Giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Pdf 15

MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ viết tắt 4
Danh mục Biểu đồ, sơ đồ, Bảng sử dụng trong Luận văn 5
Lời mở đầu 6
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

8
1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng 8
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 8
1.1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng 9
1.2 Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 10
1.2.1 Quan niệm về nợ xấu 10
1.2.1.1 Quan niệm của một số nước 10
1.2.1.2 Quan niệm của Việt Nam 12
1.2.1.3 Quan niệm của tác giả 13
1.2.2 Nguyên nhân gây ra nợ xấu 14
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan 14
1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 18
1.2.3 Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động NHTM và nền kinh tế 21
1.2.3.1 Đối với ngân hàng 21
1.2.3.2 Đối với nền kinh tế 22
1.2.4 Các biện pháp hạn chế nợ xấu có thể được áp dông 23
1.2.4.1 Thực hiện đúng các quy định về an toàn tín dụng 23
1.2.4.2 Xây dựng chính sách và quy trình phân tích tín dụng hợp lý,
khoa học
23
1.2.4.3 Nâng cao công tác phân tích đánh giá khách hàng 23

2.2.3 Các biện pháp hạn chế nợ xấu đã được áp dụng tại NHNT Việt
Nam
48
2.3 Đánh giá về công tác hạn chế nợ xấu tại NHNT Việt Nam 51
2.3.1 Kết quả đạt được 51
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
2.3.2.1 Hạn chế 59
2.3.2.2 Nguyên nhân 61
CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NHNT
VIỆT NAM
66
3.1 Phương hướng hoạt động của NHNT trong thời gian tới 66
3.1.1 Mục tiêu 66
3.1.2 Mô hình tập đoàn tài chính 67
3.2 Các giải pháp hạn chế nợ xấu tại NHNT Việt Nam 71
3.2.1 Nâng cao năng lực tài chính 71
3.2.2 Tiếp tục đánh giá khách hàng dùa trên tiêu chí thống nhất 71
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định phương án vay vốn 72
3.2.4 Tiếp tục thực hiện chuyển đổi mô hình phục vụ hướng tới
khách hàng
73
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực chấm điểm và xếp hạng tín
dụng
75
3.2.6 Mở rộng đối tượng khách hàng và đa dạng hoá sản phẩm 75
3.2.7 Xây dựng một quy trình xử lý nợ xấu khoa học, thống nhất 75
3.2.8 Tiếp tục xây dựng một đội ngò cán bộ tâm huyết, đạo đức và
trình độ cao
79

14. Ủy ban Nhân dân UBND
15. Quản lý rủi ro tín dụng QLRRTD
16. Giới hạn tín dụng GHTD
17. Sản xuất kinh doanh SXKD
18. Ngân sách Nhà nước NSNN
3
19. Danh mục tín dụng DMTD
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng Trang
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn của NHNT38
38
Bảng 2.2: Dư nợ và tổng tài sản NHNT 1999-200339 39
Bảng 2.3: Lợi nhuận của NHNT từ 1999-200340
40
Bảng 2.4: Nợ xấu/Tổng dư nợ của các NHTM43
43
Bảng 2.5:Nợ xấu của NHNT thời điểm 31.12.200044 44
Bảng 2.6: Phân loại nợ xấu thời điểm 31.12.2000 theo nhóm của NHNT45 45
Bảng 2.7:Tổng hợp nợ xấu tại NHNT 2000-200346 46
Bảng 2.8: Quỹ DPRR và sử dụng quỹ DPRR của NHNT 2000-200351
51
Bảng 2.9: Cơ cấu danh mục tài sản thế chấp, cầm cố tại NHNT54 54
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản NHNT năm 2000-200337 37
Biểu đồ 2.2: Dư nợ / Tổng tài sản của NHNT42 42
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ xấu tín dụng NHNT tại 31.12.200045 45
Biều đồ 2.4: Nợ xấu / Dư nợ47 47
4
Sơ đồ:

