Ảnh hưởng của văn hóa đối với pháp luật - Pdf 15

Ảnh hưởng của văn hóa đối với pháp luật
Văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật. Văn hóa
chính là cuộc sống, do đó, việc xây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa
trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến
thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở rất
nhiều nơi trên thế giới, hệ thống pháp luật tỏ ra không tương thích với cuộc
sống. Phải chăng yếu tố văn hóa, ở những nơi đó, đã bị tách rời khỏi pháp luật
hay bản thân pháp luật được xây dựng trên một nền văn hóa méo mó, phi tự
nhiên?
Phải khẳng định ngay rằng, một nền văn hóa phi tự nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến
một một hệ thống pháp luật phi tự nhiên. Vậy văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến
pháp luật? Trước khi đi vào lý giải vấn đề, chúng tôi xin bắt đầu từ một nền văn
hóa được hình thành và phát triển tự nhiên như chính cuộc sống của con người.
Nền văn hóa đó, trước hết, là sản phẩm của tự do.
I. Văn hóa – Sản phẩm của tự do
Văn hóa, nhìn chung, hình thành từ sự tích lũy kinh nghiệm sống của một cộng
đồng, một dân tộc, do đó, văn hóa chính là cuộc sống, nó có mặt trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống. Quá trình hình thành văn hóa là một quá trình tự nhiên và
khách quan. Từ xưa đến nay, con người luôn sống và hành động theo những lẽ
phải của tâm hồn mình, tức là nhận thức về "cái tất yếu", kết quả là tạo ra thành
tựu. Những thành tựu đó, cùng với thời gian, đã kết tinh lại và trở thành văn hóa.
Một nền văn hóa hình thành tự nhiên như vậy là một nền văn hóa lành mạnh. Tuy
nhiên, điều quan trọng hơn cần phải thấy là, chất xúc tác cho quá trình hình thành
của văn hóa không gì khác chính là tự do, vì nếu không có tự do thì đời sống tinh
thần của con người không phát triển. Đời sống tinh thần của con người không phát
triển thì không có đời sống văn hóa lành mạnh. Vậy tiêu chuẩn để phân biệt giữa
một nền văn hóa lành mạnh và một nền văn hóa không lành mạnh là gì? Đó chính
là tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống.
Chúng ta đều biết rằng, bản chất của cuộc sống chính là tính đa dạng tự nhiên và
tự do là điều kiện quan trọng nhất để không chỉ đảm bảo mà còn phát huy tính đa
dạng ấy. Tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống tạo ra một sự cạnh tranh bình đẳng

tới mức phi lý. Khi con người bị áp đặt về nhận thức thì anh ta sẽ phản ánh một
cách đơn giản về cuộc sống. Sự phản ánh cuộc sống một cách đơn giản của con
người bằng cả hành vi lẫn tư duy, đến lượt mình, tạo ra sự đơn giản của nền văn
hóa hay tạo ra một nền văn hóa méo mó, phi tự nhiên.
Xin hãy lùi về lịch sử để thấy tính không chừng mực của con người khi ứng xử với
văn hóa. Có thời, người ta sử dụng văn hóa như một công cụ chính trị, tức là họ
tước bỏ yếu tố tự do trong văn hóa và thao túng nó cho những mục đích chính trị.
Vì hơn ai hết, các nhà chính trị đều hiểu rõ rằng, văn hóa là công cụ điều chỉnh
trên phạm vi rộng lớn nhất, tinh tế và mạnh mẽ nhất đối với nhận thức và ứng xử
của con người. Chính vì vậy, họ luôn có tham vọng thao túng về mặt văn hóa để
trên cơ sở đó, tạo ra tính ổn định trong hoạt động cầm quyền của mình. Tham
vọng đó, thực ra, cũng có thể hiểu được vì đảng chính trị nào cũng tuyên truyền,
phổ biến nhận thức chính trị của mình vào trong đời sống. Sự tuyên truyền trong
trường hợp như vậy không phải là không lành mạnh vì nó là đương nhiên. Tuy
nhiên, người ta chỉ có thể đi theo, cổ vũ hay ưu tiên một khuynh hướng chứ không
thể dành cho một khuynh hướng địa vị duy nhất bằng việc phủ nhận các khuynh
hướng khác. Việc dành cho một khuynh hướng địa vị duy nhất sẽ làm biến mất
tính đa khuynh hướng, hay tính đa dạng tự nhiên của văn hóa, mà xét về bản chất,
chính là tiêu diệt tính đa dạng của đời sống tinh thần của con người.
Thực ra, về bản chất, con người không thể tiêu diệt tính đa dạng của cuộc sống
hay nói đúng hơn là nếu tính đa dạng của cuộc sống bị tiêu diệt thì bản thân cuộc
sống cũng không tồn tại nữa, hay là cuộc sống đã chết về mặt tinh thần. Do đó,
nếu trong khi cuộc sống vẫn đa dạng, dẫu là sự đa dạng một cách bất hợp pháp, mà
nền văn hóa không phản ánh được điều đó thì bản thân nền văn hóa đó không có
giá trị. Giá trị của một nền văn hóa phi tự nhiên, nếu có chăng nữa, thì chính là
bằng chứng của việc chính trị đã bóp méo văn hóa.
Nói về một nền văn hóa méo mó, phi tự nhiên không thể không nhắc đến những
khuyết tật của nó. Đó là, một nền văn hóa méo mó biến con người trở nên đơn
giản, đơn giản tới mức hết thảy mọi người đều giống nhau một cách phi lý vì phải
tuân theo một khuôn mẫu định sẵn. Cũng chính nền văn hóa đó biến con người trở

