Đọc Địa danh Việt Nam trong tục ngữ-ca dao
Quý 1 năm 2007, cuốn sách "Địa danh Việt Nam trong tục ngữ-ca dao" (Nxb Từ điển
Bách khoa, 772tr.) do tác giả Vũ Quang Dũng biên soạn được xuất bản. Đây là cuốn sách
được biên soạn khá công phu, lần đầu tiên một số lượng lớn các địa danh ở Việt Nam xuất
hiện trong các câu ca dao, tục ngữ được tác giả tập hợp, chú giải theo dạng từ điển. Đọc qua
cuốn sách, chúng ta thấy được công sức tác giả đầu tư cho cuốn sách là khá lớn. Thông qua
các địa danh xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ ở khắp mọi vùng Tổ quốc, chúng ta có
được những hiểu biết phong phú về phong tục tập quán, đặc sản, làng nghề truyền thống,
các nhân vật lịch sử, di tích, thắng cảnh...của đất nước mình. Tuy vậy, cuốn sách vẫn còn
những hạn chế nhất định. Cụ thể là về tài liệu tham khảo, cách thức ghi nguồn, làm bảng tra
cứu, lỗi morát, chú giải nội dung mục từ, việc xác định địa danh.
Đầu tiên là về nguồn tài liệu tham khảo. Trong số 33 tựa sách tác giả dùng để làm dẫn liệu
trong Địa danh Việt Nam trong tục ngữ-ca dao thì hầu như các sách biên soạn về văn học dân gian
ở Nam Bộ còn thiếu vắng khá nhiều, chỉ thấy một vài tên sách như Ca dao Đồng Tháp Mười, Văn
học dân gian Bến Tre, Văn học dân gian Tiền Giang (tập 1). Một điều nữa, là tác giả có ghi nguồn
"tư liệu điền dã" trong bảng sách dẫn, nhưng chúng tôi chỉ thấy có 2 địa danh trong tổng số mấy
ngàn địa danh trong sách được tác giả trực tiếp khảo sát. Đó là An Tử (làng) (tr.25) và Tri Chỉ
(làng) (tr.597).
Cách thức ghi nguồn dẫn tài liệu dưới mỗi địa danh cũng còn có chỗ bất hợp lý. Việc ghi dồn
nguồn xuất xứ của tất cả các câu ca dao, tục ngữ đối với 1 địa danh (mà có nhiều câu) chỉ tiện lợi
cho việc trình bày mục từ (địa danh) nhưng lại gây khó khăn cho người đọc. Bởi lẽ sẽ không xác
định được câu ca dao, tục ngữ đó được trích trong sách nào vì chúng được sắp xếp không theo một
thứ tự nào! Có thể thấy rõ điều đó qua rất nhiều địa danh ở trong sách như: An Nhơn (huyện)
(tr.20), Bến Thành (chợ) (tr.54), Bến Tre (tỉnh) (tr.55), Rạch Gầm (rạch) (tr.499)...
Toàn bộ cuốn sách dày 772 trang, song có tới 98 trang bảng tra. Đó là các bảng tra cứu: Địa
danh tự nhiên, Địa danh tên Nôm làng xã, Địa danh lịch sử văn hoá- kiến trúc nghệ thuật, Địa danh
kinh tế- xã hội. Vì đây là sách tra cứu dạng “từ điển” nên các bảng tra như trên rõ là không cần
thiết. Điều cần lưu ý thêm với tác giả là các khái niệm “địa danh kiến trúc nghệ thuật”, “địa danh
kinh tế- xã hội” không hề có trong bảng phân loại của các nhà địa danh học.
Lỗi morát đây đó xuất hiện khá nhiều trong sách đã làm lệch đi ý nghĩa trong việc “thưởng
thức” văn học dân gian hay việc tìm hiểu các thông tin về mỗi địa danh.
động nhân dân mở con đường đèo Le. Công trình được hoàn thành vào mùa hè 1939 (theo Thạch
Phương, TP. Hồ Chí Minh).