- Trình bày những vấn đề về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM và
nghiên cứu quá trình hình thành và phát sinh nợ xấu.
- Đánh giá tình hình nợ xấu và hạn chế nợ xấu tại NHNT Việt Nam thời gian qua.
Phân tích các nguyên nhân phát sinh nợ xấu và tồn tại trong công tác hạn chế
nợ xấu tại NHNT Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp đồng bộ để hạn chế nợ xấu trong tương lai tại NHNT Việt
Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nợ xấu của NHTM trong họat động tín
dụng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về thực trạng nợ xấu trong
hoạt động tín dụng tại NHNT Việt Nam trong giai đoạn 2000-2003.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp
các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp phân tích hệ thống, thống kê và so sánh để tiến hành
nghiên cứu đề tài.
5. Kết cấu của luận văn
6
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT

đã thường xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá nhân này,
trong khi đó ở các tổ chức cá nhân khác lại thiếu vốn cần được bổ sung. Hiện tượng
thừa vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu
nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức, cá nhân trong khi quá trình tái sản xuất đòi hỏi
phải được tiến hành liên tục. Tín dụng thương mại cũng đã giải quyết quan hệ trực
tiếp giữa các doanh nghiệp cần tiêu thụ hàng hóa với các doanh nghiệp có nhu cầu
sử dụng hàng hóa mà chưa có tiền. Nhưng do hạn chế của tín dụng thương mại đã
không đáp ứng được nhu cầu vay vốn với khối lượng, thời hạn khác nhau. Chỉ có
Ngân hàng chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu
thuẫn khi Ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi huy động vừa giữ vai trò là người
cho vay.
1.1.2 Rủi ro tín dụng Ngân hàng
Đây là rủi ro cần được đề cập trước tiên đối với Ngân hàng. Ngân hàng cho
vay và đầu tư chứng khoán, những tài sản mà không có gì khác hơn một cam kết
thanh toán. Khi người vay tiền không thể thanh toán được vốn và lãi, những khỏan
cho vay, đầu tư không thể thu hồi này cuối cùng sẽ ăn mòn hết vốn của ngân hàng.
Bởi vì vốn chủ sở hữu của ngân hàng thường thấp hơn 10% các khoản cho vay và
đầu tư chứng khoán nên chỉ cần một lượng nhỏ các khỏan cho vay và đầu tư trở nên
không thể thu hồi được thì vốn ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm, không
đủ để gánh chịu thêm bất cứ khỏan thua lỗ nào khác. Trong tình trạng này ngân
hàng sẽ phải tuyên bố phá sản và đóng cửa trừ khi những nhà chức trách đồng ý duy
trì nó ở tình trạng “lơ lửng” cho đến khi tìm được tổ chức đồng ý mua lại ngân
hàng.
8
Nói chung, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, hoặc không trả
đúng hạn, hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài
trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích, đánh giá người vay sao cho độ an toàn là
cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín

Dưới tiêu
chuẩn
- Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả
năng trả nợ
- Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại
- Quá hạn từ 90-180 ngày
Đáng ngờ - Không chắc thu hồi được toàn bộ nợ dùa trên các điều kiện
hiện tại.
- Có khả năng thất thoát.
- Qúa hạn từ 180-360 ngày
Mất - Các khoản vay không thu hồi được
- Luôn có khả năng thu hồi lại một phần
- Quá hạn hơn 360 ngày.
(Nguồn: The Bank Credit Analysis Handbook, author Jonathan Golin)
Bản chất của cách phân chia này là luôn căn cứ vào 02 yếu tố định tính và
định lượng của một khoản vay. Định tính là các yếu tố liên quan đến rủi ro của
khoản vay, định lượng là ngày qúa hạn của khoản vay. Theo đây, tất cả các khoản
vay mà từ mức dưới tiêu chuẩn trở xuống thì được gọi là nợ xấu.
• Quan niệm của ngân hàng liên minh Châu Âu
Chưa có một khái niệm đầy đủ về “ Nợ xấu” trong hoạt động của các ngân
hàng thương mại, các Ngân hàng lớn trên thế giới thì xây dùng cho mình một tiêu
chí riêng để theo giõi và giám sát. Tuy nhiên, theo một số tiêu chí của Ngân hàng
trung ương Liên minh Châu Âu thì có thể xác định nợ xấu trong hoạt động của các
Ngân hàng thương mại như sau:
a. Nợ xấu là những khoản nợ không thể thu hồi được như:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi
bồi thường từ người mắc nợ.
- Người mắc nợ bỏ trèn hoặc bị mất tích, không có gia tài hoặc tài sản giữ lại
để thanh toán nợ.
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng

Công cuộc cải cách kinh tế tại Việt Nam được thực hiện từ năm 1986 và đã
mang lại nhiều thành tựu kinh tế trên mọi mặt trong thập kỷ 90. Cùng với tiến trình
cải tổ, hệ thống ngân hàng cũng đã được đổi mới đáng kể. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn
là một nước nghèo và lạc hậu so với các nước trong khu vực trên nhiều phương
diện. Riêng hệ thống tài chính trong nước với các Ngân hàng chiếm đa số, còn
nhiều yếu kém và chưa đủ năng lực huy động các nguồn lực cần thiết cho nhu cầu
tăng trưởng kinh tế. Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là các Ngân hàng thương mại
11
chưa thực sự lành mạnh, nợ xấu còn tồn đọng nhiều và có chiều hướng gia tăng từ
sau năm 1997. Hiện tại, Việt Nam đang thực hiện chương trình cơ cấu lại các Ngân
hàng thương mại. Trong đó, bên cạnh việc tăng vốn, cơ cấu lại nợ khó đòi, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cũng đề ra yêu cầu ngăn chặn nợ xấu phát sinh trong
những năm tới đối với các Ngân hàng thương mại.
Về vấn đề nợ xấu, trong các sách giáo khoa tài chính nước ngoài, người ta đã
đưa ra một số định nghĩa về nợ quá hạn như: Nợ xấu, nợ quá hạn, nợ có vấn đề.
Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ hầu như khó có khả năng được thanh toán đầy đủ
và phần lớn bắt buộc phải xử lý bằng bót toán xóa nợ.
Ở Việt Nam dường như không có định nghĩa thống nhất về nợ xấu. Điều đó
có nghĩa là mặc dù hoạt động ngân hàng đã được chuyển sang kinh doanh theo cơ
chế thị trường nhưng Việt Nam vẫn chưa có một văn bản pháp quy nào chính thức
thừa nhận khái niệm nợ xấu. Ngoài ra, điều đó cũng nói lên rằng, nợ quá hạn ở Việt
Nam đã tồn tại khá nhiều năm trong hệ thống Ngân hàng mà chưa có những giải
pháp xử lý thống nhất và bài bản.
Tuy nhiên, một số văn bản của Ngân hàng Nhà nước cũng có những quy
định gián tiếp đề cập đến nợ quá hạn. Theo Điều 13, Quy chế cho vay của tổ chức
tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định 1627/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001), “khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ
đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi hoặc không được
gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ
quá hạn”.

phủ chưa xử lý dứt điểm. Loại nợ này gây khó khăn lớn cho các ngân hàng do
không thu hồi được vốn và không được thanh toán lãi trong thời gian từ 3 đến 5
năm.
- Nợ cho vay bắt buộc: Là những khoản cho vay bảo lãnh của ngân hàng đã quá
hạn thanh toán.
- Nợ chờ xử lý: Bao gồm những khoản nợ quá hạn có tài sản bảo đảm hoặc có bảo
lãnh của bên thứ ba mà khách hàng vay không có khả năng trả nợ cho ngân
hàng. Ngân hàng được quyền sử dụng tài sản đã được thế chấp và cầm cố thay
cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Nhưng những tài sản này còn đang trong
thời gian chờ phán quyết của Tòa án hoặc con nợ chưa giao cho ngân hàng.
13
- Nợ tài sản xiết nợ: Đó là những khoản nợ quá hạn của ngân hàng có tài sản bảo
đảm, khi khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng xiết nợ tài sản này thay
cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng.
- Nợ ngân sách: Đó là các khoản nợ cho vay theo chỉ định của Chính phủ đã tồn
đọng lâu ngày mà chưa đối chiếu được với Bộ Tài chính.
1.2.2 Nguyên nhân gây ra nợ xấu.
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan
a. Rủi ro từ phía Khách hàng vay vốn
Đây là nguyên nhân trực tiếp thường gặp làm phát sinh nợ xấu. Khi khách
hàng gặp khó khăn trên thị trường đầu vào do giá cả nguyên vật liệu tăng đột biến,
khan hiếm nguyên vật liệu làm tăng giá thành sản phẩm, giảm khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường, hoặc sự suy giảm nhu cầu trên thị trường đầu
ra v v khiến khách hàng lâm vào tình trạng thua lỗ, đình đốn gây ra tình trạng
mất khả năng thanh toán các khoản vay của ngân hàng. Ngoài ra, sự yếu kém trong
kinh doanh của khách hàng như: chiến lược kinh doanh không hợp lý, quản lý vốn
lỏng lẻo, trình độ cán bộ quản lý bất cập hay từ sự cố tình muốn chiếm đoạt vốn của
khách hàng cũng dẫn đến nguy cơ không có khả năng trả nợ Ngân hàng. Đâu là
thực trạng thường gặp tại các nước đang phát triển khi nền kinh tế đang có những
bước chuyển biến sâu sắc, các lĩnh vực kinh doanh còn bỏ ngỏ, cơ hội nhiều và rủi

nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Các khách hàng
thua lỗ và mất khả năng thanh toán sẽ làm cho danh mục nợ qúa hạn trong bảng cân
đối kế toán của NHTM dài thêm.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và quốc tế trong môi
trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các Ngân hàng trong nước với hệ thống
quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ quá hạn tăng lên bởi nhiều khách hàng
có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các Ngân hàng nước ngoài thu hót.
Thứ ba: Biến động xấu của nền kinh tế thế giới
Trong xã hội hiện đại, nền kinh tế của mỗi quốc gia gắn chặt với nền kinh tế
thế giới do các quan hệ đan xen nhiều chiều. Mỗi biến động của nền kinh tế thế giới
đều tác động mạnh tới nền kinh tế của các quốc gia trên mọi lĩnh vực.
Tài chính ngân hàng là một lĩnh vực có tính quốc tế cao nên sự bất ổn của
lĩnh vực này dễ dàng gây ra phản ứng dây chuyền trên phạm vi rộng. Cuộc khủng
15
hoảng tài chính khu vực Châu Á trong những năm 90 của thế kỷ trước là một minh
chứng cụ thể. Cuộc khủng hoảng này đã gây ra cú sốc lớn cho nền kinh tế khu vực
và nền kinh tế thế giới. Hàng loạt các tập đoàn, công ty, Ngân hàng đã sụp đổ dây
chuyền do thua lỗ và mất khả năng thanh toán. Sự suy thoái của nền kinh tế và hiệu
quả đầu tư kém làm cho tình trạng nợ xấu càng phổ biến hơn. Hậu qủa là từ cuối
năm 90 của thế kỷ XX. Chính phủ của hầu hết các nước Châu Á đều phải tập trung
các biện pháp nhằm giải quyết nợ xấu do gánh nặng đã vượt quá tầm giải quyết của
các Ngân hàng.
Mặt khác, tài chính ngân hàng còn là một lĩnh vực có tính nhạy cảm rất cao
do vai trò quan trọng của nó trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế – xã hội.
Sự bất ổn của nền kinh tế thế giới có tác động trực tiếp tới hoạt động tài chính trên
thế giới và nền kinh tế mỗi quốc gia. Từ đó gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động tài
chính ngân hàng của mỗi quốc gia, mà đầu tiên là gia tăng nợ xấu. Chẳng hạn như
sự suy thoái của nền kinh tế có thể khiến một quốc gia thay đổi chính sách nhập
khẩu theo chiều hướng bảo hộ hàng trong nước hoặc giảm lượng nhập khẩu. Điều
này có thể gây ra sự phá sản của doanh nghiệp xuất khẩu và tác động đến lượng nợ

