HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 15



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ TUYẾN HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ TRI THỨC THỂ LOẠI VĂN
HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINHLỚP 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: Lí luận và phương pháp dạy học văn và tiếng Việt
MÃ SỐ: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS: ĐINH TRÍ DŨNG NGHỆ AN – 2013
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2

2.2.2. Thuận lợi và khó khăn khi dạy học các tác phẩm thơ trữ tình. 61
2.3. Yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức về thơ trữ tình 64
2.3.1. Hình thành và củng cố tri thức chung về thơ trữ tình 64
2.3.2. Sự khác biệt giữa thi pháp thơ trữ tình trung đại và thơ trữ tình hiện đại 70
2.3.3. Sự khác biệt giữa các tác phẩm thơ trữ tình hiện đại trong chương trình lớp 12.
77
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1. Thiết kế một số giáo án thể nghiệm theo hướng củng cố và hình thành tri thức
thể loại 82
3.1.1. Giáo án truyện ngắn. 82
3.1.2. Giáo án thơ trữ tình. 91
3.1.3. Giáo án kí 102
3.1.4. Giáo án kịch 110
3.2. Thực nghiệm sư phạm 117
3.2.1. Mục đích thực nghiệm 117
3.2.2. Đối tượng thực nghiệm. 118
3.2.3. Nội dung thực nghiệm. 118
3.2.4. Quá trình thực nghiệm. 118
3.2.5. Phân tích kết quả thực nghiệm 119
3.2.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm .120
3.2.7. Rút kinh nghiệm và giải pháp .121
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125


phẩm ấy, mặt khác giúp học sinh biết cách đọc, cách phân tích và tiếp nhận một tác
phẩm văn học theo thể loại. Từ đó các em có thể tự mình đọc, tìm hiểu và khám phá
những tác phẩm tương tự, cho dù tác phẩm đó nằm ngoài chương trình. Do đó làm 2
thế nào cho học sinh nắm vững đặc trưng thể loại các tác phẩm văn học đang là vấn
đề cấp bách và cần thiết đặt ra cho người giáo viên dạy văn hiện nay.
1.2. Văn học hiện đại là một bộ phận quan trọng và chiếm dung lượng lớn
trong chương trình ngữ văn 12, gồm nhiều thể loại khác nhau có những thể loại
văn học hiện đại các em đã học ở chương trình ngữ văn THCS và ở lớp 11. Do đó
giúp học sinh tiếp nhận các tác phẩm văn học 12 theo đặc trưng thể loại chúng ta
có thể vừa củng cố vừa hình thành tri thức về thể loại để học sinh cách tiếp nhận
tác phẩm văn học tốt nhất.
1.3. Lớp 12 là lớp cuối của bậc THPT. Các em học sinh ở lớp 12 đã được
nhiều năm rèn luyện trong nhà trường phổ thông, đã bước vào tuổi thành niên.
Kiến thức xã hội - văn hóa của các em đã được trang bị khá đầy đủ. Hơn nữa ở lớp
12, các em đang đứng trước việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình sau bậc học phổ
thông. Đề tài của chúng tôi còn muốn hướng đến đối tượng đặc biệt này để giúp
các em củng cố thêm một mảng kiến thức quan trọng để chuẩn bị cho việc học lên
bậc cao hơn hoặc vào đời.
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Hình thành và củng cố tri thức
thể loại văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12 THPT. Đề tài này sẽ
góp phần định hướng cho học sinh có kĩ năng hiểu được đặc trưng của từng thể
loại văn học hiện đại ở lớp 12. Từ đó giúp các em khám phá giá trị các tác phẩm
văn học không chỉ trong chương trình mà còn các tác phẩm cùng thể loại ngoài
chương trình, giúp các em có thể “tự học” và “học suốt đời”. Do vậy đề tài nghiên

