Đề tài: “Vai trò của Nhà nước đối với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta”. pot - Pdf 15


BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

Đề tài

“Vai trò của Nhà nước đối
với quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá ở nước ta” 1

Mục lục
Trang
A. Phần mở đầu 4
B. Nội dung 6
Chơng 1: Tính tất yếu khách quan về vai trò của Nhà nớc trong
quá trình công nghiệp hoá 6
1.1. Vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá 6
1.1.1. Quan niệm công nghiệp hoá- Thực chất công nghiệp hoá 6
1.1.2. Vì sao hiện nay công nghiệp hoá lại gắn với hiện đại hoá 7
1.1.3. Vai trò của Nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá 8
1.2. Tất yếu khách quan vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp
hoá 9
1.2.1. Vai trò của Nhà nớc trong việc định hớng cho quá trình công nghiệp hoá 9
1.2.2. Vai trò của Nhà nớc trong việc phát triển khoa học công nghệ 11
1.2.3. Nhà nớc với vai trò phát triển nguồn vốn 13
1.2.4. Vai trò của Nhà nớc trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá 14
Chơng 2: Thực trạng vai trò của Nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta 16
2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá 16

3.1.1. Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá 32
3.1.2. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bớc đi của công nghiệp
hoá hiện đại hoá 32
3.1.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lợng nguồn nhân
lực 33
3.1.4. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc 36
3.2. Chính sách phát triển khoa học công nghệ 39
3.2.1. Công nghệ nớc ngoài 39
3.2.2. Công nghệ và cán bộ khoa học trong nớc 40
3.2.3. Một số giải pháp tăng cờng hiệu quả quản lý Nhà nớc về KH - CN 42
3.3. Phát triển nguồn vốn 42
3.3.1. Giải pháp huy động vốn 42
3.3.2. Giải pháp sử dụng và quản lý vốn 44
3.3.3. Đổi mới tổ chức bộ máy tài chính quốc gia và công tác kiểm toán kế toán 45
3.4. Giải pháp trong vấn đề quản lý 48
3.4.1. Xác định đúng phơng hớng của cơ chế quản lý 48
3.4.2. Xây dựng hệ thống luật kinh tế 49
C. Kết luận 52
Tài liệu tham khảo 53


Sự phát triển của nền kinh tế trong hơn mời năm kể từ khi đổi mới đến nay đã
thu đợc nhiều kết quả đáng kể.Trong đó phải kể đến vai trò rất quan trọng của
Đảng và Nhà nớc. Nhà nớc là ngời hoạch định ra các chính sách chiến lợc phát
triển kinh tế, phát huy tối đa những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt tiêu
cực của kinh tế thị trờng. Mà quan trọng nhất là sự định hớng của nhà nớc để
kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn. Đây
là điểm khác biệt giữa cơ chế kinh tế thị trờng ở nớc ta và các nớc khác.
Mặc dù Nhà nớc ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong
sự nghiệp này, nhng không phải là không có hạn chế. Đó là sự cồng kềnh của bộ
máy, cha xóa bỏ đợc thói quen của cơ chế cũ, cha thích nghi với cơ chế mới
nên hiệu quả cha cao. Để nhận thức rõ hơn về vai trò của nhà nớc trong phát
triển kinh tế nói chung và trong công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng, trong bài
viết này, em xin chọn đề tài: Vai trò của Nhà nớc đối với quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta.
Do trình độ có hạn, không thể bao quát đợc hết mọi khía cạnh của vấn đề to
lớn và khó khăn này, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh một số vấn
đề về vai trò của Nhà nớc trong việc phát triển những điều kiện chính của quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Trong bài viết này, em xin đợc trình bày các
nội dung cơ bản về đề tài trên nh: Tại sao công nghiệp hoá lại phải có vai trò của
nhà nớc? Nhà nớc đóng vai trò quan trọng nh thế nào? Thực trạng vai trò của
nhà nớc ra sao? Và cuối cùng là một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà
nớc trong thời gian tới.Và kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới về vai trò
của Nhà nớc đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là
chế tạo máy. Quan niệm này đợc coi là hợp lí trong điều kiện của Liên Xô thời kì
đó. Nhng sẽ là rất sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả
các nớc đang phát triển trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc đã đa ra định
nghĩa sau: Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một
bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kĩ thuật hiện đại. Đặt điểm của cơ cấu
này là có một bộ phận chế biến sản xuất ra t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có
khả năng bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội.
Hiện nay ở nớc ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đợc coi là nhiệm vụ
trung tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.5

hội chủ nghĩa là: Quá trình thực hiện cách mạng kĩ thuật, thực hiện sự phân công
mới về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa không ngừng thực
hiện tái sản xuất mở rộng.
Từ đó cho ta thấy: Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện
dới sự chỉ đạo và tổ chức của nhà nớc chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của đảng
cộng sản. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ đa nền kinh tế nớc ta
từ nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn trở thành một nớc công nông nghiệp hiện
đại, văn hoá và khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh cuộc sống ấm no hạnh
phúc. Đờng lối công nghiệp hoá đợc xác định là: u tiên phát triển công nông
nghiệp một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại
hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam lại một lần nữa xác định mục tiêu

