LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những thông tin và nội dung trong luận văn đều dựa trên nghiên cứu thực tế và
hoàn toàn đúng với nguồn trích dẫn.
Tôi xin khẳng định sự trung thực về cam kết trên.
Tác giả đề tài
Lữ Khánh Tòng
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ........................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2
3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 2
5. Đóng góp của luận văn ............................................................................................ 3
6. Kết cấu luận............................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.......................................................................................................... 4
1.1 Nợ xấu và các vấn đề liên quan .......................................................................... 4
1.1.1 Khái niệm nợ xấu ........................................................................................... 5
1.1.2 Phân loại nợ xấu ............................................................................................ 6
1.1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu ....................................................... 9
2.3 Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP An Bình ...................................... 37
2.4 Thực trạng công tác hạn chế nợ xấu và một số nguyên nhân dẫn đến nợ
xấu tại Ngân hàng TMCP An Bình .................................................................. 43
2.4.1 Thực trạng công tác hạn chế nợ xấu tại ABBANK. ................................... 43
2.4.1.1 Chính sách tín dụng.................................................................................43
2.4.1.2 Quy trình tín dụng..................................................................................46
2.4.1.3 Cơ chế cảnh báo, nhận dạng rủi ro và quy trình giám sát tín dụng........48
2.4.2 Một số nguyên nhân của nợ xấu tại Ngân hàng TMCP An Bình .……....50
2.5 Đánh giá thực trạng công tác hạn chế nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
Ngân hàng TMCP An Bình....................................................................................54
2.5.1. Những kết quả đạt được..............................................................................54
2.5.2.Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế................................55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH…………..……………….…………… ..59
3.1 Kế hoạch và mục tiêu phát triển của Ngân hàng TMCP An Bình...............59
3.1.1 Kế hoạch kinh doanh năm 2014 .................................................................. 59
3.1.2 Mục tiêu chiến lược của ABBANK đến 2018.............................................60
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác hạn chế nợ xấu tại Ngân
hàng TMCP An Bình .............................................................................................. 61
3.2.1 Hiện đại hóa và nâng cao chất lượng thông tin tín dụng..........................61
3.2.2 Xây dựng hệ thống nhận diện, cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu
thông qua việc hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và nâng cao vai
trò kiểm tra, giám sát tín dụng..............................................................................62
3.2.3 Hoàn thiện chính sách tín dụng và nâng cao tính tuân thủ quy trình tín
dụng.......................................................................................................................64
3.2.4 Nâng cao chất lượng, rèn luyện đạo đức nhân sự làm công tác tín
dụng.......................................................................................................................65
3.3. Xây dựng Trung tâm hỗ trợ tín dụng – Giải pháp hạn chế nợ xấu từ những
TSBĐ: Tài sản bảo đảm.
Tiếng Anh
ABBANK (An Binh Commercial Join Stock Bank): Ngân hàng thương mại cổ phần
An Bình.
AMC (Assets Management Company): Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
BCBS (Basel Committee on Banking Supervisor): Ủy ban Basel về giám sát ngân
hàng.
CIC (Credit Information Center): Trung tâm thông tin tín dụng.
NPL (Non-performing Loan): Nợ xấu.
SMEs (Small anh Medium Enterprise): Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế.
IAS (International Accounting Standards): Chuẩn mực kế toán quốc tế.
VAS (Vietnam Accounting Standards): Chuẩn mực kế toán Việt Nam.
VCCI (Vietnam Chamber of Commerce anh Industry): Phòng công nghiệp và
thương mại Việt Nam.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Cơ cấu dư nợ khách hàng theo định hướng 2014
45
38
Biểu đồ 2.4
Tỷ lệ nợ xấu của ABBANK qua các năm
39
Biểu đồ 2.5
Dự phòng rủi ro của ABBANK qua các năm
40
Biểu đồ 2.6
Cơ cấu nợ xấu theo nhóm
41
Biểu đồ 2.7
Cơ cấu nợ xấu theo đối tượng cho vay
41
Biểu đồ 2.8
Cơ cấu nợ xấu theo thời hạn vay
2.
Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ xấu, nợ xấu và các biện pháp
hạn chế nợ xấu nợ xấu của Ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng và những nguyên nhân gây ra nợ xấu, thực trạng về hạn
chế nợ xấu nợ xấu tại ABBANK.
2
- Đề xuất giải pháp hạn chế nợ xấu, đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng
hiệu quả và phát triển bền vững.
Để thực hiện các m ục tiêu nghiên cứu đề tài , cần tập trung giải quyết các câu
hỏi sau:
- Cơ sở khoa học cho vấn đề hạn chế nợ xấu tại ABBANK là gì?
- Thực trạng nợ xấu và hoạt động hạn chế nợ xấu tại ABBANK hiện nay như
thế nào?
- Để nâng cao hi ệu quả hoạt động hạn chế nợ xấu tại ABBANK cần phải làm
gì?
3.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu thống kê phần lớn được tác giả thu thập trong quá trình công tác
tại ABBANK. Ngoài ra các tài liệu, số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài còn đư ợc
thu thập thông qua các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo của Ngành ngân hàng và các
Bộ, Ngành khác có liên quan.
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TMCP An Bình
Chương 3: Giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TMCP An Bình
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1 Nợ xấu và các vấn đề liên quan
1.1.1 Khái niệm nợ xấu
Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing
loan” (NPL), thông thường nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể
quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ,
điều này thường xảy ra khi khách hàng vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài
sản. Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu như sau:
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
“Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi
và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến
90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán
dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy
đủ". Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn
và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS)
BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng
dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác
định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả
hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ
trả nợ như đã cam kết dẫn đến gây thiệt hại cho ngân hàng.
Nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Trước hết, nợ
xấu vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, và tính hoàn trả đầy đủ,
sau nữa, nó gây nên sự mất lòng tin của người cấp tín dụng đối với khách hàng nhận
tín dụng.
Tuy việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, là vấn đề mà tất cả các
NHTM trên thế giới phải đối mặt, nhưng nếu tỷ nợ xấu quá cao, hoạt động ngân
hàng sẽ bị tê liệt vì các ngân hàng không có vốn để thanh toán cho người gửi tiền
khi đến hạn. Ở mức độ trầm trọng sẽ dẫn tới sự phá sản ngân hàng, do đó vấn đề
6
quản lý nợ xấu, ngăn ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu là một công tác hết sức quan
trọng tại các NHTM.
1.1.2 Phân loại nợ xấu
Hiện có 02 phương pháp phân loại nợ xấu được áp dụng tại các NHTM đó là
phương pháp định lượng (đánh giá dựa trên số ngày quá hạn) và phương pháp định
tính (dựa trên khả năng thu hồi nợ).
Theo quyết định 493/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày
22/4/2005 về phân loại nợ; trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng, và theo quyết đinh số 18/2007 QĐ – NHNN
ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi; bổ sung một số điều của quyết định 493 thì nợ
được phân lại theo phương pháp định lượng bao gồm 05 nhóm, trong đó những
khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 là nợ xấu (tại nội dung Điều 6).
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 điều
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này
được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá
là khả năng tổn thất cao.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn”.
