Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển của đất nước và xu thế hội nhập toàn cầu đã mở ra
nhiều cơ hội, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước lớn mạnh song nó cũng
tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải luôn thay
đổi cho phù hợp với tình hình mới. Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp dệt may nói riêng phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, đổi mới
công nghệ để bắt kịp với sự phát triển của xã hội. Để thực hiện tốt điều này thì việc
thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ là một nhiệm vụ cần thiết.
Kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động
kinh tế của các doanh nghiệp và tổ chức. Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị quản
lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế của công ty mình như: con người,
tài sản, vốn …., góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng được một nền tảng quản lý
vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng, và phát triển của doanh nghiệp.
Qua quá trình thực tập tại nhà máy may Hòa Thọ II nhận thấy rằng nhà máy đã
xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ. Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát có
hoàn thiện đến đâu cũng luôn tồn tại những hạn chế nhất định. Để tìm hiểu cụ thể hơn
các thủ tục và các chính sách kiểm soát nội bộ của nhà máy em chọn đề tài:
“Tăng cường kiểm soát nội bộ tại nhà máy may Hòa Thọ II thuộc Tổng công ty cổ
phần dệt may Hòa Thọ” làm luận văn tốt nghiệp.
Luận văn gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ
Phần 2: Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ tại nhà máy may Hòa Thọ II
thuộc tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ
Phần 3: Một số ý kiến đánh giá và hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại nhà máy
may Hòa Thọ II
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 1
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIẾM SOÁT NỘI BỘ
và giám sát mức hiệu quả của việc thực thi các chế độ và quyết định đó.
- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong
mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác với các nghiệp vụ kinh tế xảy ra.
- Đảm bảo việc lập báo cáo kịp thời, chính xác và đảm bảo độ tin cậy của các
thông tin phục vụ quản lý và báo cáo tài chính cho các đối tượng bên ngoài.
2. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống KSNB của các đơn vị vì
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu…của từng nơi,
thế nhưng bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản sau:
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 2
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
2.1 Môi trường kiểm soát
Đây là môi trường mà trong đó toàn bộ hoạt động KSNB được triển khai. Môi
trường kiểm soát thiết lập sắc thái chung của một tổ chức thông qua việc chi phối ý
thức kiểm soát của các thành viên, cung cấp một nền tảng cho tất cả các thành phần
khác của KSNB. Môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức, thái độ, hành động của
người quản lý trong đơn vị đối với kiểm soát và tầm quan trọng của kiểm soát. Nếu
nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu đối
với mọi hoạt động trong đơn vị thì mọi thành viên của đơn vị sẽ có nhận thức đúng
đắn về hoạt động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi quy định, chế độ đề ra. Ngược
lại, nếu hoạt động kiểm tra, kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn
các quy chế về hệ thống KSNB sẽ không được vận hành một cách có hiệu quả bởi các
thành viên của đơn vị.
Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Tính chính trực và các giá trị đạo đức: Sự trung thực và các giá trị đạo đức
được tôn trọng thì các sai phạm sẽ được hạn chế. Để đáp ứng được điều này, các nhà
quản lý cấp cao phải xây dựng các chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị, và cư xử đúng
đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
hiện các quyết định đó trong toàn doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức của một đơn vị
thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, trong đó phản ánh mối quan hệ về quyền hạn,
trách nhiệm và báo cáo.
Chính sách nhân sự: Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền với đội
ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như
chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, các nhà quản lý cần có những chính sách cụ thể, rõ ràng về tuyển dụng, đào
tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân viên. Việc đào tạo, bố trí cán bộ và đề
bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức.
Công tác kế hoạch: Nếu việc lập và thực hiện được tiến hành khoa học và
nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu
hiệu. Vì vậy trong thực tế, các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện
kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện
những vấn đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời.