của nó. Ý thức về thể loại giúp người nghiên cứu định hướng đúng mục tiêu chính
của việc phân tích tác phẩm văn học. Tùy thuộc vào thể loại, thể tài của đối tượng
phân tích mà tìm cách cho thích hợp”[42, tr.125]. Nguyễn Thanh Hùng - người có
nhiều nghiên cứu về dạy đọc - hiểu, trong Kỹ năng đọc hiểu văn, khi nói về quá trình
dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nhấn mạnh “Khi thực hiện quá trình đọc hiểu tác
phẩm văn chương trong nhà trường, người giáo viên phải bắt đầu từ việc nắm vững
thi pháp thể loại mà rút ra ý nghĩa phương pháp của thể loại và tìm cách vận dụng
chúng cho đào tạo, giáo dục văn học cho học sinh” [32, tr. 70].
Năm 2007, trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học Về dạy học Ngữ văn ở trường
phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới, Đinh Trí Dũng đã có bài “ Nắm
vững quan điểm thể loại trong dạy học ngữ văn theo chương trình mới ở trường trung
học phổ thông”. Bài viết đã nghiên cứu sự thay đổi của chương trình ngữ văn hiện
nay so với trước đây, đồng thời khẳng định dạy học ngữ văn hiện nay không thể tách
rời đặc trưng thể loại. Lê Sử trong cuốn Quan niệm dạy học tác phẩm văn chương 4
qua chương trình và sách giáo khoa cũng có cùng quan niệm như các nhà nghiên cứu
trên, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của thể loại trong dạy học văn “Nắm vững đặc
trưng thể loại sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi để học sinh có thể khám phá có hiệu
quả giá trị, ý nghĩa của tác phẩm. San bằng cách biệt về thể loại sẽ dẫn tới học sinh tới
những cách hiểu sai lầm, lệch lạc về tác phẩm”[55, tr.216].
Như vậy, phương pháp dạy văn gắn với đặc trưng thể loại đã được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến. Các nghiên cứu trên đều đặt ra vấn đề cần nắm vững quan
điểm thể loại trong quá trình dạy đọc hiểu tác phẩm văn học. Tuy nhiên cho đến nay,
chưa có công trình nào hướng đến nghiên cứu một cách toàn diện việc hình thành và
củng cố tri thức thể loại văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh lớp 12. Với đề tài

- Nhóm thực nghiệm: điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm
6. Đóng góp của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng rõ, cụ thể các kiến thức
thể loại văn học học hiện đại cần thiết cần phải hình thành cho học sinh, đồng thời
vận dụng chúng trong việc đọc hiểu văn học hiện đại nói chung và các thể loại văn
học hiện đại trong chương trình 12 nói riêng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
gồm 3 chương :
Chương 1: Hình thành và củng cố tri thức thể loại văn xuôi Việt Nam hiện đại
trong chương trình ngữ văn lớp 12 THPT
Chương 2: Hình thành và củng cố tri thức thể loại thơ trữ tình trong chương trình
ngữ văn lớp 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm


riêng. Đọc và phân tích một tác phẩm văn học càng không thể không quan tâm đến
đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy. Bởi vì, thể loại chính là một cơ sở tạo nên tính 7
thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nội dung và hình
thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ
thuật. Nếu học sinh không phân tích được đặc trưng của mỗi thể loại thì dù phân tích,
cắt nghĩa tác phẩm sâu sắc đến mấy cũng chỉ là chủ quan, võ đoán mà thôi.
1.1.2. Phân chia thể loại văn học Việt Nam hiện đại
Vào thế kỉ IV trước Công nguyên, trong Nghệ thuật thơ ca, Aristote đã dựa vào
nguyên tắc phản ánh chia văn học thành ba loại: tự sự, trữ tình và kịch. Tự sự nhận
thức và thể hiện đời sống qua chuỗi các biến cố, sự kiện và bằng lời kể của một
người trần thuật. Trữ tình là sự bộc bạch trực tiếp tâm trạng, cảm xúc của chủ thể
trữ tình bằng phương thức biểu cảm. Kịch tái hiện trực tiếp bức tranh đời sống qua
xung đột hành động và lời đối thoại, độc thoại của nhân vật mà không cần một
người kể lại. Mỗi loại nói trên lại gồm nhiều thể chẳng hạn, loại tự sự có tiểu thuyết,
truyện vừa, truyện ngắn. Bất kì một tác phẩm nào cũng thuộc về một thể loại nhất
định và quan trọng hơn là thuộc về một thể tài nào đó. Nhưng ngay ở những tác phẩm
cùng một thể thì nội dung cảm hứng và sắc thái thẫm mĩ cũng rất khác nhau. Cùng là
tiểu tiểu thuyết nhưng lại có tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết
lịch sử
Văn học viết ở nước ta xuất hiện trong thế kỷ X và suốt mười thế kỷ (từ thế kỷ X
đến thế kỷ XIX), nền văn học ấy tồn tại trong môi trường xã hội phong kiến. Văn học
trung đại đã hình thành một hệ thống thể loại khá hoàn chỉnh và chậm biến đổi. Hệ
thống thể loại ấy gồm hai bộ phận chính: các thể loại được tiếp nhận từ văn học Trung
Hoa và các thể loại có nguồn gốc dân tộc. Ở vị trí trung tâm của hệ thống ấy là các thể