Sự khác biệt trong phân loại nợ xấu ở Việt Nam
Thời gian qua, có một thực tế là sự khác biệt giữa con số về quy mô nợ xấu
của Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hoặc các NHTM Việt Nam công
bố và các tổ chức nước ngoài công bố là rất lớn .Ví dụ năm 2011, tỷ lệ nợ xấu trong
toàn hệ thống do NHNN công bố là 3,1% nhưng theo tính toán của các tổ chức
nước ngoài, thì con số này sẽ cao hơn nhiều lần, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch đưa
ra con số tương ứng là 13%. Hay vào thời điểm 30/09/2012 tỷ lệ nợ xấu của Việt
Nam theo đánh giá của Fitch Ratings ước khoảng 15% tổng dư nợ, còn theo
8
Baclays cho rằng tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam ở mức 20% , trong khi đó theo số liệu
tổng hợp của các TCTD là 4.93% và số liệu của NHNN là 8.86%. Sở dĩ có sự khác
biệt rất lớn này chủ yếu có thể là do các nguyên nhân sau:
Sự khác biệt cách phân loại nợ xấu ở Việt Nam và quốc tế. NHNN và các
NHTM Việt Nam phân loại nợ xấu dựa vào Tiêu chuẩn Kế toán Việt Nam (VAS)
trong khi đó các tổ chức quốc tế sử dụng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS) để phân
loại nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam. Điều này được thể hiện qua khái niệm về
nợ xấu được đề cập ở mục trên. Theo Quyết định 18, sửa đổi Quyết định 493 của
NHNN tại điều 6 và điều 7, nợ xấu được xác định căn cứ vào số ngày quá hạn và
khả năng trả nợ của khách hàng. Như vậy, nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố định
lượng và định tính – đây được coi như định nghĩa của VAS.
nợ xấu của ngân hàng. Chỉ tiêu này chưa cho biết tỷ trọng của nợ có khả năng thu
hồi và không có khả năng thu hồi trong tổng nợ xấu do vậy nó không phải là một
chỉ tiêu phản ánh chính xác thực trạng nợ xấu của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/ Tổng dư nợ: đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro
tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng đối mặt với rủi ro tín
dụng càng cao. Theo thông lệ quốc tế thì ngưỡng an toàn về tỷ lệ nợ xấu là dưới
3%. Và NHNN lấy tỷ lệ nợ xấu dưới 3% làm tiêu chuẩn đánh giá trong Quy định về
các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động TCTD (Theo quyết định số 06/2008/QĐNHNN ngày 12/03/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam “V/v ban hành quy định
xếp loại Ngân hàng Thương mại cổ phần”, các NHTM đạt điểm tối đa về chất
lượng tín dụng khi có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ ≤ 3%).
- Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng/ Nợ xấu: tỷ lệ này cho biết khả năng bù đắp
nợ xấu của quỹ dự phòng rủi ro. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ dự phòng rủi
ro bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân
hàng càng lớn và ngược lại. Tùy theo cấp độ rủi ro mà ngân hàng phải trích lập rủi
ro từ 0%-100% giá trị từng khoản vay (sau khi trừ đi giá trị tài sản đảm bảo). Nếu
ngân hàng cho vay với danh mục càng rủi ro thì tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro càng
cao, thông thường tỷ lệ này dao động khoản từ 0% đến 5%/ tổng dư nợ (Nguyễn
Văn Tiến, 2012, trang 312).
- Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng giá trị tài sản đảm bảo: xử lý tài sản bảo đảm là công cụ
hữu hiệu trong việc xử lý nợ xấu, do vậy chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hồi các
10
khoản nợ xấu bằng xử lý tài sản bảo đảm. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ việc nợ
xấu có khả năng thu hồi càng cao và ngược lại. Ngoài ra, tùy theo tình hình cụ thể
của mỗi ngân hàng ở các nền kinh tế khác nhau, trong từng thời kỳ mà có thể có các
chỉ tiêu khác để đánh giá thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp
lý
1.1.4 Nguyên nhân và tác động của nợ xấu
gần như là chắc chắn. Ngược lại, khi nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, sức mua
giảm sút, người đi vay vốn sẽ rất khó trong tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn. Do
vậy khả năng trả nợ ngân hàng giảm sút, dẫn tới nợ xấu tại ngân hàng cho vay. Vấn
đề lạm phát, vấn đề thất nghiệp, vấn đề tỷ giá… cũng là nguyên nhân có tác động
mạnh đến hoạt động của ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế và cũng
vì thế là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu cho ngân hàng.
