Luận văn tiến sĩ: Sự tiếp biến nho giáo ở việt nam qua tục ngữ, ca dao, dân ca người việt - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Nguyễn Thị Kim Phƣợng
SỰ TIẾP BIẾN NHO GIÁO Ở VIỆT NAM
QUA TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA
NGƢỜI VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Phản biện độc lập:
1. PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn
2. PGS. TS. Nguyễn Thành Thi
Phản biện 1: PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Công Lý
Phản biện 3: TS. Hồ Quốc Hùng

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Sự tiếp biến Nho giáo ở Việt Nam qua tục ngữ,
ca dao – dân ca người Việt là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự
trùng lắp, sao chép của bất cứ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu nào của các
tác giả khác. Tác giả luận án Nguyễn Thị Kim Phƣợng LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được công trình khoa học này, ngoài sự nỗ lực của bản thân
chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, những góp ý khoa học, những lời chia sẻ,
động viên chân thành của quý vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy cô giáo, đồng nghiệp và bạn
hữu…

1.2.1. Tổ chức nhà nước………………………………………………………….27
1.2.2. Luật pháp………………………………………………………………….31
1.2.3. Giáo dục……………………………………………………………….…39
1.2.4. Văn học – Nghệ thuật……………………………………………………46
1.3. Nho giáo và tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt……………………….51
Chƣơng 2: SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO VÀ THIÊN MỆNH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƢỜI VIỆT…………… 64
2.1. Phạm trù Đạo…………………………………………………………….…64
2.1.1. Đạo trong kinh điển……………………………………………………….64
2.1.2. Đạo Nho giáo………………………………………………………… …66
2.1.3. Đạo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt…………………………68
2.2. Phạm trù Thiên mệnh…………………………………………….……….79
2.2.1. Thiên mệnh trong kinh điển………………………………………………79
2.2.2. Thiên mệnh trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt…………………86

Chƣơng 3: SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TRUNG – HIẾU, NHÂN –
NGHĨA TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƢỜI VIỆT………….100
3.1. Cặp phạm trù Trung – Hiếu………………………………………… ….100
3.1.1. Trung……………………………………………………………… ……100
3.1.2. Hiếu……………………………………………………………………….109
3.1.3. Sự kết hợp Trung Hiếu (Hiếu Trung)…………………………………… 130
3.1.4. Trung, Hiếu đối sánh với Tình……………………………………….….134
3.2. Cặp phạm trù Nhân – Nghĩa (Nghĩa – Nhân) ………………….………137
3.2.1. Nhân………………………………………………………………………137
3.2.2. Nghĩa………………………………………………………………….…145
3.2.3. Sự kết hợp Nhân Nghĩa (Nghĩa Nhân) …………………………………163
Chƣơng 4: SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TIẾT TRINH, TAM TÒNG
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƢỜI VIỆT…………….… …167
4.1. Phạm trù Tiết trinh …………………………………………………….…167
4.2. Phạm trù Tam tòng……………………………………………………… 182

thức nào đó. Hình thức nào, nội dung gì là những vấn đề không đơn giản nhƣng cần
phải làm rõ để có những đánh giá đúng về vai trò của đạo đức Nho giáo nói chung,
Khổng giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần và tâm thức của ngƣời dân Việt.
Thiết nghĩ văn học dân gian là một trong những nguồn tƣ liệu có thể giúp chúng tôi
tìm hiểu vấn đề một cách khách quan và cũng là nơi có các trả lời thấu đáo cho
2
những câu hỏi trên, vì vốn dĩ đó là một trong những nguồn tƣ liệu phản ánh đầy đủ,
rõ nét đời sống tình cảm, tƣ tƣởng của tầng lớp bình dân Việt Nam. Bƣớc đầu chúng
tôi khảo sát nguồn tƣ liệu văn vần, tục ngữ và ca dao – dân ca ngƣời Việt.