Nam Bộ vào truyện. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, nhiều tác phẩm khác của Hồ Biểu Chánh là những
tác phẩm ghi được những thành công rõ rệt của văn xuôi trên bước đường hiện đại
hóa.
Sang những năm 1930 - 1945, truyện ngắn phát triển phong phú, đổi mới nhanh
chóng và hình thành nhiều phong cách. Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công
Hoan, truyện ngắn giàu chất trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh. Tô Hoài, Kim Lân,
Bùi Hiển cũng xuất hiện ở đầu những năm 40, lại đưa vào trong truyện những bức tranh
phong tục sinh hoạt làng quê, những nét đẹp văn hóa và cả những hủ tục nặng nề
Truyện ngắn Nam Cao không chỉ là thành tựu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực,
mà còn là bước phát triển cao của thể loại truyện ngắn hiện đại trong văn học Việt
Nam. Khai thác triệt để các chi tiết tưởng như vụn vặt của đời sống hàng ngày để suy
ngẫm, triết lý về những quy luật của đời sống nhân sinh.
Tiểu thuyết quốc ngữ phát triển mạnh ở Nam Bộ trong vài ba mươi năm đầu thế 9
kỷ XX với nhiều tên tuổi như Phú Đức, Nguyễn Chánh Sắt Tác giả có số lượng tiểu
thuyết lớn nhất và đóng góp nổi bật nhất là Hồ Biểu Chánh. Tiểu thuyết của ông có
nhiều giá trị hiện thực, nhưng cũng còn mang nhiều ảnh hưởng của truyền thống văn
chương trung đại, mà rõ nhất là tính chất đạo lý. Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc
Phách được xem là mở đầu cho tiểu thuyết hiện đại theo khuynh hướng lãng mạn. Bắt
đầu từ 1933, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với các tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh
đã đem lại sự cách tân toàn diện cho tiểu thuyết.
Từ các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, đến Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Tắt đèn của
Ngô Tất Tố, các tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam
Cao có thể xem là những cột mốc quan trọng trên con đường vận động phát triển của