Bộ phận kiểm toán nội bộ: Thực hiện sự giám sát và đánh giá thường xuyên
về toàn bộ hoạt động của đơn vị. Đây là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát.
Hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán: Tại một số quốc gia như Mỹ, các
công ty cổ phần có quy mô lớn, thường thành lập một ủy ban kiểm toán trực thuộc
HĐQT bao gồm những thành viên là chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Ủy
ban kiểm toán thường có nhiệm vụ và quyền hạn như: giám sát việc chấp hành luật
pháp của công ty, kiểm tra, giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ, giám sát tiến
trình lập BCTC, dung hòa những bất đồng (nếu có) giữa ban giám đốc với các kiểm
toán viên bên ngoài.
Môi trường bên ngoài: Các nhân tố bên ngoài tuy không chịu sự kiểm soát của
nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các
nhà quản lý cũng như sự thiết kế, vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ.
Bao gồm sự kiểm soát của cơ quan chức năng nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ,
môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước…
2.2. Đánh giá rủi ro của doanh nghiệp (Risk assessment)
một yếu tố quan trọng trong KSNB của đơn vị vì nó không chỉ cung cấp thông tin kinh
tế tài chính cần thiết cho những đối tượng sử dụng thông tin mà còn có tác dụng kiểm
soát nhiều mặt hoạt động của đơn vị, bằng việc ghi chép nhập xuất tài sản dựa trên
chứng từ hợp lệ, kế toán góp phần bảo vệ tài sản của đơn vị không bị thất thoát, gian
lận hoặc sử dụng sai mục đích, lãng phí. Để đảm bảo ngăn ngừa sai sót trong sổ sách
kế toán, cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp về kế toán phải thực hiện đầy đủ
các mục tiêu sau:
- Tính có thực: Cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ
không có thực vào sổ sách của đơn vị.
- Sự phê chuẩn: Bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn đúng đắn.
- Tính đầy đủ: Các nghiệp vụ kinh tế hiện có phải được ghi sổ đầy đủ.
- Sự đánh giá: Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn. Một cơ cấu
KSNB đầy đủ phải bao gồm các thể thức để ngăn ngừa các sai số khi tính toán và ghi
sổ số tiền của các nghiệp vụ ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình ghi sổ.
- Sự phân loại: Bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản
và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán.
- Tính đúng kỳ: Việc ghi nhận doanh thu, chi phí phải đúng kỳ, đúng niên độ kế
toán.
- Chuyển sổ và tổng hợp chính xác: Số liệu kế toán được ghi vào sổ phải được
tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên BCTC của doanh nghiệp.
- Trình bày và khai báo: số liệu phải được trình bày, khai báo trên BCTC đúng
đắn, phù hợp với các quy định chuẩn mực hiện hành.
2.4. Các thủ tục kiểm soát (control activities)
Những hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục giúp đảm bảo rằng
các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Các hoạt động kiểm soát diễn ra trong khắp
tổ chức, ở tất cả các cấp, trong tất cả các chức năng. Hoạt động kiểm soát thường liên
quan đến hai yếu tố: một là chính sách thiết lập những gì nên được thực hiện và các
thủ tục nhằm đạt hiệu lực của các chính sách đó.
Trong thực tế, các thủ tục kiểm soát được thiết kế cho những mục đích, chính
sách sẽ khác nhau và dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào nét đặc thù cơ cấu
- Chức năng bảo quản tài sản với chức năng kế toán: Lý do là để ngăn chặn
hành vi tham ô tài sản. Nếu không nhân viên sẽ tự tiện sử dụng tài sản để phục vụ cho
lợi ích cá nhân và điều chỉnh sổ sách để che giấu sai phạm của mình.
- Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ với chức năng bảo quản tài sản: Nghĩa là
người được giao nhiệm vụ phê chuẩn nghiệp vụ không được kiêm bảo quản tài sản vì
tạo khả năng thâm lạm tài sản.