Mặt khác, qua nguồn tƣ liệu này cũng cho thấy tinh thần học hỏi, tiếp thu và
thái độ ứng xử của cha ông ta trƣớc những hiện tƣợng tích cực, tiêu cực do các
luồng tƣ tƣởng bên ngoài mang đến. Chúng ta có thể hiểu rõ hơn nguyên nhân
phong phú và trƣờng tồn của di sản văn hóa tinh thần mà các thế hệ trƣớc để lại,
trong đó có những giá trị làm ngƣời tiếp biến từ Nho giáo. Điều mà trong một
khoảng thời gian khá dài chúng ta đã có những định kiến, hành xử thiên lệch nhƣ lời
của nguyên Thứ trƣởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp nhận xét về tình hình sƣu tập, lƣu
giữ văn học dân gian trong những năm đầu sau khi giành đƣợc độc lập. Vì vậy, sau
những lời phê phán, ông đã yêu cầu: “Chúng ta tôn trọng cả vốn cổ điển của các nhà
nho lẫn vốn cổ dân gian, không coi thƣờng mặt nào, nhƣng cũng không nên mù
quáng nhắm mắt theo cái cổ mà phải kiên quyết chống chủ nghĩa phục cổ” [145, tr.
58]. Theo quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử, với cƣơng vị là một nhà lãnh
đạo trong lĩnh vực văn hóa – văn nghệ, Hà Huy Giáp vừa lên tiếng cảnh báo vừa đặt
ra yêu cầu chỉnh đốn từ trong nhận thức của xã hội đối với những giá trị truyền
thống văn hóa dân tộc, trong đó có đạo đức Nho giáo. Thế nhƣng, trên thực tế do
một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, những giá trị đó đã bị dòng xoáy tẩy
trừ tệ nạn lạc hậu, tàn dƣ của chế độ phong kiến vùi lấp, chỉ còn đâu đó lác đác một
vài cá nhân, số ít gia đình vốn đã “tiêm nhiễm” những giá trị đạo đức, lễ nghi “cổ
hủ” cố gắng bảo lƣu, nhƣng không chắc họ có thể giữ đƣợc bao lâu nữa trong sự ồ
ạt lan tràn những luồng văn hóa hiện đại nặng về vật chất, hối hả vì ganh đua nhƣng
lại đƣợc sự ủng hộ của số đông. Những luồng văn hóa đó có sức lôi cuốn mãnh liệt

xét về lĩnh vực tƣ tƣởng, hẳn không thể không có dấu ấn Nho giáo.
Năm 1941, Dƣơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, khi chia tục
ngữ ra làm bốn loại, ông đã dùng cụm từ “Những câu tục ngữ thuộc về luân lý” đặt
4
tên cho nhóm một. Trong nhóm đó, ông lại tiếp tục chia thành hai tiểu mục a và b,
tiểu mục a là những câu tục ngữ “dạy đạo làm ngƣời” đƣợc hình thành từ triết lý
sống của Nho giáo. Không đi sâu phân tích ví dụ đƣợc dẫn nhƣng qua cách nêu vấn
đề của Dƣơng Quảng Hàm, chúng ta thấy ông đã thừa nhận ngƣời dân Việt từng
tiếp nhận nội dung đạo đức Nho giáo, biến chúng thành phƣơng châm sống và phổ
biến rộng rãi trong cộng đồng dƣới hình thức những câu từ cô đọng, dễ nhớ, dễ
thuộc. Còn về ca dao, ông cũng tiến hành phân nhóm tƣơng tự, trong đó có những
bài đề cập đến luân lý truyền thống. Tuy nhiên, do giới hạn dung lƣợng nên vấn đề
chỉ mang tính điểm lƣợc.
Năm 1956, Vũ Ngọc Phan cho ra đời công trình Tục ngữ và dân ca Việt Nam,
sau đó đƣợc tái bản nhiều lần, đến lần thứ bảy (năm 1971) đổi tên thành Tục ngữ, ca
dao, dân ca Việt Nam. Ở phần tiểu luận của công trình, ông đã xác định: tục ngữ, ca
dao, dân ca là sản phẩm tinh thần của tầng lớp bình dân nhƣng có sự can thiệp của
tầng lớp trí thức nho sĩ. Họ là những ngƣời tuy không thuộc tầng lớp bình dân
nhƣng có cuộc sống, tâm tƣ gần gũi với ngƣời dân lao động nên những sáng tác của
họ phần lớn đƣợc ngƣời dân trân trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực,
các yếu tố tiêu cực cũng len lỏi vào đời sống ngƣời dân, chúng bị xem là những tàn
dƣ của tƣ tƣởng phong kiến hủ bại và ông đã có lời phê phán gay gắt. Thái độ khen,
chê một cách khách quan của ông không chỉ cho thấy tính khoa học của công trình
mà còn bƣớc đầu xác định tính đa dạng, nhiều mặt của các yếu tố Nho giáo trong
văn bản tục ngữ, ca dao – dân ca, qua đó phản ánh tình hình tiếp nhận tƣ tƣởng Nho
giáo của tầng lớp bình dân khá phức tạp.
