Địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh - Pdf 15

Địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh
Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: "Topos" (vị trí) và "omoma" / "onyma"
(tên, gọi). Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (Toponymic) và nhân danh
học (Athronymic) thuộc bộ môn khoa học có tên là danh xưng học
(onomasiologie). Trên lý thuyết, danh xưng học còn có một ngành khoa học nữa là
vật danh học (nghiên cứu tên riêng của các thiên thể, nhãn hiệu sản phẩm, biển
hiệu…). Tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu, ghi nhận bằng các địa danh và
những nhà nghiên cứu tên gọi đó là các nhà địa danh học.
1. Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: "Topos" (vị trí) và "omoma" /
"onyma" (tên, gọi). Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (Toponymic) và
nhân danh học (Athronymic) thuộc bộ môn khoa học có tên là danh xưng học
(onomasiologie). Trên lý thuyết, danh xưng học còn có một ngành khoa học nữa là
vật danh học (nghiên cứu tên riêng của các thiên thể, nhãn hiệu sản phẩm, biển
hiệu…). Tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu, ghi nhận bằng các địa danh và
những nhà nghiên cứu tên gọi đó là các nhà địa danh học. Trong tác phẩm Địa
danh học là gì, A.V. Xuperanxkaja đã định nghĩa: "Địa danh là một chuyên ngành
của ngôn ngữ học nghiên cứu các tên gọi địa lý, giải thích sự cấu tạo, lịch sử xuất
hiện của chúng và phân tích ý nghĩa ban đầu của các từ cấu tạo nên địa danh" (7,
tr.3). ở Việt Nam, các quyển từ điển giải thích cũng đã lý giải nội dung của thuật
ngữ này và hơn thế đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về địa danh của Lê
Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Trần Văn Dũng, Phan Xuân Đạm… Trong bài
viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu sự tồn tại của địa danh trong tục ngữ Nghệ Tĩnh.
Tư liệu khảo sát là "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh". ở đấy, chúng
tôi đã thống kê được tất cả 1.894 mục từ: 998 thành ngữ và 896 tục ngữ. Hai đơn
vị này được quan tâm, nghiên cứu trong ngôn ngữ học, văn hoá dân gian, văn hoá
học… Dĩ nhiên, do cách tiếp cận mà mỗi ngành học, người nghiên cứu hai đơn vị
này theo những cách khác nhau. Theo quan sát của chúng tôi, xét về độ dài thì bao
giờ tục ngữ cũng dài hơn thành ngữ và sự tồn tại của địa danh trong tục ngữ nhiều
hơn hẳn thành ngữ. Có lẽ lý do này được giải thích bằng những đặc trưng, nội
dung, kết cấu của từng đơn vị. Xin đơn cử tục ngữ dài nhất và rất nhiều địa danh
(36 âm tiết): Lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống, lắm nống Do Nha, lắm cà

với dự báo thời tiết, gắn với đặc sản, nghề nghiệp… hoặc những nét riêng về sự
học hành, đỗ đạt… và ngay cả những thói xấu nữa. "Bà rú Lông đi ông rú Trà"
liên quan đến hai địa danh thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An. Rú Trà thuộc xã
Thanh Phong, rú Lông thuộc xã Thanh Hương. Tục ngữ này sử dụng cách nói
nhân hoá để chỉ một hiện tượng khí hậu ở địa phương. Về mùa gió Lào gió thường
thổi chiều từ rú Lông gây nên những cơn lốc nhỏ thổi xuống rú Trà làm cho nhà
cửa đổ sập, mùa màng hư hại. Khi xẩy ra hiện tượng này, dân địa phương quan
niệm là bà thần rú Lông đi thăm ông thần rú Trà.
“Bà rú Lông đi ông rú Trà
Ngã nghiêng cây cối cửa nhà vẹo xiên”
(Đồng dao)
"Mây rú Hôống dựng lên cao dê ra ăn trự thế nào cũng mưa".
Dê ra ăn trự: dê vốn là loại động vật ăn cỏ rất nhạy cảm với thời tiết, hễ cảm thấy
sắp mưa thì thế nào chúng cũng ăn gắng dự trữ khi mưa dài ngày. Kinh nghiệm
của người dân địa phương, thấy núi Hồng mây dựng lên cao theo sườn núi, dê đã
quá bữa rồi mà vẫn gắng ăn thì thế nào trời cũng mưa. "Mống rú Vạc lạc cạc dọn
lụt": nghĩa là mống rú Vạc là dấu hiệu trời sắp mưa lụt… Tương tự như thế, kiểu
như: sổ làng Lạch lau lách cũng khô, sổ cầu Bùng lấy thùng đựng nác, sổ quàng
Rông hướng Đông thì bão, …
Muốn xem xét, xác định văn hoá Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh
Đông Nam á. Đơn vị quan trọng của cư dân văn hoá lúa nước là làng, Nước là
làng nâng cao và làng là nước thu nhỏ. Hàng loạt tác giả cũng đã biết nhiều về
làng. Làng ở khu vực Nghệ Tĩnh cũng thế. Trên thực tế, có những làng nổi tiếng
về những mặt, nghề nghiệp khác nhau. Ví dụ như làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu nổi
tiếng về học hành, khoa bảng, làng Nho Lâm, Diễn Châu nổi tiếng về nghề rèn,
làng Vạn Phần, Diễn Châu nổi tiếng về nghề nước mắm,… lại cả những nghề khác
như đan võng, dệt vải, dệt chiếu, cách phản ánh của nghệ sĩ dân gian trong tục ngữ
cũng rất Nghệ: "Bạo ăn Trường Lại bạo cãi Trường Phong". Trường Lại và
Trường Phong là hai làng thuộc xã Kỳ Thịnh, Kỳ Anh nổi tiếng ăn khoẻ và hay lý
sự. "Siêng làng Trác nhác làng Sau lắm rau làng Nồi bạo ngồi Đồng Cạn lắm bạn

