Bài văn bia duy nhất còn lại của Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạn - vị kinh sư
đại doãn nổi tiếng của kinh thành Thăng Long
LTS: “Ma nhai kỉ công bi văn” (磨崖紀功碑文), tấm bia mài vách núi Trầm
Hương do Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn soạn để ghi công của Thái thượng
hoàng Chương Nghiêu Văn Triết, là tấm bia cổ kính trải 7 thế kỉ nhưng vẫn còn
tươi nét nhất, được nhiều sử sách nhắc đến.
LTS: “Ma nhai kỉ công bi văn” (
磨崖紀功碑文
), tấm bia mài vách núi Trầm
Hương do Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn soạn để ghi công của Thái thượng
hoàng Chương Nghiêu Văn Triết, là tấm bia cổ kính trải 7 thế kỉ nhưng vẫn còn
tươi nét nhất, được nhiều sử sách nhắc đến.
Nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề này song lại có những chỗ chưa thống nhất
với nhau, cần được làm sáng tỏ. Với tấm lòng và lợi thế là người bản xứ được tiếp
cận nhiều, tác giả Trần Tử Quang trong bài viết sau đây đã có những ý kiến hay,
tiếp tục làm sáng tỏ và có những kiến nghị thiết thực nhằm bảo vệ và phát huy di
sản quý giá này. Bài viết có sự phối hợp với Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán Nôm
Nghệ An và bạn bè cùng ngành gần xa, nên đây được coi là ý kiến tập thể. Xin
được giới thiệu cùng bạn đọc.
“Nguyễn Trung Ngạn là một nhân vật nổi trội thời Trần, một danh nhân văn
hóa tiêu biểu của dân tộc. Ông được Phan Huy Chú đánh giá là một trong mười
người phù trợ có công lao thời Trần, sự nghiệp ngang hàng với Thượng tướng
Trần Quang Khải, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Sư
Mạnh… Ông còn là một vị Kinh sư đại doãn (tương đương với chức Chủ tịch
UBND thành phố Hà Nội hiện nay) cai quản kinh thành nổi tiếng về tài đức, để
lại niềm tôn kính trong lòng người dân Thăng Long lúc bấy giờ.”
“Giữa thế kỉ XIV, sau 3 lần đại thắng đế quốc Mông Cổ, nhà Trần bắt tay
vào việc xây dựng và phát triển đất nước. Dưới sự trị vì của các vị vua sáng
cùng với các tôi hiền tướng giỏi thì uy thế của Đại Việt ngày càng lớn mạnh.
Nhưng trong thời gian này các nước láng giềng lại thường đem quân quấy phá
và xâm lấn những vùng biên giới. Do đó, triều đình phải thường xuyên cắt cử
đồng này có thể là nơi tập kết và đóng quân lập trại.
Vùng này nhiều đồi núi, eo Vực Bồng địa thế hiểm trở cheo leo, sông Lam chảy
qua eo tạo thành xoáy nước to rất nguy hiểm. Quân đội đi chinh phạt chỉ có thể
tiến quân bằng đường bộ bởi đường sông ít thuận lợi. Không phải ngẫu nhiên mà
Thượng hoàng Minh Tông và Phát vận sứ Nguyễn Trung Ngạn chọn địa điểm
khắc bia tại núi Trầm Hương. Quả núi này thuộc một dãy núi chạy dài nằm bên
cạnh cánh đồng trũng ở hữu ngạn sông Lam. Núi hướng về phía Đông Bắc,
ngoảnh mặt nhìn ra sông, cách đó khoảng 150m và cách quốc lộ 7A khoảng 100m.
Bia được khắc trên vách núi cao, mặt nhìn về hướng Đông Bắc cách mặt đất
khoảng hơn chục mét. Muốn đi lên tấm bia phải trèo lên núi bằng 1 mô đất dốc
khoảng 50
0
, xung quanh cây cối um tùm che khuất tấm bia do đó nếu nhìn từ cánh
đồng thì không thể thấy được. Đỉnh dốc có 1 cái hang hàm ếch (còn gọi là hang
Ông Trạng), bên trong rất sâu có thể chứa được nhiều người. Điều đặc biệt là xung
quanh hang, ngoài tấm văn bia bằng chữ Hán còn có những dòng chữ quốc ngữ
được chạm khắc rất tinh vi bay bướm ghi lại sự kiện tránh bom của người dân thời
chiến tranh chống Mỹ
(1)
. Với địa thế hiểm trở cheo leo, người ngựa đi qua phải đi
chậm rãi, quả núi khắc bia lại thấp, ngang với tầm nhìn nên ai cũng có thể trông
thấy. Bài văn in vào vách núi, ngoảnh mặt trông ra sông Lam và đường bộ qua lại
như thách thức với thời gian, là minh chứng cho tinh thần bảo vệ bờ cõi của vương
triều Trần và nhân dân Đại Việt, đồng thời cũng là lời nhắc nhở, răn đe cho những
tù trưởng hay thủ lĩnh có mưu đồ chống phá lại sự ổn định và thống nhất lúc bấy
giờ.