Năm 1962, tập thể tác giả công trình Dân ca quan họ Bắc Ninh đã có hƣớng
tiếp cận nhiều mặt. Trƣớc khi giới thiệu phần sƣu tập, các tác giả đã phân tích một
cách tỉ mỉ, toàn diện về những vấn đề có liên quan đến quá trình hình thành cũng
nhƣ phát triển của dân ca quan họ Bắc Ninh, đi từ việc tìm hiểu cơ sở hạ tầng, vị trí

nhiên, với mục đích nghiên cứu lịch sử tƣ tƣởng, căn cứ vào ca dao – dân ca để tìm
hiểu nội dung tƣ tƣởng của tầng lớp bình dân Việt Nam nên ca dao – dân ca chỉ là
tài liệu dùng làm dẫn chứng, minh họa, không phải là đối tƣợng nghiên cứu.
6
Nguyễn Thị Huế (1986), khi tiến hành tìm hiểu vai trò của ngƣời phụ nữ trong
ca dao – dân ca cũng ghi nhận: “Những chữ, những câu, những điển tích, những ý
nghĩa của kinh truyện, những lời giáo huấn của thánh hiền, sau này lúc đi ví đi hát
đã đƣợc cô vận dụng vào câu ví, câu hát của mình khá tài tình” [60, tr. 129]. Thông
qua sự khẳng định tài năng của cô Nhẫn cũng nhƣ những cô gái khác, tác giả đã
gián tiếp chứng minh tính bác học mà các yếu tố văn hóa phi bình dân, trong đó có
các điển, các biểu tƣợng văn học có nguồn gốc từ Nho giáo, đƣợc đƣa vào ca dao –
dân ca. Bài viết đã phản ánh phần nào tình hình tiếp nhận Nho giáo của tầng lớp
bình dân, đặc biệt là phụ nữ – những ngƣời không đƣợc trực tiếp tiếp xúc với kinh
sách thánh hiền.
Năm 1987, Nguyễn Đức Dân, trong bài viết “Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu Văn học, theo hƣớng tiếp cận cấu trúc câu để đi vào nội dung
đạo lý của các câu tục ngữ. Cùng với khái niệm “biểu trƣng”, hƣớng tiếp cận này
nhằm đƣa ra một cách nắm bắt ý nghĩa thâm sâu của các câu tục ngữ, giới hạn trong
bài viết là triết lý đối nhân xử thế giữa ngƣời với ngƣời, giữa ngƣời với các hiện
tƣợng tự nhiên và xã hội. Qua quá trình phân tích và kiến giải tác giả đã gợi mở
hƣớng tiếp cận nội dung tục ngữ theo phạm trù.
Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong tổng tập lịch sử văn học Việt Nam,
tập 1, phần giới thiệu Văn học dân gian (1991) đã đi sâu hơn trong việc tìm hiểu
từng bƣớc quá trình hình thành và phát triển cũng nhƣ tình hình nghiên cứu văn học
dân gian. Khi khẳng định vai trò của tầng lớp nho sĩ, đặc biệt là nho sĩ bình dân,
trong sáng tác văn học dân gian, hai ông đã kết luận: “Nếu nhƣ những ngƣời này
(nho sĩ bình dân) có đem vào nội dung và hình thức của tác phẩm dân gian ảnh
hƣởng của Hán học thì đó là lẽ tự nhiên” [66, tr. 293]. Hai tác giả đã khách quan
khẳng định sự có mặt của các yếu tố Hán học, văn hóa bác học trong ca dao – dân
ca là điều tất yếu, bởi vì một phần các sáng tác dân gian nói chung là tác phẩm của

hiện của các điển cố, điển tích từ văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam trong Hát
phường vải – dân ca Nghệ Tĩnh và cả những bài ca dao ngƣời Việt trong Kho tàng
ca dao xứ Nghệ. Ông cũng đã tập trung phân tích những dẫn chứng để chứng minh
8
nền tảng kiến thức phục vụ cho việc sáng tác câu hát của các nghệ nhân xứ Nghệ là
từ sách vở Nho gia. Qua phân tích, tác giả đã xác lập con đƣờng cơ bản và trực tiếp
đƣa các yếu tố Nho giáo vào ca dao – dân ca. Đó cũng chính là một trong số những
phƣơng tiện hữu hiệu mang đạo đức, luân lý Nho giáo vào đời sống ngƣời dân lao
động. Những phƣơng tiện khác sẽ đƣợc chúng tôi giới thiệu trong phần nội dung
của luận án.