văn học. Văn học Việt Nam 1945-1975 rất đa dạng và phong phú về thể loại. Ngay
từ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ đã gặt hái được nhiều thành tựu
đáng kể. Qua sáng tác của những cây bút tiêu biểu như Tố Hữu, Quang Dũng,
Hoàng Cầm,Nguyễn Đình Thi, … thơ cách mạng đã tạo ra được một nội dung và
hình thức thể loại khác xa với thơ trữ tình của những năm ba mươi. Diện mạo của
nền văn xuôi kiểu mới cũng được hình thành qua những trang bút kí, kí sự, truyện
ngắn của Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài, Kim Lân. Nhưng
phải sau hoà bình lập lại, nhất là từ những năm sáu mươi, các thể loại văn học mới
phát triển rực rỡ. Văn xuôi phát triển mạnh mẽ với nhiều cây bút thuộc các thế hệ
khác nhau: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc, Nguyễn
Khải,… Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tác phục vụ cuộc kháng chiến chống
Mĩ được phát động. Đây là thời kì xuất hiện hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu
riêng của một thế hệ mới: Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Bằng Việt,
Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Phan
Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mĩ Dạ…Về văn xuôi, bên cạnh Nguyên Ngọc, Nguyễn
Khải, nổi lên Nguyễn Minh Châu, Chu Văn.
Có thể nói, ở giai đoạn 1945-1975, nền văn học Việt Nam không thiếu một thể
loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại kí, bao gồm kí sự, bút kí, tuỳ
bút, truyện kí, các thể thơ: thơ trữ tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca… Chỉ
có phóng sự là thể loại từng phát triển mạnh mẽ từ thời trước Cách mạng, nay bỗng
thấy thiếu vắng trên văn đàn.
Sau năm 1975 đất nước hòa bình và thống nhất, quan niệm về văn học và ý
thức nghệ thuật có sự thay đổi vì chịu sự chi phối của tinh thần đổi mới toàn xã hội.
Giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu ở các thể loại. Về văn xuôi, thời gian đầu,
phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, kịch bản sân khấu phát triển mạnh. Về sau truyện
ngắn và tiểu thuyết phát triển mạnh với nhiều cây bút như Nguyễn Minh Châu,


giáo khoa có ý nghĩa hàng đầu. Chính vì thế trong nhà trường phổ thông hiện nay,
chương trình sách giáo khoa Ngữ văn được biên soạn theo hướng tích hợp. 12
Tích hợp ở đây biểu hiện là sự gắn kết, phối hợp tri thức của ba phân môn có tri
thức gần nhau môn văn học- tiếng việt-làm văn. Kiến thức của ba phân môn sẽ bổ
sung cho nhau nhằm rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Nếu ở
chương trình sách giáo khoa cũ ba phân môn: văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn được
biên soạn độc lập, tách rời nhau thành ba cuốn sách giáo khoa riêng rẽ thì hiện nay
hợp thành một cuốn duy nhất với tên gọi chung là Ngữ văn. Sự tích hợp này không
phải là sự lắp ghép máy móc, cơ học mà nó dựa trên cơ sở khoa học, nó tiếp tục kiến
thức tích hợp ở chương trình Trung học cơ sở, nó giúp học sinh có vốn kiến thức liền
mạch, hệ thống hơn khi kiến thức ba phân môn bổ sung cho nhau.
Riêng phần văn bản có sự thay đổi khác là sách giáo khoa cũ biên soạn chương
trình theo trục lịch sử, nó bám sát tiến trình phát triển của lịch sử văn học. Trong đó,
ở mỗi thời kì thì học sinh được học những tác phẩm, tác giả tiêu biểu, chú trọng đưa
nhiều tác phẩm vào chương trình, cách chọn tác phẩm như vậy nghiêng về minh họa
cho văn học sử. Còn hiện nay mục tiêu dạy học thay đổi, dạy học theo nguyên tắc tích
hợp nên chương trình Ngữ văn trong sách giáo khoa mới hiện nay sắp xếp theo trục
thể loại và dạy học cũng theo đặc trưng thể loại và điều này dẫn đến các tác phẩm
thuộc thể loại văn xuôi và trữ tình sẽ không được sắp xếp xen kẽ nhau trong chương
trình sách giáo khoa mà chúng sẽ tách rời nhau. Chương trình sách giáo khoa mới
vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc, nhưng ở mỗi giai đoạn thay vì lựa chọn
các tác giả tác phẩm tiêu biểu để minh chứng cho tiến trình phát triển của văn học giai
đoạn đó thì sẽ lựa chọn tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại của giai đoạn văn
học đó. Ví dụ thơ trữ tình tiêu biểu cho thời kì chống Pháp là Tây Tiến (Quang Dũng),