đang phát triển. Sự bất cập chồng chéo của các luật có ảnh hưởng tới hoạt động
Ngân hàng khiến các cơ quan hữu quan lúng túng trong việc xử lý các tranh chấp về
tài sản bảo đảm: Các quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán, thống kê chưa
đủ sức mạnh thực hiện nên số liệu không đủ cơ sở vững chắc để thẩm định khi cho
vay: Tín dụng thương mại đang trở thành phổ biến trong giao dịch thương mại
nhưng chưa có các chế định tương ứng nên xảy ra các tình trạng chiếm dụng vốn,
lừa đảo là các nguyên nhân sâu xa của sự phát sinh và gia tăng nợ xấu.
c. Các khoản vay phục vụ chính sách của Chính phủ
Ở những giai đoạn nhất định, Chính phủ của một số quốc gia có thể can
thiệp, chỉ định cho NHTM thực hiện một số khoản nợ cho vay theo chính sách của
Chính phủ. Hầu hết các khoản vay này là các khoản vay mà bản thân các NHTM
không đủ cơ sở để tự quyết định đầu tư. Do phục vụ các chính sách kinh tế – xã hội
nên các khỏan vay này có hiệu quả kinh doanh đối với ngân hàng thấp, độ rủi ro cao
và khả năng bảo đảm cho khoản vay của khách hàng là rất hạn chế. Các khoản vay
thuộc nhóm này chủ yếu phục vụ các đối tượng có thu nhập thấp trong nền kinh tế
hoặc bảo hộ hoạt động của các ngành hàng đang gặp khó khăn nên có nguy cơ tồn
đọng rất cao. Cũng có trường hợp khách hàng là những doanh nghiệp, tập đoàn lớn,
song do việc vay vốn quá lớn lại hoạt động không hiệu quả nên mất khả năng không
trả nợ được Ngân hàng.
17
Ở các nước có tình trạng này, như Việt Nam chẳng hạn, các NHTM rất lúng
tùng trong việc xử lý loại nợ xấu này và đa phần phải trông chờ vào sự trợ giúp của
Chính phủ. Tuy vậy, việc xử lý thường tốn thời gian nên ảnh hưởng không nhỏ tới
kết quả kinh doanh và uy tín của bản thân NHTM khi gánh nặng nợ xấu quá lớn
trên bảng tổng kết tài sản.
1.2.2.2 Các nguyên nhân chủ quan phát sinh nợ xấu
Đây là nhóm nguyên nhân quan trọng trong việc phát sinh nợ xấu. Đa số các
khoản nợ xấu có thể phòng tránh nếu bản thân Ngân hàng chủ động hạn chế tốt các
nguyên nhân chủ quan. Điều này được phản ánh qua thực tế hoạt động của nhiều
Ngân hàng trên thế giới với tỷ trọng nợ xấu chiếm ở mức rất thấp trong tổng dư nợ

vào tình trạng khó khăn trong kinh doanh, mất khả năng hoàn trả vốn. Nguyên nhân
này có thể làm phát sinh nợ xấu trong tòan bộ nền kinh tế và hậu quả là sự đổ vỡ
của các TCTD. Thực tế đó đã từng diễn ra ở Việt Nam trong những thập kỷ 80-90
của thế kỷ XX khi xẩy ra sự tăng vọt của lãi suất vay vốn của các NHTM và Quỹ
tín dụng nhân dân. Hậu quả là sự sụp đổ của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và sự
khủng hoẳng nặng nề của hệ thống NHTM khi gánh nặng nợ xấu vượt ra ngoài khả
năng kiểm soát.
b. Cơ chế trích lập và sử dụng DPRR không hợp lý
Nguồn DPRR được trích lập hàng năm của Ngân hàng được xác định là một
nguồn quan trọng để Ngân hàng bù đắp những mất mát khi không thu hồi được nợ.
Ngân hàng sử dụng quỹ DPRR để xử lý các khoản nợ theo danh mục cụ thể khi đáp
ứng những điều kiện trong quy định của từng quốc gia.
Do được quy định không thống nhất nên cơ chế trích lập và sử dụng DPRR ở
mỗi nước đều có sự khác biệt về nguồn trích lập và tỷ lệ trích lập và danh mục trích
lập dự phòng, cũng như tỷ lệ và danh mục nợ xấu được xử lý từ quỹ DPRR. Sự bất
hợp lý trong trích lập và sử dụng DPRR của NHTM là một trong các nguyên nhân
làm cho nợ qúa hạn không được xử lý dứt điểm. Khối lượng nợ ngày càng chồng
chất khiến Ngân hàng ngày càng ngập sâu vào gánh nặng nợ xấu, đe dọa hoạt động
và làm suy giảm uy tín của Ngân hàng. Chẳng hạn, ở Việt Nam trước đây, cơ chế
trích lập dự phòng từ nguồn lợi nhuận sau khi nép ngân sách đã không đáp ứng đủ
yêu cầu để NHTM bù đắp những tổn thất do nợ không thu hồi được. Hậu quả là nợ
quá hạn ngày càng dồn lại, tích tụ từ năm này qua năm khác khiến cho các NHTM
lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ xấu.
c. Trình độ yếu kém của đội ngò cán bộ, nhân viên Ngân hàng
19
Nguồn nhân lực với kinh nghiệm non kém khiến các Ngân hàng có thể đưa
ra quyết định cho vay sai lầm, bởi vì sự an toàn của các khoản vay không chỉ phụ
thuộc vào các quy định cho vay mà còn phụ thuộc vào bản thân hoạt động của
khách hàng. Việc đánh giá khách hàng không chỉ đơn thuần dùa trên các con số báo
cáo mà còn cần dùa trên các kinh nghiệp thực tiễn, phân tích và phán đoán về khả