Năm 1998, Huỳnh Ngọc Trảng trong Ca dao dân ca Nam kỳ lục tỉnh, phần
tiểu luận, sau những kiến giải, phân tích, chứng minh quá trình hình thành và biến
đổi về hình thức của các câu hò, câu hát Nam bộ, ông dùng kết cấu nghịch nhân quả
để khẳng định tính cố hữu của những nội dung có liên quan đến đạo đức Nho giáo.
Ông viết: “Tuy nhiên, mặc dù những biến đổi có phần mới mẻ nhƣ vậy, song nội
dung của câu hò, lời hát huê tình ấy vẫn còn đặt cơ sở trên căn bản đạo lý truyền
thống Khổng Mạnh” [151, tr. 13]. Cách lập luận của tác giả cho thấy nội dung mang
tính chi phối câu hò, câu hát của ngƣời dân Nam bộ là đạo lý Nho giáo, mà ở đây
tác giả cho là Nho giáo Khổng Mạnh. Chính cách xác định “loại” Nho giáo của tác
giả đã thể hiện sự chủ động chọn lọc, tiếp nhận Nho giáo của ngƣời dân Nam bộ.
Tuy nhiên, vấn đề chỉ đƣợc gợi mở trong một nhận định tổng quan, còn nhiều khía
cạnh khá phức tạp cần làm rõ để nhận định này mang tính thuyết phục hơn.
Nguyễn Nghĩa Dân trong công trình Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam, xuất bản năm 2000, theo phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử đã tìm thấy sự ảnh
hƣởng của các tƣ tƣởng Nho, Phật, Đạo trong tiến trình phát triển của ca dao – dân
ca. Nguyễn Nghĩa Dân cho rằng: “Những nhân tố tích cực tiến bộ của tƣ tƣởng Nho
giáo, Phật giáo có thể do từng tầng lớp nho sĩ, sƣ tăng gián tiếp tác động hoặc trực
tiếp tiếp nhận, đƣợc phản ánh khá nhiều với số lƣợng lớn trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam về đạo làm ngƣời” [37, tr. 10]. Điều đặc biệt là tác giả đã khách quan nhìn
nhận những ảnh hƣởng tích cực của các hệ tƣ tƣởng trên đối với những chuẩn mực

Nhân, Nghĩa… để luận giải vấn đề và đƣa ra quan điểm của mình. Vì vậy, có thể
nói bài viết đã gián tiếp xác định tính chuẩn mực của các phạm trù đạo đức Nho
10
giáo và sự đóng góp mang tính “cơ sở lý thuyết” của chúng trong quy chuẩn đạo
đức của ngƣời dân Việt.
Trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 04 năm 2006 có đăng một bài viết ngắn của
tác giả Phan Hoa Lý đề cập đến “Quan hệ thầy – trò qua tục ngữ ngƣời Việt”. Tìm
hiểu về mối quan hệ thầy trò nghĩa là tác giả đã chạm tới một đề tài quan trọng mà
ngƣời dân Việt đã tiếp nhận từ học thuyết Nho giáo. Tác giả đã tiến hành một cách
công phu khi khảo sát 16.098 câu tục ngữ trong Kho tàng ca dao người Việt do
Nguyễn Xuân Kính chủ biên để rút ra con số 0,12% là tỉ lệ có mặt của những câu
tục ngữ đề cập đến mối quan hệ thầy – trò. Qua con số tác giả đã đặt vấn đề: có sự
mâu thuẫn giữa một dân tộc vốn coi trọng đạo lý nhƣng lại rất ít quan tâm đến giáo
dục thông qua sự thể hiện “quá kiệm lời”. Đặt ra một vấn đề thâm sâu nhƣng ở phần
cuối tác giả đã kết luận một cách suy diễn, thiếu cơ sở khoa học khi cho rằng:
“Dƣới thời phong kiến, số ngƣời đƣợc đi học rất ít. Việc học hành là mối quan tâm
của thiểu số, bởi vậy, tục ngữ ít đề cập đến đề tài này” [98, tr. 67]. Với kết luận nhƣ
vậy, cho thấy tác giả chƣa thật sự tìm hiểu thấu đáo ngọn ngành vấn đề. Trong phần
xác định những nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào đời sống văn
hóa ngƣời dân, chúng tôi sẽ giới thiệu những con số cụ thể về tình hình học tập thi
cử của nƣớc ta trong thời kỳ phong kiến làm cơ sở để đối chiếu với nhận định của
tác giả.