Nhân đây xin cung cấp thêm một dị bản nữa: Gập ghềnh Giảm Thọ – Đèo Le / Cu cu quảy mè,
cà cưỡng cõng con.
Giồng Luông (ấp) (tr.247) nên sửa xã Đại Điển thành xã Đại Điền cho đúng.
Hậu (sông) (tr.278) sách ghi “cửa Đanh An”, đúng ra phải gọi là cửa Định An. Cửa này cùng
với cửa Trần Đề và cửa Ba Thắc đưa nước sông Hậu đổ ra biển Đông, chỗ giáp giới giữa hai tỉnh
Trà Vinh và Sóc Trăng. Trước năm 1829 gọi là Lai Cảng, nằm về phía bắc cửa Trần Đề (hay Trấn
Di) (Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr.203)
Hội An (tr.298) có câu Chầu rày xa phố Hội An lại bị biến thành “chầu này”, làm mất đi vẻ đẹp
của câu ca dao xứ Quảng. Chầu rày trong tiếng địa phương có nghĩa là “từ nay”.
Mỹ Hội (xã) (tr.387) trong câu ca dao Biết vào Đồng Tháp, ăn bông súng với củ co thấu trời
nên sửa “Biết” thành “Bắt” cho chính xác.
Mỹ Lồng (chợ) (tr.387) xã Mỹ Thạnh in nhầm thành Mỹ Thạch.
Rạch Gầm (rạch) (tr.499) Bầu ghe đóm đậu sáng trời sửa lại “Bần gie” cho đúng với câu ca dao
trong sách đã dẫn. Ở Mỹ Tho (Tiền Giang) cũng có một dị bản khác: Bần gie đóm đậu sáng ngời/
Rạch Gầm Xoài Mút muôn đời oai linh.
Sa Hoàng (mũi) (tr.506) câu Gác ra khỏi mũi Sa Hoàng nên chỉnh lại thành “Vát ra” cho đúng.
Chạy vát (louvoyer, faire des bordée) là chạy thuyền theo hình dích dắc theo một hướng nào đó để
tránh hoặc lợi dụng gió ngược. Vè Các lái có nhiều câu như: Vát mũi chạy vào Bãi dài, Con Nghê;
Vát một hồi tỏ rạn Thuỳ Vân; Vát một hồi lồng lộng xa khơi. Câu ca dao Vát ra khỏi mũi Sa
Hoàng/ Kìa là Bú Nú, Tam Quan nhiều dừa được dẫn trong sách này vốn là một câu trong bài Vè
Các lái (Hát vô) của dân ghe bầu miền Trung.
Sở Thượng (địa danh) (tr.522) “ngặt” in sai thành “ngắt”.
Sơn Đốc (ấp) (tr.522) địa danh Mỹ Bồng sửa lại Mỹ Lồng (Bến Tre) cho chính xác.
Tân Phước (xã) (tr.538) sửa “cá lác” thành “cá lóc”. Cá lóc nấu canh chua thì ngon tuyệt!
Tổng Châu (chợ) (tr.586) trong câu Thấy cô đươm đệm trên đầu giắt ghim, sửa từ “đươm”
thành “đươn”(đồng nghĩa với đan).
Trong việc chú giải nội dung mục từ của sách Địa danh Việt Nam trong tục ngữ-ca dao nổi lên
một số lỗi cơ bản như: không chú giải địa danh, chú sai về địa danh, chú giải những thông tin
Chợ Củi có chợ ngôi chợ mang tên chợ Củi chuyên bán củi được khai thác từ phía thượng nguồn,
kết bè thả trôi về, nhằm cung cấp chất đốt cho dinh trấn Thanh Chiêm, các lò gạch ở phía Thanh
Hà, phố cổ Hội An và các tàu thuyền nước ngoài đến đây buôn bán trong các thế kỷ XVII-XVIII.
Chợ nằm phía bên tả ngạn sông Chợ Củi, nay không còn nữa. Theo sách Đại Nam nhất thống chí
năm Tự Đức thứ 3 (1850), sông Chợ Củi đổi tên thành Sài Thị Giang và được ghi vào điển thờ.