cầu nối giữa cung và cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Do đó, một sự biến động của
Ngân hàng sẽ ảnh hưởng xấu đến chính hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nợ xấu
là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra. Sau đây là một số tác động xấu
đến Ngân hàng.
Thứ nhất: làm giảm lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của Ngân hàng, lợi
nhuận được hình thành từ những khỏan thu của Ngân hàng mà những khoản thu này
chủ yếu thu từ lãi cho vay. Nợ xấu tăng tác động đến lợi nhuận Ngân hàng trên hai
khía cạnh đó là:
- Đã phát sinh nợ xấu thì lãi của những khỏan nợ xấu khó có thể thu được hay thu
không bao giê đủ do đó sẽ làm giảm thu nhập kinh doanh của Ngân hàng.
- Phát sinh nợ xấu tất yếu Ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay
đó, tức là làm tăng chi phí của Ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận.
Thứ hai: ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh: Các khoản
vay của khách hàng không được thanh toán đúng hạn, hay khi chuyển sang quá hạn
thì việc thu nợ đã không đúng theo kế hoạch của Ngân hàng gây ra thiếu hụt so với
dự tính của kế hoạch. Sự việc này chỉ trong một giới hạn nhất định, song nếu vượt
qua một giới hạn cho phép Ngân hàng sẽ dơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán, và không có kế hoạch cho tương lai.
Thứ ba, làm mất uy tín của Ngân hàng: Những ảnh hưởng xấu của nợ xấu dẫn đến
lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm nó có tác động sâu sắc tới tâm lý
khách hàng “Hiệu ứng khách hàng” kể cả là khách hàng cá thể, doanh nghiệp hay
các Ngân hàng đối tác của ta. Trong lĩnh vực Ngân hàng uy tín tuyệt đối quan trọng,
nó quyết định sự sống còn, tồn tại và phát triển một Ngân hàng.
Thứ tư, không duy trì được đội ngò nhân viên: khi một ngân hàng làm ăn không
hiệu quả, hay để tình trạng nợ xấu nhiều sẽ gây tâm lý hoang mang cho không
những khách hàng mà còn cho chính nhân viên Ngân hàng, sẽ không giữ được
những người làm việc có hiệu quả ở lại. Đây là một chi phí rất lớn cho ngân hàng
21
Thứ năm, mất cơ hội hội nhập: Tình trạng tài chính xấu, không minh bạch do vậy
mà Ngân hàng không dám công khai tài chính. Đồng nghĩa với việc không mở cửa