- Môi trường tự nhiên: những nguyên nhân từ môi trường tự nhiên như thiên
tai địch họa, động đất núi lửa, lũ lụt, dịch bệnh… gây ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp
tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của khách hàng vay vốn ngân
hàng, làm suy giảm khả năng trả nợ vay ngân hàng cũng là nguyên nhân gây ra nợ
xấu.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Sự yếu kém trong công tác quản lý rủi ro tín dụng: chính sách cho vay của
một ngân hàng là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động tín dụng cho ngân hàng đó,
một chính sách cho vay thống nhất, đồng bộ, đúng đắn sẽ giúp cho các ĐVKD xác
định phương hướng đúng khi thực hiện nghiệp vụ cho vay giúp nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh. Ngược lại, một chính sách cho vay không rõ ràng, không phù
hợp với thực trạng của nền kinh tế sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ tiềm ẩn rủi ro và đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu cho ngân hàng. Chính sách cho
vay được hiểu theo nghĩa đầy đủ bao gồm: định hướng cho vay, tốc độ tăng trưởng
tín dụng , tỷ trọng tín dụng ngắn-trung-dài hạn, các quy định về đối tượng, nhóm
khách hàng vay, quy định về đảm bảo tiền vay, về các ngành nghề, lĩnh vực ưu
tiên... Với cơ cấu cho vay không hợp lý hay tập trung cho vay quá nhiều vào các
lĩnh vực trong nền kinh tế như: bất động sản, chứng khoán, kinh doanh vàng... nên
12
khi nền kinh tế xảy ra bất ổn dẫn đến sự suy giảm giá trị tài sản, thì các khoản nợ
này khó có thể thu hồi đầy đủ.
trong quản trị ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, mà còn tiềm ẩn rủi ro
đạo đức rất lớn. Hơn bao giờ hết, ngành ngân hàng phải giáo dục đạo đức nghề
nghiệp và coi đó như một nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình tái cơ cấu. Đạo đức
phải được coi như một tiêu chí tiên quyết trong công tác tuyển chọn.
- Một số nguyên nhân khác: lạm phát tăng cao dẫn đến việc huy động tại các
ngân hàng gặp nhiều khó khăn, vì vậy để giữ thị phần và an toàn thanh khoản các
NHTM buộc phải tăng lãi suất huy động. Việc lãi suất đầu vào tăng cao dẫn đến
tăng lãi suất cho vay là điều tất yếu, điều này khiến các doanh nghiệp vay vốn lâm
vào tình trạng khó khăn trong kinh doanh, có thể mất khả năng hoàn trả vốn.
Sự gia tăng quy mô quá nhanh của các ngân hàng nhỏ mới được chuyển đổi từ
ngân hàng nông thôn lên ngân hàng đô thị nên không có điều kiện về vốn, nhân
sự.... để áp dụng các mô hình quản lý, khoa học công nghê hiện đại theo tiêu chuẩn
quốc tế nên dễ phát sinh nhiều rủi ro trong hoạt động cho vay.
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Tổng hợp lại có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ xấu từ phía khách hàng,
khái quát thường tập trung vào một số nguyên nhân chính sau đây:
- Năng lực tài chính hạn chế, vốn tự có thấp, hoạt động chủ yếu bằng vốn đi
vay, vốn chiếm dụng… dẫn đến khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh
doanh hạn chế. Và khi phải đối diện với những khó khăn lớn của nền kinh tế trong,
ngoài nước đó là sức mua kém, tồn kho lớn, doanh thu giảm sút, trong khi đó chi
phí lãi vay lớn, thậm chí quá lớn dẫn đến mất cân bằng tài chính. Kết quả là khách
hàng sẽ không đủ nguồn để trả nợ gốc và lãi vay, các khoản vay ngân hàng trở
thành nợ xấu là lẽ đương nhiên.