Gần đây, hai tham luận của Nguyễn Xuân Diện và Nguyễn Duy Hinh tại hội
thảo quốc tế do Viện nghiên cứu Hán - Nôm Việt Nam và Viện Harvard – Yenching
Hoa Kỳ tổ chức năm 2007 cũng đã đặt ra một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ
của Nho giáo và văn hóa dân gian. Cả hai một lần nữa khẳng định sự can thiệp của
tầng lớp trí thức nho sĩ Việt Nam vào quá trình hình thành nên những công trình sƣu
tầm tục ngữ, ca dao. Tham luận của Nguyễn Xuân Diện với nhan đề “Trí thức Nho
giáo với việc Nho giáo hóa xã hội (làng xã: từ góc nhìn tƣ liệu học - foklore)” cho
thấy những hoạt động cụ thể của nho sĩ trong việc truyền bá Nho giáo, trong đó có

cứu có tính khái quát và toàn vẹn hay nhằm phục vụ cho nội dung nghiên cứu khác.
Trong khi tìm hiểu sự ra đời của tục ngữ, ca dao – dân ca, các nhà nghiên cứu đã
12
khẳng định sự tham gia sáng tác của các bậc túc nho, tầng lớp sĩ dân hoặc những
ngƣời đƣợc tiếp nhận hệ thống giáo dục Nho giáo. Các nhà nghiên cứu đi trƣớc có
xu hƣớng xem đó là nguyên nhân, là cái gốc để lý giải sự xuất hiện của các yếu tố
có liên quan đến Nho giáo nên hầu hết các công trình chỉ dừng lại ở việc chỉ ra sự
có mặt và nguyên nhân xuất hiện của Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca.
Thậm chí nếu đƣợc khẳng định là nội dung tƣ tƣởng nền tảng của tục ngữ, ca dao –
dân ca thì đạo đức Nho giáo, các yếu tố liên quan đến Nho giáo cũng chỉ là một
phần trong nghiên cứu chung về những ảnh hƣởng của văn hóa bác học trong tục
ngữ, ca dao – dân ca. Đồng thời, theo quan điểm giai cấp, các nhà nghiên cứu
thƣờng cho rằng Nho giáo mang đến cho đời sống tinh thần ngƣời Việt những quan
niệm đạo đức phong kiến hủ bại. Một số công trình thể hiện sự khách quan trong
những đánh giá tích cực về hệ thống giá trị đạo đức Nho giáo thì lại nghiêng về sự
tiếp biến chủ động và sáng tạo của chủ thể văn hóa bình dân, không quan tâm đến
giá trị cốt lõi mang tính nhân văn của Nho giáo, mà chính yếu tố này là một trong
những nguyên nhân quan trọng để Nho giáo đƣợc chào đón trong ngôi nhà văn hóa
chung của ngƣời Việt. Nhiệm vụ chúng tôi đặt ra cho công trình này là giải quyết
thấu đáo những vấn đề trên. Đối chiếu với tƣ tƣởng bản địa, chúng tôi muốn phác
họa một bức tranh tổng thể về thực tế biến đổi diện mạo văn hoá của dân tộc Việt
do những đƣờng nét tiếp biến Nho giáo khắc họa trên nền tƣ liệu tục ngữ, ca dao –
dân ca.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong công trình này chúng tôi tập trung vào các phạm trù Nho giáo, những
biểu tƣợng văn học có nguồn gốc Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca và tiến
hành khảo sát, nhận dạng chúng để làm rõ đâu là yếu tố bản địa, đâu là yếu tố tiếp
nhận và biến đổi từ Nho giáo trong nội dung “đạo làm ngƣời” của tục ngữ, ca dao –
dân ca. Đồng thời qua đó xác định vị trí của đạo đức Nho giáo trong quan niệm
truyền thống của ngƣời dân Việt, chứng minh tính hiện đại của đạo đức Nho giáo

(16. 098 câu, số liệu tác giả đƣa ra. Sau khi chúng tôi loại bỏ một số câu
14
đã đƣợc giới thiệu trong Kho tàng ca dao người Việt, con số còn lại phục
vụ cho việc thống kê của chúng tôi là 15.331).
