số
lượng và gây độc cho cơ thể.
Vi khuẩn probiotics được rộng rãi trong các sản phẩm khác nhau trên khắp
thế giới, chúng được bổ sung vào thực phẩm, tạo ra các chế phẩm thuốc và bổ
sung vào thức ăn cho vật nuôi.
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
Thực phẩm probiotics là thực phẩm chứa các vi khuẩn sống có lợi và
không ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Chẳng hạn, trong các sản phẩm
sữa lên men bổ sung Lactobacillus acidophilus có thể giúp cho những người
không có khả năng hấp thu sữa có thể hấp thụ tốt hơn. Một số thực phẩm
probiotics như là phomat, sữa chua, kifer, dưa cải, giấm… [50]
Thực phẩm probiotics hiện nay được bán rất phổ biển ở Mỹ phần lớn là
yogurt. Yogurt được làm từ sữa kết hợp với các loài Streptococcus thermophilus
và Lactobacillus acidophilus hoặc Lactobacillus bulgaricus. Sữa có nguồn gốc từ
bò, dê, cừu….
Kefir cũng là một sản phẩm lên men, có thể được làm từ nhiều nguồn gốc
khác nhau: sữa bò, sữa cừu, sữa dê. Ngoài ra có thể làm từ sữa đậu nành, sữa gạo

rotavirus trong hệ tiêu hóa [39]. Một nghiên cứu điều trò tiêu chảy cấp tính trẻ em
ở châu Á, cho thấy rằng khi sử dụng Lactobacillus rhamnosus GG có thể rút ngắn
một nữa thời gian chữa trò. Ở châu Âu, kết quả nghiên cứu sử dụng L. rhamnosus
đã bò bất hoạt bởi nhiệt cũng mang lại kết quả tương tự như L. rhamnosus sống [9]
. Bin và Boulloche đã thực hiện nghiên cứu sử dụng Lactocbacillus acidophilus
để điều trò tiêu chảy cấp ở trẻ em. Bin tiến hành nghiên cứu 50 trẻ en bò tiêu chảy
cấp ở Trung Quốc. Ông lấy ngẫu nhiên 30 người điều trò bằng cách sử dụng L.
acidophilus, còn 20 bé còn lại thì điều trò bằng phương pháp bình thường. Kết quả
cho thấy không có sự khác biệt giữa hai cách chữa trò, thời gian khỏi bệnh của hai
phương pháp chữa bệnh là như nhau. Nghiên cứu của Boulloche et al ở 103 bé
còn bú sữa mẹ và trẻ em bò tiêu chảy cấp sử dụng L. acidophilus đã bất hoạt bằng
cách sử dụng nhiệt. Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm
điều trò. Thời gian phục hồi bệnh như nhau [27].
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
- Viêm đường tiêu hóa: do nhiều tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, kí
sinh trùng nhưng nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm rotavirus và Helicobacter
pylori gây viêm loét và ung thư dạ dày. Chúng xâm nhập vào các tế bào ở đỉnh
nhung mao ruột, phá hủy nhung mao, làm mất khả năng hấp thụ các chất dinh
dưỡng. Do khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng kém, các chất cacbohydroxit tồn
động trong ruột, dẫn đến tiêu chảy và mất nứơc nghiêm trọng gây nguy hiểm
cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới ba tuổi và trẻ suy dinh dưỡng [9].
- Ngừa ung thư: Một số thành viên của vi khuẩn đường ruột có khả năng
tiết ra các enzyme như glycosidase, azoreductase, nitroreductase và
β
-
glucoronidase, chúng sẽ hoạt hóa các chất tiền ung thư thành các chất ung thư
hoạt hóa. Những nghiên cứu trên người sử dụng L. acidophilus hoặc Lactobacillus
casei làm giảm đáng kể hoạt động của các enzyme trên [36].
- Giảm cholesterol: Cholesterol là một chất béo steroid, có ở màng tế bào