Bài văn bia được khắc sâu trên vách núi đá vôi lõm vào trong và đã được mài
nhẵn. Sách Đại Nam nhất thống chí chép đây là bia “Ma Nhai”. “Ma Nhai” nghĩa
là mài vách đá. Bia có độ nghiêng phù hợp (khoảng từ 30-40
0
núi thôn Trầm Hương, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nét chữ viết to bằng
bàn tay, nét tạc vào đá sâu hơn đến một tấc…” [3; tr. 608]. Việt Nam sử lược
của Trần Trọng Kim cũng chép với nội dung như vậy. Có điều, gần 700 năm
trôi qua, nét chữ còn rõ nhưng có lẽ đã bị mòn đi chút ít. Còn chuyện chữ được
khắc sâu đến 1 tấc thì số liệu này được nhìn nhận dưới đơn vị đo lường cổ. Qua
khảo sát thực tế thì thấy rằng các chữ Hán được khắc vào đá chỉ với độ sâu
chừng 2cm mà thôi. Còn nói “chữ to bằng bàn tay” thì quả đúng là như vậy
thật.
Phiên âm: Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế, Chương Nghiêu Văn Triết thái
thượng hoàng đế thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu trung hạ, phổ hải nội ngoại võng
bất thần phục, tối nhĩ Ai Lao, do ngạnh vương hóa. Tuế tại Ất Hợi quý thu, đế thân
soái lục sư tuần vu Tây bỉ. Chiêm Thành quốc thế tử, Chân Lạp quốc, Tiêm quốc
cập man tù đạo thần Quỳ, Cầm, Xa, Lặc, tân phụ Bôi Bồn man, tù đạo Thanh Xa
man chư bộ các phụng phương vật, tranh tiên nghênh kiến. Độc nghịch Bổng chấp
mê úy tội, vị tức lai triều. Quý đông đế trú tất vu Mật Châu, Cự Đồn chi nguyên.
Nãi mệnh chư tướng cập man di chi binh nhập vu kỳ quốc. Nghịch Bổng vọng
phong bôn thoán, toại giáng chiếu ban sư. Thì Khai Hựu thất niên, Ất Hợi đông
nhuận, thập nhị nguyệt nhật lặc thạch.
Dịch nghĩa: Đời vua thứ sáu triều Trần nước Đại Việt, Thái thượng hoàng đế
Chương Nghiêu Văn Triết nhận được mệnh trời thương mến, làm chủ hết cả bốn
cõi, khắp trong đất ngoài bể không ai không thần phục, thế mà nước Ai Lao nhỏ
bé kia còn ngang ngạnh với giáo hóa của triều đình. Cuối thu năm Ất Hợi, nhà
vua thống lĩnh sáu quân đi tuần ở cõi Tây. Thế tử nước Chiêm Thành, nước
Chân Lạp, nước Tiêm và tù trưởng đạo thần là Quỳ, Cầm, Xa, Lặc rồi các bộ
mán mới phụ thuộc là tù trưởng rợ Bôi Bồn và rợ Thanh Xa đều dâng sản vật
của địa phương mình và tranh nhau đón rước. Chỉ một mình tên giặc Bổng cứ
giữ thói u mê, sợ tội mà chưa tới chầu ngay. Đến cuối đông, vua đóng quân ở
cánh đồng Cự Đồn thuộc Mật Châu rồi lệnh cho các tướng cùng với quân lính
mọi rợ vào tận nơi ở của chúng. Tên giặc Bổng nghe uy thế liền trốn chạy, vua
bèn xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng 12 nhuận, năm Ất Hợi,
Điều quan trọng nhất thấy được qua việc khảo sát thực tế bài văn bia này đó
là việc tìm đúng chính xác thời gian diễn ra trận đánh và thời gian đục núi khắc
văn. Sở dĩ điều này quan trọng bởi các bộ sử trước đây đều chép khác so với
thực tế. Trong Đại Việt sử kí toàn thư có chép sự kiện này xảy ra vào năm Giáp
Tuất, tức niên hiệu Khai Hựu thứ 6. Nguyên văn:
“…Giáp Tuất, (niên hiệu Khai Hựu) năm thứ 6 (tương đương với niên hiệu
Nguyên Thống năm thứ hai triều Nguyên)… Thượng hoàng tuần thú đạo Nghệ
An, thân đi đánh Ai Lao. Lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Phát vận sứ Thanh Hóa,
vận tải lương thực đi trước. Xa giá tới châu Kiềm, Ai Lao nghe tin chạy trốn.