Varen và Phan Bội châu
Nguyễ Ái Quốc Truyện ngắn Đọc
thêm
3 Đôi mắt Nam Cao Truyện ngắn
4 Vợ chồng A Phủ Tô Hoài Truyện ngắn
5 Vợ nhặt Kim Lân Truyện ngắn
6 Mùa lạc Nguyễn Khải Truyện ngắn
7 Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân Tùy bút
8 Huệ Chi trước lễ cưới Nguyên Hồng Tiểu thuyết
9 Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành Truyện ngắn
10 Những đứa con trong gia

đình
Nguyễn Thi Truyện ngắn
11 Mảnh trăng cuối rừng Nguyễn Minh Châu Truyện ngắn
12 Bắt sấu rừng U Minh Hạ Sơn Nam Truyện ngắn
t Đ
ọc thêm
13 Bức thư Cà Mau Anh Đức Bút kí Đọc thêm
14
14 Quán rượu người câm Nguyễn Quang Sáng Truyện ngắn Đọc thêmBảng 2: Các thể loại văn xuôi văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình ngữ

1 Vợ chồng A Phủ Tô Hoài Truyện ngắn
2 Vợ nhặt Kim Lân Truyện ngắn
3 Những đứa con trong
gia đình
Nguyễn Thi Truyện ngắn 15

Qua bảng hệ thống ta nhận thấy các thể loại văn xuôi trong chương trình ngữ
văn 12 hiện nay khá đa dạng gồm nhiều thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch,
kí. Các tác phẩm văn xuôi được biên soạn theo trục thể loại. Nhà biên soạn chỉ chọn
tác phẩm tiêu biểu cho từng thể loại và cho từng giai đoạn văn học. So với chương
trình cũ thì các thể loại văn xuôi có sự thay đổi khá lớn một số văn bản truyện ngắn
đã bị đưa ra khỏi chương trình như Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) đưa xuống đọc thêm
ở lớp 11, Đôi mắt (Nam Cao) bị đưa ra khỏi chương trình.Nguyễn Khải và Nguyễn
Minh Châu vẫn được giữ lại nhưng tác phẩm Mùa lạc của Nguyễn Khải được thay
bằng Một người Hà Nội, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu thay bằng
Chiếc thuyền ngoài xa. Trong các thể loại văn xuôi thì số lượng truyện ngắn giảm
so với chương trình chỉnh lí hợp nhất. Nhưng thay vào đó các tác phẩm thuộc các
thể loại văn xuôi khác được đưa vào giảng dạy như kịch, kí. Sở dĩ có sự thay đổi
như vậy là do quan điểm biên soạn chương trình của các nhà soạn sách có thay đổi.
Trước đây số lượng văn bản nghệ thuật được đưa vào nhiều nhằm cung cấp cho
các em năng lực cảm thụ. Dạy văn chủ yếu là dạy cái hay, cái đẹp, bồi dưỡng tâm
4 Rừng xà nu Nguyễn Trung Thành Truyện ngắn
5 Đất Anh Đức Truyện ngắn Đọc
thêm