Năm là, cách mạng về điện tử tin học: Đây là một lĩnh vực mà hiện nay con
ngời đang đặc biệt quan tâm nhất là máy tính điện tử.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.6

Đất nớc ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đã trải qua hai
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nh vậy, vì thế nếu chỉ công nghiệp hoá
nền kinh tế thì sẽ không đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của xã hội, không thể
theo kịp các nớc phát triển trong khu vực và thế giới. Công nghiệp hoá có thể coi
là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc
cách mạng khoa học lần thứ hai. Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nớc ta
với các nớc phát triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng
khoa học kĩ thuật hay thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Có nh
vậy thì sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành công, đa
đất nớc ta trở thành một nớc công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa xã hội.

1.1.3. Vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trớc khi nói đến vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải
nói đến vai trò của nhà nớc trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của
các nớc ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho ta thấy: Nhà nớc có vai trò đặt biệt
quan trọng đối với sự tăng trởng kinh tế. Tuy kết quả đạt đợc không giống nhau
nhng từ thực tiễn có thể rút ra những vai trò cơ bản sau của nhà nớc trong quản lí
vĩ mô:
Nhà nớc định hớng chiến lợc đúng đắn mang tính chất tiên quyết đối với
sự phát triển kinh tế mỗi nớc. Nhà nớc có chính sách thu hút vốn đầu t từ các
nguồn trong và ngoài nớc, đặc biệt là vốn đầu t nớc ngoài, khuyến khích t bản
nớc ngoài đầu t bằng cách có các chính sách u đãi đảm bảo và tạo điều kiện cho

một vấn đề không kém quan trọng là đề ra những bớc đi để đạt đến mục tiêu đó.
Những bớc đi trong công nghiệp hoá có thể nêu ra đại thể cho mỗi thời kì nhng
phải đợc một số chỉ tiêu quan trọng nh: Thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời,
tỉ trọng của các ngành trong cơ cấu kinh tế, tỉ trọng đầu t, tỉ trọng xuất khẩu trong
GDP Mặt khác trong từng lĩnh vực cũng phải có những bớc đi cụ thể. Có thể
hình dung sự nghiệp công nghiệp hoá là một Cây mục tiêu mà đỉnh của nó đợc
lợng hoá bằng GDP tính theo đầu ngời. Các cành nhánh của nó là những mục
tiêu quan trọng nh: cơ cấu kinh tế, cơ cấu sở hữu. Mỗi mục tiêu có vị trí quan
trọng khác nhau trong quá trình công nghiệp hoá, có tác động qua lại thúc đẩy nhau
phát triển nhng bao trùm nhất, quyết định nhất là làm cho dân giàu nớc mạnh xã
hội công bằng văn minh.
Nhà nớc có vai trò quyết định trong việc định hớng cũng nh thực hiện các
bớc đi của quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế. Bởi vì chỉ có nhà nớc mới có
thể quyết định:
Mục tiêu chiến lợc và kế hoạch tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nền
kinh tế trong từng giai đoạn. Huy động và phân bổ tập trung các nguồn lực cần
thiết theo yêu cầu công nghiệp hoá, cân đối và điều chỉnh thờng xuyên quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực trong và
ngoài nớc để thực hiện nhanh, chắc quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nớc tổ chức lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về cả chất lợng
và số lợng để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ
công chức nhà nớc, lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để đa
đất nớc ta nhanh chóng tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nớc theo yêu
cầu công nghiệp hoá.
Nhà nớc thức hiện việc quản lý quá trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và
các văn bản dới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết nh chế
độ thống kê toán và kiểm toán, chế độ tài chính và bao cáo tài chính công khai
chính xác để quản lý thống nhất.
Nhà nớc phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá

công nghiệp hoá. Với những nớc đang phát triển nh nớc ta, công nghiệp hoá
không phải là sự phát triển ngành công nghiệp với mục đích tự thân mà là quá trình
tạo tính chất công nghiệp cho nền kinh tế quốc dân, là quá trình tăng trởng nền
kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất xã hội. Thực
chất của quá trình công nghiệp hoá là nâng cao một cách mạnh mẽ và nhanh chóng
trình độ công nghệ nhằm sử dụng và phát huy tối đa mọi nguồn lực để phát triển
kinh tế xã hội. ở nớc ta quá trình công nghiệp hoá đợc xác định là quá trình
chuyển từ tình trạng công nghệ lạc hậu với năng suất lao động và hiệu quả thấp lên
trình độ công nghệ tiên tiến hiện đại với năng suất lao động cao, làm chuyển biến
cơ cấu kinh tế và cớ cấu lao động, cơ cấu dân c theo hớng tăng tỷ trọng đối với
việc hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân. Vì thế có thể thấy công nghệ là một vấn đề
rất quan trọng cần phải giải quyết khi bắt tay vào thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
Để giải quyết vấn đề này phải có những chính sách đúng đắn của nhà nớc,
những chính sách đó sẽ kích thích các đơn vị kinh tế nhanh chóng đổi mới công
nghệ sản xuất.
Chính sách đổi mới mở cửa làm các doanh nghiệp phải đổi mới và nâng cao
trình độ công nghệ. Cơ chế thị trờng buộc mọi cơ sở phải tìm cách để tồn tại, để
phát triển.
Muốn vậy chỉ có một con đờng là đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ.
Nhà nớc khuyến khích phát triển công nghệ bằng các chính sách: Ưu đãi trong
việc vay vốn ngân hàng để đầu t xây dựng, mở rộng cơ sở hiện có, mua máy móc
thiết bị mới cần thiết cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi trong xuất nhập khẩu,
nhất là xuất khẩu những sản phẩm do cơ sở mình sản xuất, nhập khẩu máy móc
thiết bị tiên tiến của nớc ngoài, đa cán bộ ra nớc ngoài để tiếp cận thị trờng,
nghiên cứu học tập công nghệ mới. Chính sách mở cửa với những điều kiện u đãi
trong việc đầu t nớc ngoài đã tạo điều kiện cho các đầu t nớc ngoài tìm đến
liên doanh, đem theo những máy móc thiết bị phụ tùng hiện đại, những chuyên gia
kĩ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế giới. Việc đó đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nớc nhanh chóng tiếp cận và tiếp nhận công nghệ tiên tiến

ngày càng nhiều và tranh thủ cùng với công nghệ tiên tiến. Muốn tiếp nhận vốn đầu
t nớc ngoài thì cần phải có một nguồn vốn tơng ứng trong nớc. Còn việc vay
vốn thì phải tính đến trả nợ. Ngoài ra còn phải đảm bảo các yếu tố khác về độc lập,
chủ quyền, kinh tế, chính trị. Vì thế mà nguồn vốn nội bộ có ý nghĩa quyết định.
Nhà nớc phải tạo điều kiện cho từng địa phơng từng cơ sở phát triển mạnh mẽ
sản xuất nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân phục vụ có hiệu quả sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Song song với việc huy động các nguồn vốn, vấn đề bảo toàn, sử dụng và phát
triển vốn cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Yêu cầu bảo toàn vốn đợc thể hiện trớc
hết trong công tác tổ chức tài chính. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển
vốn trớc hết xuất phát từ yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, phải hoạch toán
kinh tế kinh doanh.
Xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp hoá hiện đại hoá là phải đảm bảo tính
hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, để quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, để nền kinh tế phát triển bền vững tất yếu phải
bảo toàn và phát triển vốn, phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

1.2.4. Vai trò của nhà nớc trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá
Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chỉ có thể thành công khi đợc thực
hiện theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Công nghiệp hoá hiện đại
hoá là một quá trình lâu dài và phức tạp. Nó tuân theo quy luật và tính quy luật của
các quan hệ cung cầu trên thị trờng. Điều đó có nghĩa là cơ chế thị trờng và các
bộ phận cấu thành: Cung cầu, giá cả, cạnh tranh sẽ quyết định quá trình công
nghiệp hoá, quyết định các phơng án phát triển lựa chọn đầu t Nhng cơ chế
thị trờng có những khuyết tật và hạn chế riêng của nó, cho nên nếu quá trình công
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
quản lý có hiệu quả cao nh hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế xã hội đặc
biệt là các chính sách kinh tế nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá, lựa chọn các phơng pháp quản lý nh: Giáo dục, thuyết phục,
động viên, phơng pháp tổ chức hành chính, phơng pháp kinh tế, bố trí hợp lý các
cán bộ đầu ngành chủ chốt trong các cơ quan quản lý, tóm lại nhà nớc có vai trò
rất quan trọng trong việc quản lý quá trình công nghiệp hoá.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.11

Chơng 2: Thực trạng vai trò của nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta

2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá
2.1.1. Việc đề ra muc tiêu chiến lợc kế hoạch bớc đi của công nghiệp hoá
Thực hiện công nghiệp hoá nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản về kinh tế,
trên cơ sở đó góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đảm bảo
công bằng xã hội. Nhng việc xác định phơng hớng bớc đi của công nghiệp hoá

phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá
để đến năm 2000 về cơ bản nớc ta trở thành một nớc công nghiệp.
Tuy vậy nhng về cơ cấu ngành kinh tế, nhà nớc cha thúc đẩy nhanh các
vùng tập chung chuyên canh, chậm đa công nghệ sinh học và các phơng pháp
canh tác tiên tiến vào nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản xuất
khẩu cha phát triển, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.12

ỏi nhỏ bé. Ngành cơ khí cha hớng vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất
nông lâm ng nghiệp, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản
Nhà nớc cha chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bớc đi của
công nghiệp hoá hiện đaị hoá. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn còn ở
mức cao, tỷ suất hàng hoá nông lâm sản thấp, tỷ trọng hàng xuất khẩu nhỏ bé manh
mún.
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP còn thấp. Công nghiệp chế
biến nông lâm hải sản và công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng để xuất khẩu phát
triển chậm

2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nớc
Chúng ta đang bớc vào thời kỳ phát triển mới rất quan trọng đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, phấn đấu đến năm 2020 đa nớc ta cơ bản trở
thành một nớc công nghiệp. Để thực hiện đợc điều đó, Hội nghị lần thứ II Ban
chấp hành trung ơng Đảng khoá VIII đã khẳng định: Cùng với giáo dục đào tạo,
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội,
là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ

13

xi măng Thế nhng thực trạng đội ngũ cán bộ tri thức Việt Nam, đặc biệt cán bộ
tri thức bậc cao đang là một vấn đề cần quan tâm.
Thứ nhất, sự già hoá của đội ngũ tri thức. Trong các viện và trung tâm khoa
học, tuổi bình quân tiến sĩ là 52,8 ; phó giáo s là 56,4 ; cấp viện trởng là 55 ; Cấp
viện phó là 50. Nh vậy đến năm 2000 hơn 80% số ngời có học hàm, học vị sẽ
đến tuổi về hu. Từ đó gây nên tình trạng hẫng hụt cán bộ khoa học kế cận. Nhìn
vào độ tuổi của đội ngũ cán bộ giáo dục tại các trờng đại học và cao đẳng ở nớc
ta có thể thấy một thực trạng là sự già hoá quá nhanh, dẫn tới sự hụt hẫng cán bộ
giáo dục vào cuối thế kỉ XX, nhất là cán bộ đầu đàn.
Thứ hai, việc đầu t cho khoa học và công nghệ cũng nh giáo dục và đào tạo
cha đủ để phát triển nguồn lực. Chúng ta muốn mau chóng trở thành một nớc
công nghiệp, muốn hội nhập với thế giới, phát triển giáo dục và đào tạo, tạo nguồn
nhân lực, nhân tài, phải luôn đợc coi là quốc sách hàng đầu. Đảng và chính phủ ta
đã có những cố gắng lớn tăng nguồn đầu t tài chính cho giáo dục và đào tạo. Tỉ
trọng ngân sách nhà nớc chi cho giáo dục và đào tạo tăng hàng năm và tăng nhanh
chóng những năm gần đây, từ 5,83% năm 1986 với mức chi 120 tỉ đồng, đến năm
1990 tăng lên 8,9% với mức chi 9186 tỉ và năm 1996 là 10,08% với mức chi là
70000 tỉ. Tuy vậy tỉ lệ này còn thấp so với các nớc trên thế giới và khu vực.
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực của nớc ta hiện nay cha hợp lý: 1 đại học/
1,6 trung học chuyên nghiệp/ 3 công nhân. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở nớc ta
mới chỉ đạt 10% so với tổng số lao động là quá thấp. Việc phân bố cán bộ theo
ngành nghề cũng còn rất bất cập. Theo con số của tổng cục thống kê năm 1997 cơ
cấu cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ theo các ngành
khoa học nh sau: Tự nhiên: 38%; xã hội và nhân văn: 20%; công nghệ: 27%;
dợc: 8%; nông nghiệp: 7%. Hơn thế nữa đội ngũ này nằm trong các cơ quan trung
ơng tới 94,4%, ở các cơ quan địa phơng chỉ 5,4%. Còn trong các doanh nghiệp,
cán bộ đại học và cao đẳng chỉ chiếm 32% so với Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản là
64,4%, Thái Lan 58,2%.