“Cá sông Giăng măng chợ Cồn": sông Giăng và chợ Cồn đều thuộc huyện Thanh
Chương, Nghệ An.
Cá sông Giăng, măng chợ Cồn
Thanh Liên, Nhân Lạc, chợ Đồn lắm khoai.
(Hát phường vải)
"Bưởi Phúc Trạch cam bù Hương Sơn hồng vuông Thạch Hà" là những đặc
sản thuộc các huyện Hà Tĩnh. Hoặc như: Cá bàu Nậy chè khe Yên, cá Cửa
Nhượng khoai Mục Bài, cá rô Bàu Nón nước tương Nam Đàn, cau Lường trù
Hiếu", …
Liên quan đến điều vừa nêu trong tư liệu của chúng tôi có tồn tại 3 tục ngữ có số
lượng âm tiết và cấu trúc giống nhau: Trai Đông Thái gái Yên Hồ; Trai Đông Phái
gái Phượng Lịch và Trai Cát Ngạn gái Đô Lương. Hai tục ngữ "Trai Đông Thái
gái Yên Hồ" và "Trai Đông Phái gái Phượng Lịch" nghĩa gần như nhau và chỉ
khác nhau về địa danh. Đông Thái thuộc xã Châu Phong, Yên Hồ thuộc xã Đức
Diên, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Trai Đông Thái nổi tiếng thanh lịch, tài giỏi, gái
Yên Hồ xinh đẹp, giỏi giang. Trai gái hai làng thường kết duyên Tấn Tần với nhau.
Trai tài - gái sắc, anh hùng - thuyền quyên nổi tiếng cả một vùng đất văn vật xưa
nay. Câu này thường được dùng như một hoán dụ để thể hiện niềm tự hào của
người dân xứ này về đất nước và con người quê mình:

Trai Đụng Thái gái Yên Hồ
Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên
(Ca dao)
Còn "Trai Đông Phái gái Phượng Lịch" nghĩa cũng như trên nhưng hai địa
danh này lại thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An.
"Trai Cát Ngạn, gái Đô Lương" là nghĩa hoàn toàn trái với hai tục ngữ vừa nêu.
Cát Ngạn nay là xã Cát Văn, huyện Thanh Chương và Đô Lương là một huyện
thuộc tỉnh Nghệ An. Trai Cát Ngạn gái Đô Lương nổi tiếng buôn bán táo tợn, đanh
đá.
Gái này là gái Đô Lương

biệt có hai nhân thần được thờ cúng khắp nơi, đó là Lý Nhật Quang và Hoàng Tá
Thốn. Hippolyte Le Breton đã viết: "ở An Tĩnh có câu phương ngôn rất nổi tiếng:
"Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần", nghĩa là: "Tỉnh Thanh Hoá dựa vào ân huệ của
vua, đất Nghệ Tĩnh được thần phù hộ". Nếu cho đến ngày nay, Thanh Hoá là đất
được hưởng của triều Nguyễn. Nhưng Nghệ Tĩnh không ganh tị về chuyện đó vì
Nghệ Tĩnh lại là đất được lựa chọn của những vị thần bảo hộ. Và các vị thần ấy
đều được thờ cúng một cách trang trọng vô chừng. Nghệ An lấy làm hãnh diện có
bốn trong số những ngôi đền đẹp nhất ở An Nam: "Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã
Chiêu Trưng" (4, tr.29).
Qua nhận xét vừa nêu, chúng ta có thể hiểu được tục ngữ "Thanh cậy thế
Nghệ cậy thần". Thanh Hoá là nơi sinh nhiều vị vua chúa. Thời Lê Sơ tồn tại 99
năm (1428 - 1527), mở đầu là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và có 11 vị vua. Thời Lê Trung
Hưng (1533 - 1788), tồn tại 255 năm, trải 17 đời vua. Triều Nguyễn trải qua 9 đời
chúa, 13 đời vua. Riêng Vương triều Nguyễn trải 143 năm (1802 - 1945), mở đầu
là Nguyễn Thế Tổ, tức Gia Long (Phước ánh). "Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã,
Chiêu Trưng" là các địa danh liên quan đến 4 ngôi đền ở Nghệ Tĩnh. Đền Cần tức
đền Cờn. Về ngôi đền này, Phan Huy Chú đã viết rất cụ thể "Đền Cần Hải còn gọi
là đền Cờn ở huyện Quỳnh Lưu. Chuyện kể ngày xưa có ba mẹ con công chúa
Nam Tống bị chết chìm; xác trôi vào đây nhưng thây hãy còn tươi tắn như khi
đang sống, người địa phương lấy làm lạ nên họ lo chôn cất và lập mộ đàng hoàng.
Về sau, khi Trần Thánh Tông cầm quân đi dẹp Chiêm Thành có trú quân ở cửa
biển này, đêm nằm vua mộng thấy một người đàn bà nói rằng: Thiếp là con gái
của nhà Triệu, vì sóng gió mà phiêu bạt vào đây, đã được thượng đế phong làm
thần biển, nay nghe Bệ hạ đi dẹp phương Nam, thiếp xin được đi theo phù hộ để
Bệ hạ lập nên công lớn. Sáng hôm sau vua hỏi các bô lão địa phương mới biết ra
sự tích ấy, đến lúc nhà vua tiếp tục đi thì thấy sóng yên biển lặng, vua xuống chiếu
lập đền thờ và cúng tế. Đền này ngày càng nổi tiếng và linh thiêng, tên đền là
Thánh Nương và được phong là Thượng Đẳng Thần. Chuyện này thấy chép trong
Linh ưng truyện. Ông Phan Chánh An có làm thơ:
Hương hoả thiên thu âm tục - Tống