hình thành hiểu biết và năng lực phẩm chất. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học
sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Chú trọng hình thành các năng lực(tự học,
sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu
của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản
thân học sinh và sự phát triển của xã hội. Vì vậy, học văn không chỉ để biết để cảm
nhận mà còn để có kĩ năng sống, kĩ năng vận dụng.
Ở chương trình ngữ văn lớp 12 hiện nay, các văn bản thuộc thể loại văn xuôi
hiện đại giữa hai chương trình cơ bản và nâng cao là tương đương nhau về số lượng
( 7 văn bản ). Giữa hai bộ sách này chỉ có một sự điều chỉnh nhỏ đó là văn bản Một
người Hà Nội của Nguyễn Khải. Trong chương trình cơ bản văn bản này được đưa
vào phần đọc thêm, còn ở chương trình nâng cao được học chính thức.
Nếu ở chương trình ngữ văn lớp 11 các tác phẩm thuộc thể loại văn xuôi chủ
yếu nằm trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8-1945 thì các tác
phẩm ở 12 lại chủ yếu nằm ở giai đoạn từ 1945 đến hết thế kỉ XX. Đây chính là
việc biên soạn chương trình theo tiến trình lịch sử, tiếp nổi phần văn xuôi ở chương
trình lớp 11. Nếu như ở chương trình chỉnh lí hợp nhất các văn bản thuộc nhiều giai
đoạn khác nhau và chỉ dừng lại mốc 1975 thì chương trình ngữ văn 12 đã được mở
rộng phạm vi sau 1975 như Chiếc thuyền ngoài xa, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Ai
đã đặt tên cho dòng sông?. Sự đổi mới đó cho thấy văn học và việc dạy học văn đã
từng bước đi gần với hiện thực cuộc sống, quan tâm đến những vấn đề thế sự, đời tư
của con người.
Từ những thống kê trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy, các thể loại văn xuôi trong
chương trình ngữ văn lớp 12 khá phong phú: có truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, kí.
Việc nắm vững đặc trưng từng thể loại cụ thể sẽ giúp học sinh tiếp cận tác phẩm
văn chương trong chương trình 12 nói riêng và các tác phẩm văn xuôi ngoài chương
So với học sinh tiểu học và trung học cơ sở, sự phát triển về khả năng văn học
của học sinh THPT hình thành theo một quy luật khác. Lứa tuổi này đã có sự phát
triển về thể lực, về trí tuệ cũng như trình độ nhận thức. Bên cạnh đó, lứa tuổi học
sinh THPT cũng đã bắt đầu hình thành thế giới quan và xác lập được tiêu chuẩn
đánh giá nghệ thuật. Trong giờ học văn, các em tỏ ra có nhiều đòi hỏi ở giáo viên
hơn, có khả năng đánh giá giáo viên chính xác hơn so với học sinh lớp dưới. Các
em có thể yêu thích và coi trọng nghệ thuật, đồng thời hứng thú nghệ thuật cũng trở
nên khá sâu sắc và ổn định. Các em có nhu cầu đọc sách, tự mình cảm nhận, đánh
giá và có khả năng đánh giá sâu sắc vấn đề trong tác phẩm. Các em cố gắng xây
dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng
chính trị, đạo đức. Trước đây, do chưa nhận thức đúng đắn về điều này nên giáo 18
viên mắc phải một sai lầm cơ bản là chỉ coi học sinh như một khách thể, một đối
tượng tiếp thụ kiến thức của giáo viên. Trong trường họp như vậy, việc học văn
theo phương pháp cũ đã một phần kìm hãm sự phát triển văn học của học sinh. Từ
vai trò chủ thể, các em trở thành thụ động, lệ thuộc hoàn toàn vào giáo viên. Đây có
thể là nguyên nhân sâu xa của tình trạng học sinh không hứng thú, thậm chí chán
ghét giờ học văn. Khác với học sinh tiểu học và trung học cơ sở, học sinh lứa tuổi
THPT, nhất là học sinh lớp 12 đã nhận thức được mối quan hệ giữa bạn đọc và tác
phẩm là mối quan hệ thẩm mĩ. Chính vì thế, các em không đồng nhất cuộc sống
trong tác phẩm với cuộc sống ngoài thực tiễn, đồng thời không xem tác phẩm là cái
cớ để biểu hiện những tư tưởng và tình cảm. Trong khi đọc sách, các em ý thức
được rằng: “các hình tượng đang vận động trong trường nhìn là những hình tượng
của cuộc sống và hiếu rằng đó không phải là bản thân của cuộc sống mà chỉ là sự
phản ánh nghệ thuật của nó mà thôi” [52, tr.57]. Điều đó cho thấy học sinh đã nắm

ng
ư
ỡng
cửa cuộc đời tự lập, cho nên vấn đề
tương
lai có một vị trí rất lớn
lao trong
suy
nghĩ của các em. Do hoàn cảnh sắp
bước
vào đời và đặc biệt là do thế giới
quan và tâm lý
phát
triển cho nên xu
h
ư
ớng
nghề nghiệp của học sinh lớp 12 hình thành
rõ rệt, nhanh
chóng