Lần đầu tiên có một công trình chú giải đƣợc nhiều câu tục ngữ nhất.
Lần đầu tiên có một công trình giới thiệu tục ngữ theo nhiều hệ thống [76,
tr. 7].
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn hai công trình này làm tài liệu khảo sát
chính, kết hợp đối chiếu bổ sung với một số tài liệu khác có liên quan.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phƣơng pháp liên ngành là phƣơng pháp nổi bật trong công trình này vì đối
tƣợng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề đòi hỏi phải có sự hỗ trợ tƣ liệu
từ nhiều lĩnh vực: triết học, lịch sử, văn hóa, văn học, văn hóa dân gian, pháp luật…
Phƣơng pháp này giúp chúng tôi tiếp cận đối tƣợng ở nhiều góc độ, để có vái nhìn
toàn diện và khách quan, đồng thời có đủ cơ sở để cọ sát, đối chiếu và cả tổng hợp
kiến thức nền nhằm phục vụ cho việc phân tích, chứng minh, kiến giải đƣa đến kết
luận trong công trình.
- Phân tích là phƣơng pháp đƣợc ƣu tiên để phục vụ cho việc tìm và lý giải các
phạm trù Nho giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt, xác định đâu là Nho
giáo trong nội dung tƣ tƣởng chung của mảng văn vần. Phƣơng pháp này cũng
nhằm mục đích chỉ ra những giá trị về nội dung mà Nho giáo mang đến cho tục
ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt. Trong quá trình phân tích, chúng tôi phải vận dụng
phƣơng pháp so sánh.
- So sánh đối chiếu là phƣơng pháp quan trọng trong công trình của chúng tôi,
đƣợc thực hiện để xem xét, đối chiếu nghĩa gốc các phạm trù Nho giáo và sự xuất
hiện của chúng trong văn bản tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt. Từ cơ sở này sẽ
làm rõ đâu là yếu tố tiếp nhận, đâu là thành quả của sự tiếp nhận, đồng thời có thể
chứng minh sự vận dụng biến chuyển linh hoạt và đầy sáng tạo của các tác giả dân
gian khi khai thác những yếu tố phi dân gian.
- Để minh chứng xác thực cho những nhận định, chúng tôi tiến hành thống kê

Nho giáo và đời sống tƣ tƣởng bình dân Việt Nam. Đồng thời để thấy đƣợc nguyên
16
nhân và mối quan hệ giữa hai hệ tƣ tƣởng, chúng tôi giới thiệu một cách tập trung
những lý do khách quan thúc đẩy sự thâm nhập của học thuyết Nho giáo vào đời
sống tƣ tƣởng ngƣời dân và sự có mặt của các phạm trù Nho giáo trong lời ăn tiếng
nói của họ.
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Chúng tôi đƣa ra những vấn đề mang tính tiền đề làm cơ sở cho những luận
điểm trong phân tích, kiến giải sự tiếp nhận và biến đổi các phạm trù Nho giáo ở
những chƣơng sau.
Chƣơng 2
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ ĐẠO VÀ THIÊN MỆNH
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƢỜI VIỆT
Sau những nội dung mang tính đề dẫn, chúng tôi đi vào phân tích sự tiếp biến
cụ thể của từng phạm trù Nho giáo. Các phạm trù ở đây đƣợc chia theo từng mục
với nội dung hƣớng đến từng lĩnh vực khác nhau của Nho giáo. Về vũ trụ, chúng tôi
khảo sát hai phạm trù Đạo và Thiên mệnh. Đây là hai phạm trù đƣợc vận dụng phổ
biến, xuất hiện một cách rõ nét trong tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt.