Sai Nguyễn Trung Ngạn mài vách núi khắc chữ ghi công rồi về…” [2; tr. 122].
Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng ghi ngày tháng giống
như trong Đại Việt sử kí toàn thư. Nhưng các tác giả lại đưa ra lời cẩn án: “Năm
tháng chép ở bài văn này, so với năm chép trong Sử cũ, không phù hợp với nhau
nhưng cứ chép để đề phòng khi khảo cứu” [3; tr. 608]… Còn trong Việt Nam sử
lược, tác giả Trần Trọng Kim cũng chép sự kiện này xảy ra vào năm Giáp Tuất mà
không có chú thích gì thêm. Như vậy, sự kiện này trong sử chép xảy ra vào năm
Giáp Tuất, nhưng trên thực tế lại không phải như thế. Dòng chữ cuối cùng ghi trên
văn bia là: (dòng chữ này chữ nhỏ hơn một chút và viết tụt xuống 1 chữ) “Thì
Khai Hựu thất niên Ất Hợi đông nhuận, thập nhị nguyệt nhật lặc thạch” nghĩa là
“Lúc bấy giờ là ngày tháng 12 nhuận, năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hựu thứ 7,
khắc vào đá”. Thực tế này đã cho biết thời gian xảy ra sự kiện là năm Ất Hợi
(1335) chứ không phải năm Giáp Tuất (1334) như Đại Việt sử kí toàn thư và Việt
Nam sử lược đã ghi. Điều đáng lưu ý là vì tháng nhuận nên tháng 12 của năm
1335 này sẽ ứng với tháng 1 năm 1336. Như vậy, đã đính chính cho sự nhầm lẫn
trong sử sách và cũng chứng minh cho lời cẩn án của các tác giả Khâm định Việt
sử thông giám cương mục là hoàn toàn chính xác.
2. Tác giả
Không giống như các bia đá khác, tấm bia này khắc trực tiếp lên núi đá và
không ghi rõ người soạn, người viết chữ, kể cả hoa văn trang trí. Nhưng qua các
bộ sử có nói đến bài văn bia này thì nó được xác định chính xác là của Nguyễn
Hiên thi tập). Thơ ông phần lớn làm trên đường đi sứ Trung Hoa. Có thể nói ông
là người khai sinh cho thể loại thơ sứ trình ở nước ta mà sau này Nguyễn Du (Bắc
hành tạp lục) là người kế thừa xuất sắc. Phan Huy Chú có lời nhận xét về thơ ông
rằng “thơ Nguyễn Trung Ngạn hào mại, phóng khoáng, khí cốt Đỗ Lăng”. Gần
đây nhất, nhân 720 năm năm sinh của ông, ngày 20/3/2009 tại Văn miếu - Quốc tử
giám đã diễn ra một cuộc hội thảo về danh nhân văn hóa - Hoàng giáp Nguyễn
Trung Ngạn nhằm “bày tỏ tấm lòng trân trọng và tôn vinh một danh nhân lớn của
đất nước”(theo lời GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam).
3. Góp ý về bản dịch
Tấm văn bia này hiện có rất nhiều bản dịch, tuy lời văn mỗi bản khác nhau song
nội dung tương tự. Tuy nhiên, có 1 câu chưa hợp lý, đó là câu đầu tiên trong văn
bia, xin nêu ra để cùng xem xét:
“Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế Chương Nghiêu Văn Triết thái thượng hoàng
đế” được dịch là:
1. “Hoàng Việt Triều nhà Trần, vua trị vì thứ 6 là Chương Nghiêu Văn Triết
thái thượng hoàng đế…” (Bản dịch của tổ biên dịch Viện sử học: Hoa Bằng, Phạm
Trọng Điềm, Trần Văn Giáp, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, T1, Nxb
Giáo dục, 1998, 607, 608).
2. “Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng hoàng là vua thứ 6 đời nhà Trần
nước Hoàng Việt…” (Bản dịch của Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn
hóa Thông tin, 1999, 173).