- Chức năng thực hiện nghiệp vụ với chức năng kế toán: Nếu từng bộ phận vừa
thực hiện nghiệp vụ vừa ghi chép và báo cáo thì họ sẽ có xu hướng thổi phồng kết quả
để tăng thành tích của bộ phận hoặc khu vực của mình. Muốn không cho thông tin bị
thiên lệch như trên, quá trình ghi sổ nên giao cho một bộ phận riêng biệt thực hiện –
thường là bộ phận kế toán.
- Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn
Theo sự ủy quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định
và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định. Quá trình ủy quyền được
tiếp tục mở rộng xuống cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và
quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải
được phê chuẩn đúng đắn. Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung
và phê chuẩn cụ thể.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 6
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
- Phê chuẩn chung: Là trường hợp người quản lý ban hành các chính sách để áp
dụng cho toàn đơn vị. Sau đó, nhân viên cấp dưới căn cứ chính sách đó để xét duyệt
các nghiệp vụ trong giới hạn mà chính sách cho phép.
- Phê chuẩn cụ thể: Là trường hợp người quản lý xét duyệt từng nghiệp vụ
riêng biệt chứ không đưa ra chính sách chung nào. Phê chuẩn cụ thể được áp dụng cho
các nghiệp vụ không thường xuyên phát sinh. Phê chuẩn cụ thể cũng được áp dụng đối
với những nghiệp vụ thường xuyên nhưng có số tiền vượt khỏi giới hạn cho phép của
chính sách chung, thí dụ các nghiệp vụ bán chịu có số tiền lớn trên một mức ấn định
• Việc tuân thủ các quy trình và chính sách, vốn là một phần của hệ thống kiểm
soát nội bộ của công ty.
• Việc tuân thủ các chính sách và quy trình kế toán cũng như việc đánh giá tính
chính xác của các báo cáo tài chính và báo cáo quản trị.
• Xác định các rủi ro, các vấn đề và nguồn gốc của việc kém hiệu quả và xây
dựng kế hoạch giảm thiểu những điều này.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 7
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
Kiểm toán nội bộ báo cáo trực tiếp lên Tổng Giám đốc hoặc Hội đồng Quản trị.
Do đó, với một kiểm toán nội bộ làm việc hiệu quả, hệ thống kiểm soát nội bộ của
công ty sẽ liên tục được kiểm tra và hoàn thiện.
3. Kiểm soát nội bộ trong môi trường tin học
Do những đặc điểm khác nhau giữa việc xử lý bằng tay và bằng máy nên việc
kiểm soát kế toán cũng có những đặc điểm khác nhau, do đó nhà quản trị cần phải thiết
lập các thủ tục kiểm soát đặc trưng:
3.1 Kiểm soát nhập liệu
Kiểm soát nhập liệu được thực hiện từ khi có nguồn dữ liệu cho đến khi hoàn
tất việc nhập liệu vào hệ thống. Do đó cần phải kiểm soát nguồn dữ liệu và kiểm soát
quát trình nhập liệu.
3.1.1 Kiểm soát nguồn dữ liệu
Kiểm soát nguồn dữ liệu nhằm đảm bảo rằng dữ liệu nhập vào là hợp lệ. Những
thủ tục kiểm soát cụ thể gồm:
- Kiểm tra việc đánh số trước chứng từ gốc để hạn chế việc ghi trùng hay bỏ sót
nghiệp vụ.
- Chứng từ phải được phê duyệt đầy đủ và hợp lý.
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý.
- Đánh dấu chứng từ đã nhập liệu nhằm tránh nhập hai lần.
- Sử dụng các chứng từ luân chuyển và đó là những chứng từ đã được luân
chuyển từ bộ phận này đến bộ phận khác nên đã có sự kiểm tra, đối chiếu số liệu, tính
của việc nhập liệu.
- Thông báo lỗi đầy đủ, chính xác, rõ ràng và hướng dẫn sửa lỗi rõ ràng, dễ thực
hiện: Hệ thống phải dự kiến những lỗi mà người dùng hay gặp phải và hướng dẫn sửa
lỗi.