nền giáo dục đại học phát triển. Khi tỉ lệ dân c có trình độ đại học cao thì khả
năng tiếp thu, nắm bắt và vận dụng những thành tựu mới nhất của nhân loại về kĩ
thuật, công nghệ rất hiệu quả.
Trong hoàn cảnh hiện nay nớc ta còn nghèo, chúng ta cha đủ lực để thực
hiện đồng loạt những yêu cầu xã hội đòi hỏi, do đó phải lựa chọn sự u tiên để tiến
từng bớc vững chắc. Sự u tiên này phải thể hiện trong từng ngành và từng cấp.
Chẳng hạn, nhiêm vụ của giáo dục là góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và
hoàn thiện nhân cách, cả hai nhiệm vụ đó đều quan trọng, nhng nguy cơ tụt hậu
về kinh tế ngày càng xa của đất nớc đòi hỏi giáo dục phải lấy nhiệm vụ thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội làm u tiên. Từ đó, trong các chủ trơng của từng cấp học,
bậc học, ngành học, quan hệ giữa các ngành học, trong đầu t, xây dựng đội ngũ
phải quán triệt sự lựa chọn u tiên này.
Những năm qua, chúng ta đã nhận thức đợc vấn đề này và có những bớc
điều chỉnh, do đó cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân nớc ta đã có những đổi mới
nhất định. Giáo dục đại học ở nớc ta gồm hai cấp: Cấp đại học và sau đại học.
Cấp đại học chia làm hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, cấp sau
đại học có hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Cấp sau đại học trớc
đây đào tạo ba trình độ: Thạc sĩ, phó tiến sĩ và tiến sĩ, nhng cách tổ chức này sẽ
kéo dài thời gian học tập của học sinh tại trờng, thời gian phục vụ xã hội và cống
hiến cho khoa học sẽ rút ngắn, do vậy, cấp sau đại học bỏ bớt trình độ phó tiến sĩ,
chỉ còn hai trình độ là thạc sĩ và tiến sĩ. Sự điều chỉnh đó là phù hợp, tạo ra sự
thống nhất về hệ thống văn bằng giữa nớc ta với các nớc trong khu vực và thế
giới, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình giao lu giáo dục đào tạo. Những
chuyển biến có tầm chiến lợc ở giáo dục đại học có tác dụng đầu tàu đối với toàn
bộ hệ thống giáo dục quốc dân, thúc đẩy sự phát triển mạnh ở giáo dục phổ thông,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Những chuyển biến bớc đầu sang một thế
mới, một trạng thái mới của giáo dục đại học có tác dụng to lớn về đào tạo cán bộ,
nghiên cứu khoa học, lực lợng lao động sản xuất phục vụ xã hội, góp phần to lớn
vào quá trình ổn định và tăng trởng kinh tế xã hội ở nớc ta.


- Tạo quyền chủ động cho chủ thể sử dụng (các doanh nghiệp) quyết định lựa
chọn mua bán công nghệ kể cả việc trực tiếp quan hệ với bạn hàng nớc ngoài.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh chủ động sử
dụng có hiệu quả hơn những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
- Mở ra những hình thức mới không những tiếp cận mà còn thu hút đợc
công nghệ tiên tiến của thế giới.
Báo cáo tại hội thảo kinh tế Việt Nam, bộ trởng bộ khoa học công nghệ và
môi trờng Đặng Hữu đã đánh giá: Xem xét lại trong 363 dự án với tổng số vốn
gồm 2,7 tỉ USD và các hợp đồng chuyền giao công nghệ khác thấy rằng nhiều công
nghệ mới đợc đa vào Việt Nam đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ chung
của sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm.
Đồng thời bên cạnh những mặt tích cực những chính sách và cơ chế quản lý
kinh tế của nhà nớc với việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ phục vụ công
nghiệp hoá cũng còn có những mặt hạn chế tồn tại đó là:
- Thiếu sự định hớng rõ rệt trong đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ.
Hiện nay, nhà nớc vẫn cha xác định đợc chiến lợc phát triển khoa học và công
nghệ quốc gia làm cơ sở định hớng cho các hoạt động khoa học và công nghệ,
hoạch định chính sách công nghệ .Do thiếu định hớng hoạt động và chính sách
công nghệ, cụ thể hoá định hớng thành các quy định quản lý nên phải thừa nhận
rằng hiện tại các hoạt động để phát triển công nghệ đang diễn ra một cách tự phát,
thiếu sự quy hoạch và phối hợp tổng thể cả trong ngành lẫn ở địa phơng.
- Thiếu sự quan tâm tin tởng từ phía ngời đầu t cho phát triển công nghệ
đối với tính ổn định nhất quán của các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô
của nhà nớc. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự tin tởng an tâm từ phía ngời đầu
t trong và ngoài nớc là một yêu cầu rất quan trọng khi hợp tác. Những đổi mới
trong những chính sách và cơ chế quản lý kinh tế thời gian qua vẫn cha đợc đáp
ứng yêu cầu này. Nhiều văn bản của đảng nhà nớc, quốc hội đều nhận xét về môi
trờng kinh tế hiện naylà: Chinh sách quảnlý vĩ mô có nhiều sơ hở và thiếu sót, kỉ
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

về mặt lợng nguồn lao động của nớc ta là lớn nhng về mặt chất thì cha đủ để
đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Vì vậy phải có những giải pháp
nhằm nâng cao trình độ lao động phát triển cán bộ khoa học kĩ thuật để tạo ra một
sự biến đổi về chất lực lợng lao động nớc ta.