Tên đoạn sông được lấy từ tên chợ. Nơi đây, xưa cũng có bến đò mang tên Chợ Củi. (theo Thạch
Phương, TP. Hồ Chí Minh) Dơi (hang) (tr.158) tác giả có chú là ở chân đèo Hải Vân song không
cho biết là thuộc tỉnh Thừa Thiên- Huế hay TP. Đà Nẵng. Hang Dơi nay thuộc xã Lộc Hải, huyện
Phú Lộc (Thừa Thiên- Huế).
Chú sai về địa danh là lỗi thường bắt gặp trong sách.
Ba Giồng (ngã ba) (tr.29) ở phần chú giải thì nói rõ là chỉ hệ thống ba giồng cát chạy dài từ
huyện Châu Thành, Cai Lậy đến Cái Bè thuộc tỉnh Tiền Giang. Nhưng ở loại hình địa danh thì cho
là “ngã ba”, chắc có lẽ nhầm với địa danh ngã ba Giồng (nay thuộc xã Xuân Thới Thượng, huyện
Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh), tại đây vào năm 1941 Pháp đã xử bắn Nguyễn Thị Minh Khai, Lê
Hồng Phong, Phan Đăng Lưu... trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
Bảo (làng) (tr.44) sách chép “tức Cù Lao Bảo thuộc tỉnh Bến Tre” đã là quá sai. Cù lao Bảo
cùng với cù lao Minh và cù lao An Hóa là ba cù lao hình thành nên diện mạo tỉnh Bến Tre, một
tỉnh có độ dài sông rạch đứng nhất nước. Hiện cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành,
huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.
Bắc Thành (làng) (tr.48) là “tên gọi xuất hiện vào thời Lê Trung Hưng, chỉ vùng đất phía bắc
gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hà Tây, Hà Nội”. Tác giả đã
chú sai địa danh này, Bắc Thành mãi đến đầu thời vua Gia Long (1802-1819) mới thành lập, gồm
11 trấn với 5 nội trấn (Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương) và 6
ngoại trấn (Tuyên Quang, Hưng Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên) (Nguyễn
Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu & cương vực qua các thời đại, Nxb Trẻ, 1999, tr.86). Do vậy
không thể đồng nhất “làng” là “Bắc Thành”, tức cả Bắc Bộ hiện nay.
Cái Cối (cầu) (tr.81) xã Thạnh Mỹ An sửa lại thành xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre) cho đúng
và huyện Thạnh Mỹ trước nay chưa từng có ở tỉnh Bến Tre. Cầu Cái Cối là cây cầu sắt bắc qua
sông Bến Tre, trên tỉnh lộ 887 và 885 từ thị xã Bến Tre về hai huyện Giồng Trôm và Ba Tri. Rạch
Cái Cối nằm bên tả ngạn sông Bến Tre, đối diện với chợ Bến Tre. Do ở đây có nghề đóng cối xay
Can Lộc (huyện) (tr.83) có các thông tin về vị trí, diện tích, dân số và các đơn vị hành chính.
Nếu thông tin của mục từ chỉ có vậy thì chẳng khác từ điển các đơn vị hành chính. Sao tác giả lại
không nêu những thông tin về đặc trưng văn hóa- lịch sử của Can Lộc (Hà Tĩnh). Chẳng hạn như
về truyền thống khoa cử, nơi đã từng sản sinh ra những nhân tài cho đất nước như: Lê Trực, Phan
Kính, Nguyễn Huy Oánh, Ngô Đức Kế, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Đổng Chi,
Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Nguyễn Đình Tứ, Phan Đình Diệu...
Chợ Lách (huyện) (tr.118) cũng tương tự như địa danh Can Lộc nhưng có nêu được đặc điểm
về thổ nhưỡng gắn với vùng đặc sản trái cây của tỉnh Bến Tre.
Dóng (làng) (tr.156) mô tả chi tiết tới diễn trình lễ hội Phù Đổng Thiên vương. Thiết nghĩ, các
từ điển lễ hội, lễ tục sẽ làm việc này tốt hơn là mục tiêu đặt ra cho cuốn sách này.