3.2. Kiểm soát quá trình xử lý dữ liệu và kiểm soát bảo trì tập tin
Kiểm soát xử lý là kiểm tra sự chính xác của các thông tin kế toán trong quá
trình xử lý số liệu, loại trừ các yếu tố bất thường trong quản lý, xử lý, đảm bảo cho hệ
thống vận hành như thiết kế ban đầu. Kiểm soát quá trình xử lý dữ liệu và bảo trì tập
tin bao gồm các thủ tục sau:
- Kiểm soát ràng buộc toàn vẹn dữ liệu: Dữ liệu sau khi nhập vào hệ thống cần
đảm bảo các ràng buộc toàn vẹn dữ liệu, có nghĩa là các dữ liệu có liên kết với nhau
qua các mối liên hệ cho nên sẽ không được xóa khi liên kết dữ liệu vẫn đang tồn tại.
- Kiểm tra dữ liệu hiện hành: Trong quá trình hoạt động có những dữ liệu
không sử dụng nữa ví dụ như một nhà cung cấp đã phá sản thì những dữ liệu này sẽ
làm đầy và giảm tốc độ xử lý của hệ thống, do đó cần kiểm tra và xóa các khỏi danh
mục dữ liệu.
- Kiểm soát trình tự xử lý dữ liệu: Hệ thống yêu cầu các mẫu tin trong tập tin dữ
liệu phải nằm theo trình tự. Kiểm soát trình tự sẽ phát hiện ra mẫu tin không nằm đúng
trình tự và báo lỗi cho người sử dụng.
- Báo cáo các thông tin bất thường: Tiền mặt âm, hàng tồn kho âm,…
- Đối chiếu với dữ liệu ngoài hệ thống: Bảng đối chiếu công nợ với nhà cung
cấp, khách hàng, đối chiếu với bảng kê tiền gửi ngân hàng.
- Tự động đối chiếu giữa tổng hợp với chi tiết nhằm ngăn chặn việc chỉnh sửa
số liệu bất hợp pháp sau khi chuyển sổ cái.
- Lập trình các kiểm soát: Tự động kiểm tra việc chuyển số liệu vào các tài
khoản liên quan theo nguyên tắc ghi kép, hay chuyển số liệu chi tiết sang tổng hợp thì
cần thiết lập khâu kiểm soát việc có kiểm tra dữ liệu của kế toán tổng hợp hay không
trước khi chuyển sang sổ tổng hợp.
3.3. Kiểm soát thông tin đầu ra
Kiểm soát thông tin đầu ra bao gồm chính sách và các bước thực hiện nhằm
Bảng sau mô tả nội dung của các chu trình kế toán:
Hoạt động
kinh doanh
Chu trình kế
toán
Sự kiện kinh tế Hệ thống ứng dụng
Đầu tư Chu trình tài
chính
-Tăng vốn
-Sử dụng vốn
-Báo cáo tài chính cho các
chủ đầu tư
-Hệ thống ghi nhật ký
-Hệ thống tài sản cố
định
-Hệ thống báo cáo tài
chính
Dự trữ thanh
toán tiền
Chi phí -Yêu cầu hàng cần dự trữ
-Nhận các hàng mua
-Xác định nghĩa vụ thanh toán
-Thanh toán
-Mua hàng
-Nhận hàng
-Theo dõi thanh toán
-Chi tiền
Sản xuất
chuyển đổi chi
phí tài sản
-Nhận tiền thanh toán
-Nhận tiền
Mặc dù đầu vào và đầu ra của mỗi chu trình là khác nhau nhưng đầu ra của chu
trình trước lại là đầu vào của chu trình tiếp theo. Nếu có một chu trình nào đó bị gián
đoạn thì sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống của doanh
nghiệp.