Chƣơng 3
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TRUNG – HIẾU, NHÂN – NGHĨA
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƢỜI VIỆT
Về đạo đức nhân văn, chúng tôi đi sâu vào các triết lý làm ngƣời đặc trƣng
Nho giáo: tam cƣơng, ngũ thƣờng nhƣng chỉ tập trung vào những biểu tƣợng nổi bật,
xuất hiện tần suất cao trong tục ngữ, ca dao – dân ca ngƣời Việt nhƣ Trung, Hiếu,
Nhân, Nghĩa. Những biểu tƣợng khác nhƣ Lễ, Tín… xuất hiện với tầng xuất thấp
hoặc đã đƣợc lồng ghép, hòa tan vào các biểu tƣợng trên khi xuất hiện trong mảng
văn vần của ngƣời Việt (Phụ lục, tr.194 – 195), vì vậy, chúng tôi không phân tích
sâu nhƣng sẽ đƣợc đề cập khi có liên quan.
Chƣơng 4

“Những nét lạc hậu, lỗi thời mất dần đi để thay thế bằng những gì đƣợc khẳng định
là văn minh, hiện đại” [165, tr. 51]. Vì mục đích vƣơn tới sự văn minh, hiện đại,
nhu cầu tiếp xúc, giao lƣu, biến đổi văn hóa luôn thƣờng trực, mang tính tự nhiên
tất yếu của mỗi nền văn hóa.
Phan Ngọc cho rằng: “Không có văn hóa tự túc, văn hóa nào cũng cần đến sự
giao tiếp để phát triển” [108, tr. 16]. Trần Quốc Vƣợng khẳng định: “Cần phải nói
ngay là không có một nền văn hóa nào gọi là “thuần túy”, “trinh nguyên vẹn sạch”;
trên một ý nghĩa nào đó, nền văn hóa nào cũng “lai” (métise), nghĩa là đã vay mƣợn
19
một số nét, đặc điểm của nền văn hóa láng giềng hay xa hơn nữa” [166, tr. 99].
Dominique Wolton trong Toàn cầu hóa văn hóa cũng hàm ý tƣơng tự: “Và đồng
thời không có nền văn hóa nào không có mối quan hệ, không mở cửa và đôi khi
giao tiếp” [41, tr. 37]. Chính vì thế, thực tế hoạt động giao lƣu văn hóa đã có từ thời
xa xƣa, khi con ngƣời bắt đầu ý thức đƣợc vai trò quan trọng của những sản phẩm
tinh thần, vật chất mà họ tạo ra đối với sự phát triển, vƣơn tới sự văn minh của cộng
đồng, dân tộc hay quốc gia.
Thời cổ đại, các quốc gia hùng mạnh ở phƣơng Tây nhƣ Hy Lạp, La Mã đã
có những cuộc trao đổi, học hỏi lẫn nhau trên mọi lĩnh vực để xây dựng và phát
triển đất nƣớc. Trong lĩnh vực kinh tế: “Ngƣời Do Thái và ngƣời Hy Lạp cũng đã
học ở ngƣời Ai Cập những thực nghề nhƣ nghề thợ nề, đạc điền, kế toán, luyện kim,
dệt vải, làm đồ gốm, nấu nƣớng và giải phẫu qua cách ƣớp xác” [34, tr. 20]. Trong
lĩnh vực khoa học và triết học, ngƣời Hy Lạp nhờ làm quen với khoa học Ai Cập
nên đã thoát khỏi tƣ duy mê tín dị đoan khi giải thích các hiện tƣợng tự nhiên [34, tr.
52]. Ngay cả La Mã, sau khi thôn tính châu Âu và một phần châu Á, trở thành quốc
gia hùng mạnh nhất về quân sự, chính trị nhƣng về văn học, nghệ thuật ngƣời La
Mã vẫn phải học hỏi ở ngƣời Hy Lạp. Tác giả của Lịch sử văn minh thế giới, phần
nói về phƣơng Tây, nhận xét: “Trong địa hạt văn chƣơng, triết lý và mỹ thuật, ngƣời
La Mã không sáng tác đƣợc bao nhiêu; họ thích nghiên cứu, bảo tồn và bắt chƣớc
những tác phẩm của ngƣời Hy Lạp” [34, tr. 80]. Điều đó cho thấy văn hóa có sức
mạnh riêng của nó. Văn hóa không những hoàn toàn độc lập với quân sự, chính trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status