- 10
11
cfu/ml E. faecium và S. thermophilus và
28 người đàn ông sử dụng sữa bình thường. Kết quả cho thấy hàm lượng
cholesterol trong máu giảm 0.37 - 0.41 mmol/L sau 6 tuần sử dụng, nhóm sử dụng
sữa bình thường thì hàm lượng cholesterol không đổi. Sau đó tác giả tiến hành
nghiên cứu lần hai ở phậm vi rộng hơn, ông tiến hành tương tự ở 87 người đàn
ông và phụ nữ kết quả cho thấy hàm lượng cholesterol giảm nhiều sau 4 -12 tuần
và thí nghiệm cuối cùng 24 tuần và 30 tuần thì thấy không có sự thay đổi nhiều.
Ông đưa ra kết luận E. faecium có khả năng làm giảm Cholesterol trong máu
nhanh [27].
- Tăng cường khả năng tiêu hóa lactose và hoạt động của các enzyme
khác: Hiện tượng không có khả năng tiêu hóa lactose tìm thấy khắp trên thế giới
do cơ thể không có enzyme lactase thủy phân lactose. Enzyme này được giải
phóng khi vi khuẩn bò dung giải do tác dụng của acid mật [9]. Triệu chứng của
bệnh thường gây phìn bụng, đầy hơi, tiêu chảy. Theo kết quả nghiên cứu của
Rasstal et al 2000 vi khuẩn latobacii và bifidobacteria làm tăng enzyme lactase
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
trong ruột non [17]. Ở trẻ sơ sinh thường mắc chứng kém tiêu hóa đường
saccarose, khắc phục bằng cách cho uống saccharomycess cerevisiae, trong nấm
men có chứa enzyme saccarase.
2.1.6.2. Nông nghiệp
2.1.6.2.1. Nuôi trồng thủy hải sản.
UN FAO ước tính tới năm 2020 một nữa lượng thủy sản cung cấp cho tòan
thế giới sẽ được cung cấp nhờ nuôi trồng thủy sản do các nguồn cá khai thác tự
nhiện bò khai thác quá mức. Ở Việt Nam nuôi trồng thủy sản cũng đang trên đà
phát triển, năm 2002 chính phủ đã quyết đònh thủy sản là ngành kinh tế ưu tiên,
trong đó nuôi tôm là ngành mũi nhọn nhằm tăng kinh ngạch xuất khẩu, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, giảm áp lực khai thác ven bờ, nâng cao việc sử

mật độ cao và không có biện pháp xử lý thích hợp gây hiện tượng thiếu oxy trong
ao dẫn đến tôm bò ngạt. Thức ăn dư thừa dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa làm
tảo phát triển, các chất hữu cơ trong ao trích lũy ngày một tăng sẽ làm giảm
lượng oxy hòa tan. Lớp bùn lắng động lâu ngày tạo điều kiện cho các vi khuẩn kò
khí phát triển sinh khí H
2
S và CH
4
. Amoni tồn tại dưới dạng NH
3
hoặc NH
4
+
tùy
thuộc vào pH của môi trường. NH
3
độc tính cao hơn NH
4
+
do NH
3
không mang
điện tích dễ thấm qua màng tế bào mang cá và hòa tan tốt trong chất béo, NH
4
+
có kích thước lớn hơn, mang điện và kết hợp với nước nên khó thấm qua tế bào
mang cá. Khi nồng độ NH
3
cao tôm sẽ bò ngộ độc cấp tính và chết nhanh. Các
hợp chất chứa nitơ dạng oxy hóa gồm nitrite và nitrate khi vượt qua nồng độ