tài trợ, điều kiện ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ. Ví dụ như, cho vay một khách
hàng không vượt qua 15% vốn chủ sở hữu của ngân hàng, không được cho vay đối
với thành viên HĐQT ngân hàng đó làm được đúng điều này cũng phần nào giảm
thiểu được rủi ro phát sinh nợ xấu cho ngân hàng.
1.2.4.2 Xây dựng chính sách tín dụng và qui trình phân tích tín dụng hợp lý,
khoa học
Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng, đòi hỏi phải
có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểm soát
chung. Chính sách tín dụng với mục tiêu chính là mở rộng tín dụng đồng thời hạn
chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng. Chính sách tín dụng
nhằm hạn chế rủi ro như: chính sách tài sản bảo đảm, bảo lãnh, đồng tài trợ chính
sách quản lý rủi ro
Qui trình phân tích tín dụng do Ban Giám đốc ngân hàng quyết định, được
xây dựng một cách chi tiết va quán triệt từ trên xuống. Nó thể hiện những nội dung
mà cán bộ tín dụng phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế rủi ro như phân tích
tình hình sản xuất kinh doanh, thẩm định dự án vay, lịch sử người vay, mục đích
vay, kiểm soát trong khi cho vay Bên cạnh chính sách và qui trình nhằm hạn chế
rủi ro tín dụng ngân hàng còn xây dựng qui chế kiểm tra, phân định trách nhiệm và
quyền hạn, khen thưởng và kỷ luật đối với các nhân viên tín dung.
1.2.4.3 Nâng cao công tác phân tích, đánh giá khách hàng
Trước khi phát tiền vay, ngân hàng cần phải hiểu rõ về khách hàng vì khách
hàng là người chịu trách nhiệm sử dụng và hoàn trả vốn vay, là người quyết định
cuối cùng về hiệu quả của khỏan tiền vay. Vì vậy đánh giá khách hàng là một biện
pháp quan trọng nhằm phòng ngõa và hạn chế nợ xấu trong kinh doanh tín dụng
ngân hàng. Nếu ngân hàng không tiến hành đánh giá khách hàng hoặc đánh giá
không chính xác sẽ dẫn đến hiện tượng cho khách hàng không đủ điều kiện sử dụng
vốn của mình. Qua đánh giá khách hàng, ngân hàng thấy được khả năng tài chính
hiện tại, tiềm năng trong tương lai, khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng. Có
thể nói, việc phân tích, nghiên cứu khách hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó
tạo lập cơ sở ban đầu để cho ngân hàng làm căn cứ đưa ra những quyết định trong

quyết định đúng đắn đối với các khoản tín dụng phát ra.
24
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, ngân hàng sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ số giữa vốn tự có trên vốn sử dụng. Hạn chế không cho những doanh nghiệp
có quá Ýt vốn tự có vay.
- Chênh lệch các khoản phải thu, phải trả: cho biết tỷ lệ vốn đi chiếm dụng và vốn
bị chiếm dụng của doanh nghiệp. Xem xét, phân tích chỉ tiêu này, ngân hàng có
thể đánh giá ảnh hưởng của nó đến khả năng hoàn trả khoản vay đúng hạn, và
đảm bảo trả đúng hay không.
- Khả năng thanh toán của đơn vị: có ảnh hưởng rất lớn tới mức rủi ro trong một
khoản vay. Mét doanh nghiệp có khả năng thanh tóan tốt là có đủ khả năng trả
các khoản nợ khi đến hạn.
d. Phân tích các yếu tố phi tài chính: Như về trình độ quản lý, uy tín trong giao
dịch.
1.2.4.4 Nâng cao công tác phân tích dự án vay vốn của khách hàng
a. Phân tích tính pháp lý của dự án
Đây là bước đầu tiên cần thiết trong công việc phân tích dự án. Một dự án có
tính khả thi rất cao, có hiệu quả kinh tế nhưng không đủ tính pháp lý thì chắc chắn
nó sẽ không được thực hiện. Vì vậy khi quyết định cho vay, ngân hàng phải chọn
dự án có đầy đủ tính pháp lý.
Một dự án có tính pháp lý phải thỏa mãn điềukiện sau:
- Mục đích đầu tư của dự án phải phù hợp với mục đích hoạt động của doanh
nghiệp mà cấp có thẩm quyền đã phê duyệt.
- Dự án phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b. Phân tích tính khả thi của dự án
Ngân hàng phải xem xét, nghiên cứu điều kiện cần và đủ để cho một dự án
được thực thi. Đó là các điều kiện: đầy đủ nguyên vật liệu, nhân lực, có thị trường
tiêu thụ sản phẩm mà dự án sản xuất ra.
- Phân tích nguồn nguyên vật liệu: nguyên vật liệu trong dự án có thông dụng, dễ
kiếm, dễ tìm không, nguồn nguyên liệu là từ đâu, trong nước hay ngoài nước,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status