3. “Vua thứ sáu triều Trần nước Việt Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng
hoàng đế…” (Bản dịch của Phan Văn Các, Thông báo Hán Nôm, 2001, Về áng
văn xuôi đặc sắc của Nguyễn Trung Ngạn, trang 48-55. Văn hoá Nghệ An dẫn lại
ở số 145 ngày 25/3/2009, 19).
Trong các bản dịch bia Ma Nhai hiện nay đều dịch câu đầu tiên đại ý nói rằng
vua thứ 6 của triều Trần nước Việt chính là Chương Nghiêu Văn Triết Thái
thượng hoàng đế, chỗ này hẳn có sự nhầm lẫn.
Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế Chương Nghiêu Văn Triết thái thượng
hoàng đế
Nguyễn Trung Ngạn là bậc văn tài, lại là người đương thời nên chắc không thể có
sự nhầm lẫn. Các bản dịch kể trên đã chưa nhận rõ được vế 1 (Hoàng Việt Trần
triều đệ lục đế) là thời gian, còn vế 2 (Chương Nghiêu Văn Triết Thái thượng
hoàng đế) là nhân vật chính của sự kiện.
Ngay cả trên văn bia cũng đã cho ta thấy rõ điều này. Theo lệ xưa, chữ viết từ
phải sang trái và từ trên xuống dưới. Mỗi khi gặp một chữ hoặc một cụm từ liên
quan tới Trời, Hoàng đế hay liên quan đến các đối tượng thiêng liêng cao quý khác
thì phải đưa chữ hay cụm từ đó viết sang ở một hàng khác sao cho nó luôn đứng ở
một dòng riêng và dòng đó phải cao hơn các dòng khác, gọi là “Đài”. Trong văn bia
này, dòng chữ thứ 2 (nói về Thái thượng hoàng) được tách sang viết ở một dòng
riêng và được đài lên cao hơn so với hàng đầu tiên (nói về đệ lục đế). Người khắc
chữ đã phải thể hiện như vậy bởi Thượng hoàng là người cao nhất đất nước lúc bấy
giờ, cao hơn cả vua thì không thể viết cùng hàng và xếp ở dưới vua được.
Tuy nhiên điểm đáng chú ý nhất trên văn bia đó là cụm từ “Hoàng Việt Trần
triều đệ lục đế” lại đứng trước cụm từ “Chương Nghiêu Văn Triết thái thượng
hoàng đế”. Nếu xét theo logic trên thì có sự mâu thuẫn: Thượng hoàng lại bị đặt ở
sau vua, điều này không hợp lý. Hơn nữa dòng chữ cuối cùng trên văn bia có ghi
rõ niên hiệu là Khai Hựu. Do đó, có thể khẳng định rằng cụm từ “Hoàng Việt Trần
triều đệ lục đế” trong bài văn này muốn nhấn mạnh đến thời gian xảy ra sự kiện
này vào “Đời vua thứ 6 của triều Trần nước Đại Việt” tức khoảng thời gian trị vì
của hoàng đế Trần Hiến Tông chứ không phải nhắc đến nhân vật hoàng đế Trần
Hiến Tông.
Đây là một văn bia rất có giá trị lịch sử do đó phải đảm bảo tính chính xác. Vì
vậy, đoạn văn này cần phải được bàn luận và dịch lại cho sát hợp với nguyên văn
và để phù hợp với thế thứ các vua triều Trần trong lịch sử. Xin được góp ý chi tiết
về 1 bản dịch mới như phần dịch nghĩa ở trên. Đây chỉ là ý kiến cá nhân mạo muội
nêu ra, rất mong quý độc giả quan tâm để cùng xem xét, bàn luận và góp ý.
Tấm văn bia này có mặt nơi đây đã gần 7 thế kỉ nhưng đến nay vẫn còn là xa lạ
đối với nhiều người dân địa phương. Người ở xa thì không biết sự hiện diện của
tấm văn bia ghi lại thời kỳ hào hùng của dân tộc được viết bởi một danh nhân văn
Thượng Nghiễm ở châu Mường Muổi (nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La) có
140 chữ, ít hơn bia Ma Nhai 15 chữ.
Tài liệu tham khảo
1. Ngô Đức Thọ, Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia tiến sỹ, Trung tâm hoạt
động văn hoá khoa học Văn miếu Quốc tử giám, 2002.
2. Viện khoa học xã hội Việt Nam, Đại Việt sử kí toàn thư, tập II, Nxb Khoa
học xã hội, 1998.
3. Viện sử học, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb Giáo dục,
1998.
4. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999.