Nhưng, họ đã lầm; họ đã không nhận ra rằng, loại bỏ sở hữu tư nhân chính là một
trong những hành vi phá hoại mạnh nhất đời sống văn hóa của con người và rằng,
khi tiêu diệt quyền sở hữu hay ý thức sở hữu của con người đối với những vật cụ
thể, thì người ta đã đồng thời tiêu diệt cả ý thức sở hữu của con người đối với
những tài sản tinh thần mà pháp luật là một trong số đó. Con người không cảm
thấy mình là chủ sở hữu của pháp luật; con người ứng xử một cách thiếu chừng
mực với pháp luật và dần dần, con người chà đạp lên cả những tài sản tinh thần
của mình. ở những nơi này, tham nhũng, dưới nhiều hình thức, tồn tại ngang nhiên
và có xu hướng ngày càng tinh vi hơn. Đó chính là kết quả tất yếu của việc không
thừa nhận sở hữu tư nhân. Từ trước đến nay, người ta vẫn cho rằng, tham nhũng là
sự suy đồi về đạo đức, nhưng theo chúng tôi, nếu coi tham nhũng như là biểu hiện
của sự suy đồi về đạo đức, thì tức là chúng ta đang đơn giản hóa tham nhũng và
nếu tiếp tục với nhận thức như vậy thì chúng ta không thể khắc phục được tình
trạng lan tràn của tham nhũng.
Hơn nữa, như đã phân tích trong phần trước, khuyết tật quan trọng nhất của nền
văn hóa phi tự nhiên là tính đơn giản; chính nó đã tiêu diệt sự đa dạng của đời
sống. Chính trong môi trường như vậy, cái chết về mặt tinh thần của con người đã
tạo cơ hội cho sự lộng hành của một khuynh hướng đã được nhà cầm quyền lựa
chọn và thậm chí, còn tạo ra nền văn hóa lộng hành. Sống trong môi trường đơn
khuynh hướng ấy, một số người tưởng rằng mình đang hít thở bầu không khí tự do
mà không nhận ra rằng, mình đang là nạn nhân của sự lộng hành, nạn nhân của sự
độc quyền lẽ phải hay độc quyền chân lý. Một trong những công cụ mà các nhà
cầm quyền dùng để tăng cường, kiểm soát con người trong môi trường ấy chính là
luật pháp. Chỉ có những hệ thống pháp luật méo mó mới bảo đảm cơ sở tồn tại
hợp pháp của sự lộng hành; cũng chỉ có những hệ thống pháp luật méo mó mới
bảo trợ cho những hành vi tham nhũng tinh thần như vậy. Những hệ thống pháp
luật như vậy, do bị cấy những yếu tố không có khả năng biến thành văn hóa, nên
không chỉ tự mâu thuẫn với nhau mà còn mâu thuẫn với quá khứ và mâu thuẫn với
năng lực thực hiện của xã hội.
Những phân tích trên cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa đến pháp luật. Tuy