2
ở 0 giờ sau đó tăng 1.40±0.21 ×
10
7
cfu/ml ở 24 giờ rồi tiếp tục giảm 7.80±1.90 × 10
5
cfu/ml ở 120 giờ [31].
- Các vi khuẩn sinh acid lactic cũng được sử dụng rộng rãi, Gatesoupe(1991)
chứng minh được Lactobacillus giúp loài cá bơn phát triển nhanh [48]. Một thí
nghiệm khả năng kháng của vi khuẩn dò dưỡng đường tiêu hóa của cá hồi và cá
bơn với tác nhân gây bệnh là A. samodicida, kết quả cho thấy vi khuẩn tạo vòng
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 20
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
kháng và bao phủ lên A. samodicida [48]. J Brunt and B Austin tiến hành thí
nghiệm trên cá hồi, ông tiến hành phân lập vi khuẩn trong ruột cá hồi và test với
hai chủng Lactococcus garvieae 29-99 và Streptococcus iniae 00-318. Vi khuẩn
được phân lập trên môi trường MRS và đònh danh bằng sinh hoc phân tử, tên là
Aeromonas sobria GC2. Khi tiến hành test hai Aeromonas sobria GC2 với
Lactococcus garvieae 29-99 và Streptococcus iniae 00-318 kết quả cho thấy
Aeromonas sobria GC2 có khả năng kháng Lactococcus garvieae 29-99 và
Streptococcus iniae 00-318 ( là hai chủng gây bệnh chết ở cá hồi và được phân
lập Viện Nghiên Cứu Thủy Sản ). Sau đó tiến hành thực nghiệm, bổ sung thức ăn
cá hồi bò bệnh với liều lượng 5x10
-7
tế bào/ gam thức ăn, kết quả thiệt hại 75%
đến 100% khi không bổ sung probiotics vào thức ăn, nhóm điều trò thì thiệt hại từ
0- 6% [13]. Một nghiên cứu về khả năng sống sót của tôm Litopenaeus vannamei
sau khi bò nhiễm Virio harveyi, tác giả phân lập vi khuẩn lactic từ ruột tôm trưởng
thành tại trường đại học Santa Catarina, Brazil, chọn các khuẩn lạc hình cầu và
xác đònh hình thái bằng phương pháp nhuộm gram. Các vi khuẩn phân lập được

Clostridium perfringens, giảm khả năng hoạt động của vi khuẩn phân hủy urê,
tổng hợp vitamin, kích thích hệ thống miễn dòch, duy trì hệ vi sinh đường ruột,
hòan thiện hệ tiêu hóa [43].
Những sản phẩm probiotics đã được biệt đến rất nhiều qua các sản phẩm
sữa lên men và sản phẩm bơ sữa. Các sản phẩm probiotics được ứng dụng trong
chăn nuôi ở các nộng trại chỉ được giới thiệu cách nay khoảng hai thập niên với
mong đợi là giúp nâng cao hệ thống miễn dòch chống lại các tác nhân gây bệnh.
Việc sử dụng probiotics đã được quan tâm rất nhiều đặc biệt ở các quốc gia phát
triển như châu Âu đã ngăn cấm sử dụng kháng sinh ngăn ngừa và trò bệnh cho
động vật nuôi [43].
Gia cầm: Sản xuất gia cầm thu lãi rất cao, do lợi nhuận mà các chủ trang
trại không quan tâm đến sức khỏe con người mà sử dụng kháng sinh một cách
bừa bãi, do đó việc cấm sử dụng thưốc kháng sinh ở châu Âu vào ngày 1 tháng 1
SVTH: Nguyễn Hoàng Ân Trang 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hoài Hương
năm 2006 ở các trang trại chăng nuôi gia cầm đã được ban hành. Một trong những
thành công của chế phẩm probiotics sử dụng trong chăn nuôi gia cầm là Bacillus
subtilis với tên thương mại là CloSTA
TM
. Chế phẩm này giúp hoàn thiện khả năng
phát triển của vật nuôi. B. subtilis còn được biết đến có khả năng ngăn cản sự
phát triển của các vi khuẩn gây bệnh trong hệ tiêu hóa của gà. B. subtilis PB6,
Streptococcus pneumonia đã được chứng minh rằng có khả năng giết Clostridium
perfringens, Campylobacter jejuni,. Các chế phẫm của B. subtilis thường được
bảo quản ở các dạng viên nén. Các chế phẩm probiotics có thể chỉ chứa một loài
như Enterococcus faecium với tên thương mại là Protexin
®
, nhưng đồng thời cũng
có thể là sự kết hợp của nhiều loài thuộc các chi như Lactobacillus,
Streptococcus, Enterococcus. Cơ chế bảo vệ của probiotics ở gia cầm chủ yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status