tương
đối ổn định. Các em coi đây là một vấn đề nghiêm túc
trong cuộc đời.Trong quá trình hình thành xu
h
ư
ớng

nghề
nghiệp, học sinh

có thể lựa chọn
được
nghề nghiệp phù hợp. Trong đó mỗi giáo viên thông qua quá trình giảng dạy
giúp các em nhận ra được năng lực, sở trường đối với môn học, lĩnh vực mà
mình yêu thích.
Như vậy, tâm sinh lí học sinh lớp 12 rất đa dạng và đang dần hoàn thiện. Việc
nắm bắt được tâm sinh lí này sẽ giúp giáo viên giảng dạy 12 có phương pháp
giảng dạy hợp lí để vừa nâng cao chất lượng học tập của bộ môn vừa định hướng
việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh. Giúp các em có một hành trang
vững vàng để học lên bậc học cao hơn, bước vào cuộc sống tự lập. Riêng với môn
Ngữ văn việc trang bị cho các em một hệ thống tri thức thể loại sẽ là công cụ để
các em có kĩ năng học tốt môn Văn lớp 12 trong nhà trường, định hướng được
nghề nghiệp cho mình và cũng giúp các em tiếp cận với nhiều tác phẩm khác khi
đã ra đời tự lập. Có vậy người giáo viên mới thực hiện tốt chức năng của giảng
dạy môn văn theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, mục tiêu dạy học “đào
tạo năng lực đọc hiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học, vừa giáo dục tư
tưởng tình cảm, vừa rèn luyện kĩ năng đọc mà học sinh có thể mang theo suốt đời
sau khi tốt nghiệp THPT để có thể đọc hiểu nhiều kiểu văn bản thông dụng trong
đời sống ”[55, tr.36].
1.3.2. Yêu cầu của việc hình thành, củng cố tri thức thể loại văn xuôi.
1.3.2.1. Tri thức thể loại truyện ngắn 20
Theo định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục, 2004):
“Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao
trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi,
21
đã làm chủ được phần văn xuôi cốt yếu nhất của chương trình. Tuy nhiên
thực tế giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa chú ý đúng mức
và chưa thực sự làm rõ được đặc trưng thể loại của truyện ngắn. Cho nên
việc tiếp cận thể loại truyện ngắn của học sinh vẫn còn lúng túng. Các em
vẫn chưa chủ động tìm kiếm khám phá giá trị của tác phẩm mà vẫn phụ
thuộc vào cách cảm nhận của thầy cô. Nhìn chung các em còn thụ động.
Theo chúng tôi, để học sinh có thể khám phá được giá trị của các tác
phẩm truyện ngắn, thì giáo viên trong quá trình giảng dạy cần trang bị cho
các em những đặc trưng thể loại của truyện ngắn. cụ thể là:
- Cốt truyện
Khi dạy đọc – hiểu văn bản truyện ngắn yếu tố cần quan tâm đầu tiên là cốt
truyện. Cốt truyện là một hệ thống các các sự kiện phản ánh những diễn biến của
cuộc sống và các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình
thành và phát triển trong các mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ
đề và tư tưởng của tác phẩm.
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không
gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình người vì thế cốt truyện của truyện ngắn thường ít biến
cố, sự kiện hơn tiểu thuyết.
Dựa vào cốt truyện, có thể chia làm hai loại truyện:
Truyện không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất mờ nhạt): do chủ ý nghệ thuật
của nhà văn chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với
hoàn cảnh. Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn. Truyện ngắn Hai
đứa trẻ của Thạch Lam là một ví dụ. Truyện ngắn này có cốt truyện khá đơn giản.
Đây là một truyện ngắn trữ tình giàu chất thơ. Truyện ít biến cố, chủ yếu tác giả
diễn tả cảm xúc, tâm trạng của nhân vật. Truyện là một dòng chảy tâm trạng của
nhân vật Liên từ chiều vào đêm cái nền tâm trạng ấy tồn tại chông chênh những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status