- Trình độ yếu kém của người đi vay trong dự đoán các vấn đề tổ chức hoạt
động kinh doanh, yếu kém trong quản lý, trong điều hành, phân tích thị trường, xử
lý các tình huống bất ngờ xảy ra trong kinh doanh… Nhiều khách hàng khi vay vốn
không tính toán kỹ những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và
khắc phục những khó khăn trong kinh doanh, đây là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu.
đảm bảo để xử lý chúng.
+ Tài sản đảm bảo khó định giá, tính khả mại thấp.
15
+ Có những tranh chấp về mặt pháp lý.
- Trường hợp đảm bảo đối nhân ( bảo lãnh) : Người bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay tín dụng khi người này không có khả năng
trả nợ.
1.1.4.2 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh
tế- xã hội
Nợ xấu không chỉ gây tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng. Sở dĩ người
ta phải quan tâm nhiều đến vấn đề nợ xấu của NHTM bởi nó có ảnh hưởng sâu rộng
tới các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Sau đây ta sẽ nghiên cứu những tác động
của nợ xấu.
Đối với ngân hàng:
- Giảm hiệu quả sử dụng vốn: nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một phần
vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này. Việc tồn đọng
này làm cho ngân hàng mất đi cơ hội kinh doanh khác mà có thể đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng. Nợ xấu làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng hay nói cách khác
nợ xấu phát sinh đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng từ đó làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn.
- Giảm lợi nhuận: thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động tín
dụng của ngân hàng. Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ nguồn
huy động phải trả chi phí, thậm chí có nguồn vốn huy động phải trả chi phí cao. Do
vậy, khoản vay không thu hồi được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị
đóng băng làm giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn. Kết quả là làm
giảm lợi nhuận của ngân hàng.
- Giảm khả năng thanh toán: các khoản nợ xấu phát sinh làm thay đổi kế
vay, đầu tư do vậy bị thu hẹp ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế
đồng thời trực tiếp làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và khủng hoảng
kinh tế xã hội.
Đối với khách hàng
- Giảm tốc độ chu chuyển vốn: trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các hoạt
động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện thông qua ngân hàng
và hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.
17
Do vậy, tình trạng nợ xấu dây dưa khó đòi của khách hàng sẽ làm ảnh hưởng trực
tiếp đến quan hệ của khách hàng với ngân hàng, làm giảm tốc độ chu chuyển vốn
của khách hàng.
- Tăng chi phí hoạt động: có thể nói, ngân hàng là tổ chức cung ứng vốn rẻ
nhất cho các doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp có khoản nợ xấu ở một ngân
hàng nào đó, doanh nghiệp sẽ khó vay vốn được ở một ngân hàng khác. Vì nhu cầu
vốn kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải vay vốn ở những nguồn khác với lãi suất
cao hơn. Từ đó làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp.
- Giảm uy tín: việc phát sinh nợ xấu sẽ làm khách hàng bị mất uy tín đối với
ngân hàng. Do đó, nợ xấu phát sinh sẽ là vật cản lớn gây ra khó khăn cho khách
hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn vay. Và sẽ không có một ngân hàng nào muốn
duy trì quan hệ lâu dài với doanh nghiệp có tỷ lệ nợ quá hạn cao bởi đây chính là tín
hiệu nói lên hoạt động kém hiệu quả doanh nghiệp, và nguy cơ tiếp tục không trả nợ
vay của doanh nghiệp.
1.2 Các giải pháp hạn chế nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm hạn chế nợ xấu
Với vai trò là một trung gian tài chính quan trọng trong quá trình luân chuyển
vốn trong nền kinh tế, bất cứ tác động tiêu cực nào đối với ngân hàng cũng gây ra
những hậu quả khó lường. Trong đó nợ xấu là một yếu tố cần được đặc biệt quan