2.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nớc về khoa học và công nghệ trong thời
kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá
2.2.3.1. Một số thành tựu về ứng dụng khoa học và công nghệ ở nớc ta trong thời
kỳ đổi mới
Đất nớc ta, sau 12 năm đổi mới toàn diện, đã chấn hng đợc nền kinh tế,
đang bớc vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá. Khoa học và công
nghệ đã và đang có mặt ở hầu hết mọi lĩnh vực đời sống, sinh hoạt và sản xuất của
xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Công nghệ sinh học đã và đang cải thiện chất lợng các giống cây con.Công
nghệ súng bắn gien đã đợc ứng dụng thành công tạo ra giống lúa mới. Đang thử
nghiệm trên diện rộng chế phẩm EM hay các công nghệ phân vi sinh Biogas
trong công nghiệp.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.17

Trong y học, nhiều công nghệ mới đang đợc tiếp tục đa vào ứng dụng nh:
Laze phối hợp chất phát quang để điều trị ung th, vật liệu các bon trong phẫu thuật
ghép xơng, thay thận, hội chuẩn từ xa
Về công nghệ vật liệu mới, nhiều loại com-pô-dit, sợi các bon, gồm men sứ
cao cấp đã đợc nghiên cứu ứng dụng phục vụ sản xuất và tăng sức cạnh tranh của
hàng xuất khẩu.
Ngành năng lợng đẩy mạnh công nghệ tiết kiệm và sản xuất năng lợng tái

tế xã hội.
Khoa học tự nhiên, công nghệ và môi trờng đã thực hiện đúng tiến bộ với
145 đề tài trong 11 chơng trình nghiên cú khoa học cấp Nhà nớc. Nhiều đề tài
cấp bộ, tỉnh, thành phố trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y học, tài nguyên
và môi trờng Đã đợc xây dựng nhiều chơng trình đề tài ứng dụng khoa học và
công nghệ vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Những tồn tại cần khắc phục: Quản lý Nhà nớc trong khâu thẩm định, giám
định còn nhiều sơ hở và lúng túng nên nhiều cơ sở sản xuất đã nhập một số công
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.18

nghệ lạc hậu gây tốn kém không ít tiền của nh: Xi măng lò đứng, một số dây
chuyền mía đờng
Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghệ còn
nhiều kẽ hở nên đã có các vụ kiện về quyền tác giả trong xuất bản hay ăn cắp kiểu
dáng sản phẩm, hiện tợng hàng giả, hàng nhái vẫn có chiều hớng gia
tăng Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở một số cơ sở không thiết thực, trong thực
hiện thiếu tính khoa học, khi nghiệm thu thiếu khách quan, đôi khi đợc đánh giá
là xuất sắc nhng lại phải xếp vào lu trữ vì không ứng dụng đợc vào thực tế.
Việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn mất cân
đối, đặc biệt là các ngành sản xuất đòi hỏi công nghệ cao, lực lợng khoa học trong
lao động trực tiếp thiếu trầm trọng nên việc phổ biến, đa khoa học và công nghệ
vào thực tế sản xuất, đến các vùng sâu, vùng xa còn rất hạn chế và còn nhiều khó
khăn.