Các bộ lạc Chiêm nghe tin, đều đến hàng phục và xin theo mệnh lệnh chúa Chiêm
Thành. Vương bèn đem quân về. Người Chiêm Thành tưởng nhớ ơn đức lập đền
thờ ở dưới chân núi Tam Toà. Sau Vương dời phủ lỵ Nghệ An đến địa phận xã
Bạch Đường, rồi mất. Người địa phương tưởng nhớ lập đền thờ" (6, tr.189).
Đền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Đền Bạch Mã thờ
tướng quân Phan Đà, một vị tướng trẻ nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn,
từng lập nhiều chiến tích oanh liệt, được Bình Định Vương Lê Lợi rất yêu mến.
Ông người cao lớn, hùng dũng, dung mạo rất đẹp. Lê Lợi ban cho ông một chiến
mã màu trắng (bạch mã), một bộ giáp trắng. Lúc ra trận, trông ông kiêu hùng như
Mã Siêu thời Tam Quốc. Ông vì mê hát bội mà bị giặc Minh phục kích rồi tử trận.
Sau khi mất, Lê Thái Tổ cho lập đền thờ tại nơi ông mất, tục gọi là đền Bạch Liêu.
Đền Chiêu Trưng thờ Lê Khôi. Ông là cháu ruột, con người anh trai của Lê
Lợi và là một võ tướng từng lập nhiều chiến công trong nghĩa quân Lam Sơn.
Quân công hiển hách nhất của ông là cùng với đại tướng quân Lê Vấn chỉ huy
3000 thiết đội quân phối hợp với cánh quân Lê Sát tiến công quân Minh ở đồn
Xương Giang tháng 10 năm Đinh Mùi (11/1427) bắt sống bọn Thôi Tụ, Hoàng
Phúc và ba vạn quân giặc. Năm Thuận Thiện thứ hai (1429), Lê Thái Tổ xét công
bình ngô, ông được xếp hạng công thần, được phong tước Đinh Thượng Hầu. Năm
sau, ông cùng Tư Mã Lê Liệt đem quân vào trấn thủ Thuận Hoá. Thời Lê Thánh
Tông ông được phong hàm Tư mã tham tri chính sự, thời Lê Nhân Tông thăng tiếp
chức Khâm sai tiết chế thuỷ bộ chủ doanh, thượng tướng quân nhập nội thiếu uý
Tư Mã. Năm Thái Hoà thứ tư (1446), ông vâng mệnh làm tướng trong đội quân đi
đánh Chiêm Thành do Bình Chương Lê Thụ làm tiết chế. Ông cùng Lê Thụ chỉ
huy quân đội vây thành Chà Bàn bắt sống Vua Chiêm là Bí Cai giải về triều. Khi
qua cửa Nam Giới, ông lâm trọng bệnh rồi mất tại đây. Vua Nhân Tông nghe tin
bãi triều ba ngày, rồi sai quân đến cửa Nam Giới tổ chức điếu tang trọng thể và
xây lăng mộ cho ông ở phía Tây chân núi Long Ngâm, nay thuộc xã Thạch Kim,
Thạch Hà, Hà Tĩnh. Nhân dân địa phương cảm công đức của ông đã lập đền thờ
ông tại đây. Tục gọi là đền Chiêu Trưng đại vương; lại còn có tên gọi là đền Võ
Mục, tức là gọi theo tên huý của ông.

tiếng Nga).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status