không có tự do thì con người không nhận thức được cuộc sống, do đó, không thỏa
thuận được. Chúng ta đều biết rằng, tính phức tạp của cuộc sống chính là nguồn
gốc của tính phong phú về văn hóa và tính thực tế của pháp luật. Người không
nhận thức được cuộc sống là người không lường hết được các tình huống của cuộc
sống, do đó, không có đủ kinh nghiệm để tham gia vào quá trình thỏa thuận, là quá
trình mà ở đó, người ta hy sinh những quyền tự do bản năng của mình và tạo ra
những quyền tự do mang tính tự giác. Mặt khác, nếu không có đủ tự do thì con
người sẽ vụng về khi thỏa thuận. Kết quả là, thay vì được lợi từ việc đóng góp
phần tự do quý giá của mình, anh ta sẽ bị thua thiệt. Cảm giác về sự thua thiệt khi
tham gia vào quá trình thỏa thuận sẽ khiến con người cảm thấy pháp luật, thay vì
là công cụ bảo vệ quyền tự do của con người, lại là một thứ nhà tù vô hình đối với
con người, hạn chế tự do của con người. Để tránh tình trạng như vậy, tự do buộc
phải là điểm khởi đầu của mọi quá trình thỏa thuận và cũng chính vì như vậy mà
tự do trở thành tinh thần của pháp luật.
Mặt khác, bản chất của cuộc sống là sự đa dạng, do đó, một hệ thống pháp luật chỉ
có giá trị khi nó mang trong mình tính đa dạng của cuộc sống. Nếu tự do không
phải là tinh thần của pháp luật thì pháp luật không thể chứa đựng trong nó tính đa
dạng của cuộc sống. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, một hệ thống pháp luật sẽ trở
nên không tương thích với cuộc sống khi nó không phải là kết quả của sự thỏa
thuận mà là kết quả của việc áp đặt chủ quan của một người hay một nhóm người.
Văn hóa chính là phổ rộng lớn nhất của pháp luật và không một hệ thống pháp
luật nào ngoài văn hóa có đủ năng lực điều chỉnh tất cả các tình huống của cuộc
sống. Chính vì vậy, kinh nghiệm văn hóa là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng
pháp luật. Nếu pháp luật được xây dựng trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là
thừa nhận cuộc sống chứ không áp đặt lên cuộc sống, thì tốc độ thâm nhập của
pháp luật vào trong cuộc sống sẽ nhanh hơn, khi đó việc tuân thủ pháp luật trở
thành thói quen có chất lượng văn hóa của con người. Kinh nghiệm về việc xây
dựng pháp luật ở các quốc gia phát triển chỉ ra rằng, pháp luật càng gần với tập
quán cũng như thói quen của con người, càng có chất lượng văn hóa bao nhiêu thì
pháp luật càng dễ được chấp nhận bấy nhiêu. Điều đó hoàn toàn có thể lý giải

nền văn hóa, vì mở cửa về văn hóa sẽ giúp một cộng đồng nâng cao năng lực thu
nhận các giá trị tiến bộ và loại bỏ những gì lạc hậu và cản trở sự phát triển, cũng
tức là nâng cao năng lực cạnh tranh của chính cộng đồng đó. Do đó, một nền văn
hóa mở là cơ hội hội nhập vào cộng đồng quốc tế hay cơ hội phát triển của các dân
tộc, đặc biệt là các dân tộc lạc hậu.
Mặt khác, mở cửa về văn hóa sẽ tạo ra môi trường tinh thần cởi mở. Môi trường
tinh thần cởi mở chính là môi trường nâng đỡ các hệ thống luật pháp tham gia vào
quá trình hội nhập. Nếu tạo ra một hệ thống luật pháp không có năng lực hội nhập
thì rõ ràng, chúng ta đang bảo vệ tính khu trú của cộng đồng. Chúng ta đều biết
rằng, trong luật học có một ngành luật rất nổi tiếng và phức tạp – đó là Luật So
sánh nhằm phiên dịch sự khác biệt của các quy định pháp luật của các cộng đồng,
các quốc gia khác nhau. Trong thời kỳ trước những năm 50, Luật So sánh chỉ
nhằm so sánh giữa các quốc gia nhưng đến nay, Luật So sánh còn phải so sánh cả
các bộ luật quốc gia và các bộ luật quốc tế. Một lúc nào đó, khi sự chênh lệch phát
triển giữa các quốc gia được giảm bớt thì những hoạt động quốc tế sẽ được quy
định rất giống nhau ở các bộ luật. Khuynh hướng các điều luật trở nên giống nhau
và tốc độ giống nhau của chúng, không nghi ngờ gì, sẽ bị chi phối bởi các giá trị
mở của nền văn hóa. Việc thừa nhận các giá trị tự do, dân chủ cũng đồng nghĩa là
người ta xây dựng luật dựa trên thỏa thuận của các thành viên của cộng đồng. Nếu
là những thành viên của một cộng đồng lạc hậu thì không thể có những điều luật
tiến bộ được. Do vậy, xây dựng một nền văn hóa mở chính là hạn chế tính lạc hậu
của các cộng đồng dân tộc, để tạo ra khả năng có thể tiến đến các thỏa thuận tiến
bộ cũng như khả năng hợp tác giữa các dân tộc.
Kết luận
Từ những phân tích trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, chính văn hóa điều
chỉnh hành vi của con người mạnh hơn cả pháp luật. Do đó, pháp luật hay mọi khế
ước xã hội phải được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa chứ không
phải chỉ là những kinh nghiệm pháp lý. Để xây dựng một hệ thống pháp luật với
tinh thần như vậy, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc thừa nhận
tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống và đảm bảo tính đa khuynh hướng của văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status