2.3. Chính sách huy động và sử dụng nguồn vốn
2.3.1. Thực trạng huy động vốn của nhà nớc
19

2.3.2. Thực trạng vai trò của Nhà nớc trong việc sử dụng và quản lý vốn
Những năm gần đây, đầu t của Nhà nớc bớc đầu đã có một số thay đổi
theo chiều hớng tốt, một số công trình đã phát huy tác dụng làm tăng thêm cơ sở
vật chất kĩ thuật cho bớc mới thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá.Tuy nhiên nhìn chung việc sử dụng vốn đầu t của Nhà nớc đến nay vẫn còn
rất lãng phí và kém hiệu quả. Quan niệm của Nhà nớc về đầu t còn đơn giản, chỉ
chú trọng vào đầu t xây dựng cơ bản để làm tăng tài sản cố định, cha quan tâm
thích đáng và gắn bó với đầu t xây dựng cơ sở nguyên liệu, đầu t vào con ngời
và phát triển khoa học kĩ thuật. Đối với cơ cấu đầu t cũng còn nhiều bất hợp lý:
Nhà nớc cha chú ý thích đáng đến đầu t cho kết cấu hạ tầng, hiệu quả vốn đầu
t thấp do không ít trờng hợp đầu t sai, cơ chế cấp phát vốn của Nhà nớc vẫn
còn mang tính chất bao cấp, thất thoát, tăng phí nhiều.Kết quả tính toán cho thấy
hiệu quả vốn đầu t hiện nay là rất thấp thể hiện qua sự so sánh giữa tổng số vốn
đầu t và giá trị tài sản cố định tăng thêm nh sau: Thời kì 1986 - 1990 cứ bỏ ra
100 đồng vốn đầu t thì chỉ thu đợc khoảng 50 động giá trị tài sản tăng thêm,
năm 1991 là 51,5 đồng và năm 1992 là 48,2 đồng, tỉ lệ thất thoát lên đến 30%. Sở
dĩ có sự thất thoát lớn nh thế là do cơ chế cấp phát, thanh toán đến giao nhận thấu,
nghiệm thu, quyết toán công trình có nhiều cơ quan quản lý nhng lại thiếu sự quy
định trách nhiệm cụ thể, không cơ quan nào chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối về số
vốn đầu t của Nhà nớc.
Tình hình quản lý và sử dụng vốn đầu t nớc ngoài cũng còn nhiều điều cần
phải xem xét lại. Những năm qua vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào nớc ta
tuy tăng nhanh qua các năm, song vẫn còn có sự mất cân đối về cơ cấu đầu t, việc
chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam còn bị hạn chế. Trong quá trình thực
hiện luật đầu t và triển khai các d án đã và đang xuất hiện những tiêu cực trong
việc lợi dụng sơ hở trong cơ chế chính sách của Nhà nớc. Có thực trạng trên là do:

trơng của Nhà nớc trong nền kinh tế. Các biện pháp quản lý của Nhà nớc ta
trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Trong nhận thức về công nghiệp
hoá đã có những nhìn nhận mới cả về mục tiêu, nội dung, quy mô lẫn biện pháp
quản lý. Mục tiêu của công nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay là
tăng cờng cơ sở vật chất kĩ thuật và trình độ công nghiệp, nâng cao trình độ hiện
đại hoá trong các ngành công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân.
Chủ trơng đờng lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đã đợc xác định toàn
diện thích hợp hơn. Đó là thực hiện công nghiệp hoá toàn diện trong các ngành
kinh tế quốc dân, có trọng điểm là công nghiệp, u tiên ngành công nghiệp chế
biến, có sự kết hợp chặt chẽ giữa trung ơng và địa phơng trong đó phải u tiên
cho các vùng trọng điểm. Thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá với sự đầu t
phát triển toàn diện nhng trong đó chú trọng nhất về công nghệ và tri thức công
nghệ.
Biện pháp thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng đợc Nhà nớc điều
chỉnh trong đó rõ nhất là: Thực hiện quy hoạch phát triển toàn diện kinh tế xã hội
theo từng cấp, căn cứ vào điều kiện và lợi thế so sánh cụ thể mà xác định quy hoạch
xác đinh các công trình theo yêu cầu công nghiệp hoá. Điều chỉnh cơ cấu đầu t
theo hớng tập trung và sớm dứt điểm để nâng cao hiệu quả đầu t, công tác đào
tạo cán bộ đợc tăng cờng mạnh ở những ngành chuyên môn đang rất thiếu nh:
Công nghệ, marketing quản trị kinh doanh và những lĩnh vực không thể thiếu khi
thực hiện công nghiệp hoá.
Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cha thống nhất trong biện pháp quản lý
thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cụ thể là:
Phơng hớng khai thác tiềm năng cha rõ ràng chính xác. Nhìn chung các
địa phơng đều đã xây dựng qui hoạch phát triển, trong đó phân tích khá rõ những
điều kiện và lợi thế của địa phơng mình, nhng phân tích để làm rõ những lợi thế
so sánh trong xu thế phát triển chung của nớc ta và thế giới còn có những điểm
khác xa nhau.
Tiến trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cha đợc nhà nớc dịch ra
cụ thể. Về tổng quát, quá trình công nghiệp hoá sẽ đợc thực hiện trong thời gian
Chơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nớc
trong quá trình công nghiệp hoá ở nớc ta trong thời gian tới

3.1. Định hớng quá trình công nghiệp hoá
3.1.1. Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá
Để nâng cao vai trò của mình trong việc định hớng cho quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế, Nhà nớc cần phải:
Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế nhất là kinh tế Nhà nớc, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc nhằm phát huy
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác

ngoài. Trớc hết u tiên cho những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự
phát triển.
- Nhà nớc chú trọng xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng
trọng yếu và hết sức cấp thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. u tiên
phát triển dịch vụ du lịch, khai thác có hiệu quả lợi thế về tự nhiên, truyền thống
lịch sử văn hoá dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Về cơ cấu giữa thị xã thị trấn, thành phố và đô thị thì:
Tuỳ điều kiện từng nơi, tất cả các thị xã thị trấn đều phải đợc phát triển trên
cơ sở đẩy mạnh công nghiệp dịch vụ mang ý nghĩa tiểu vùng. Phát triển các đô thị
vệ tinh xung quanh các thành phố lớn để dãn bớt công nghiệp và dân c, tránh sự
tập trung quá mức vào Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện cần thiết để
thu hút công nghiệp và phát triển đô thị mới lên vùng trung du, tránh sử dụng nhiều
diện tích đất lúa.
Hạn chế mở rộng quy mô các thành phố lớn. Sớm quy hoạch mạng lới đô thị
lớn, vừa và nhỏ trong toàn quốc phù hợp với phát triển kinh tế xã hội. Phát triển đô
thị phải đi đôi với việc xây dựng và quản lý các công trình công cộng (điện, cấp,
thoát nớc, cây xanh ).

3.1.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lợng nguồn
nhân lực
Cần có nhận thức rõ ràng rằng, chiến lợc trong cạnh tranh quốc tế gay gắt là
vấn đề nhân tài. Sự cạnh tranh tổng hợp của một đất nớc trong thời đại hiện nay
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.23

không tách rời việc bồi dỡng nhân tài, càng không tách rời việc nâng cao phát huy
năng lực nội sinh, tố chất trí tuệ của hàng triệu ngời lao động ở tuyến đầu sản

Cần đa việc cấp bằng, chứng chỉ trong nớc đi vào nề nếp. Đây là biện pháp
tôn vinh nguồn nhân lực đã đợc đào tạo thực sự và giáo dục đào đức cho thế hệ
trẻ. Nhiều cán bộ khi còn là học sinh trong các trờng tiểu học, trung học chỉ học
lực trung bình, khi ngoài 40; 50 tuổi muốn giữ vị trí của mình hay thăng tiến chỉ
cần học hàm thụ một vài năm là có một bằng đại học, bằng thạc sĩ hay cao hơn.
Liệu những ngời có những tấm bằng dễ dàng nh vậy còn tôn trọng và thúc đẩy
phát triển nhân lực trong nớc hay không? Để lành mạnh đội ngũ tri thức, các cơ
quan chức năng nên thanh tra, kiểm tra chặt chẽ quá trình đào tạo ở các cấp, bảo
đảm chất lợng theo đúng quy trình, quy chế đào tạo.
Tăng cờng đầu t tài chính của nhà nớc, đồng thời tăng trởng quản lý,
kiểm tra tổ chức sử dụng một cách hợp lý. Hội nghị trung ơng lần thứ 2 (khoá
VIII) đã định hớng đầu t cho khoa học và công nghệ tăng dần đến năm 2000 là
2% và đối với giáo dục đào tạo là 15% trong tổng chi NSNN là rất đúng đắn, phù
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.24

hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Hiện nay, còn có hiện tợng xin và
cho môt số đề tài và dự án, gây tiêu cực và lãng phí tiện của Nhà nớc, của nhân
dân, cần chấn chỉnh sớm để làm lành mạnh hoạt động đầu t nâng cấp cho khoa
học và công nghệ cũng nh giáo dục đào tạo.
Đào tạo bồi dỡng, nâng cao chất lợng nguồn nhân lực từ giai cấp công
nhân, lực lợng quan trọng của cách mạng Việt Nam. Mô hình tháp lao động ở
nớc ta hiện nay là 88% lao động không lành nghề; 5,5% lao động lành nghề; 3,5%
chuyên viên kĩ thuật; 2,7% kỹ s; 0,3% nhà khoa học và chuyên gia. Trong khi đó,
tháp lao động của các nớc công nghiệp thờng là 35% lao động không lành nghề;
35% lao động lành nghề; 24,5% chuyên viên kĩ thuật; 5% kỹ s và 0,5% nhà khoa
học và chuyên gia. Vậy muốn xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, đội

chủ động trong học tập, nghiên cứu thực nghiệm của ngời học dới sự hớng dẫn
của ngời dạy. Nội dung giảng dạy ở cấp đại học phải đảm bảo nguyên tắc kế thừa
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hiện đại và phát triển phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội. Xây dựng lại nội dung chơng trình, biên soạn các tài liệu học tập
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status