Chẳng hạn, Chu trình mua hàng và thanh toán sẽ cung cấp đầu vào gồm nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị, ….cho chu trình chuyển đổi. Chu trình chuyển đổi sẽ thực
hiện quá trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm. Sản phẩm này là đầu vào của chu trình
doanh thu. Chu trình doanh thu sẽ bán sản phẩm và thu tiền. Tiền thu được là đầu vào
của chu trình tài chính để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, đầu tư dự án,… tức
là dùng lượng tiền đó để đầu tư tiếp tạo ra một lượng tiền lớn hơn đảm bảo nhu cầu
mua nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp, hay nói cách khác là để đáp
ứng cho đầu vào của chu trình mua hàng và thanh toán. Qúa trình cứ thế tiếp tục tuần
hoàn.
1. Chức năng của chu trình mua hàng và thanh toán
1.1 Chuẩn bị đơn đặt hàng
Khi có yêu cầu mua hàng, bộ phận có liên quan (phòng kinh doanh, kho) sẽ căn
cứ trên nhu cầu để lập Phiếu đề nghị mua hàng. Phiếu đề nghị mua hàng có thể được
lập bằng tay hoặc bằng máy tuy nhiên phải được phê duyệt thích hợp.
Sau khi nhận được Phiếu đề nghị mua hàng đã được phê duyệt, bộ phận mua
hàng sẽ tiến hành các thủ tục lựa chọn nhà cung cấp. Khi đã xác định được nhà cung
cấp, bộ phận mua hàng sẽ lập Đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp. Một bản sao của
Đơn đặt hàng được chuyển cho bộ phận nhận hàng để làm cơ sở kiểm tra khi nhận
hàng.
1.2 Nhận hàng hóa dịch vụ
Việc nhận hàng hóa dịch vụ của công ty từ người bán là một điểm quyết định
trong chu trình vì đây là điểm mà tại đó hầu hết công ty thừa nhận khoản nợ liên quan
trên sổ sách của họ. Khi hàng hóa nhận được, quá trình kiểm soát thích hợp đòi hỏi sự
kiểm tra mẫu mã, số lượng, thời gian đến…
quan đến một sự kiện kinh tế - sự tiêu thụ lao động, vật liệu và chi phí sản xuất chung
để tạo ra thành phẩm hoặc dịch vụ. Việc xử lý này sẽ khác nhau tùy thuộc vào đơn vị
là doanh nghiệp sản xuất, thương mại hay dịch vụ.
2.1 Hệ thống hàng tồn kho
Hệ thống hàng tồn kho có hai chức năng chủ yếu là duy trì các ghi chép kế toán
về hàng tồn kho và quản trị hàng tồn kho. Mục đích của việc quản trị hàng tồn kho là
duy trì mức dự trữ tối ưu nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu tư hàng tồn kho mà vẫn đảm
bảo sản xuất tiến hành bình thường đều đặn cho dù có thể sử dụng nguyên vật liệu
nhiều hơn mức dự tính hoặc thậm chí khi người cung cấp chậm trễ trong việc giao
hàng. Doanh nghiệp sản xuất sử dụng hệ thống hàng tồn kho để kiểm soát mức nguyên
vật liệu, thành phẩm dự trữ và sản xuất.
Báo cáo của hệ thống hàng tồn kho
Báo cáo nhập xuất hàng tồn kho: Báo cáo này trình bày tổng quát tình hình
nhập xuất hàng tồn kho trong kỳ. Nhìn vào báo cáo này người sử dụng biết được tình
hình hiện hành của hàng tồn kho bao gồm số lượng, giá trị và tình hình nhập xuất từng
loại hàng trong kỳ.
Cáo cáo tham vấn hàng tồn kho: Trường hợp doanh nghiệp sử dụng hệ thống
xử lý ngay theo thời gian thực, người sử dụng có thể tham vấn bất cứ một thông tin
nào mong muốn về hàng tồn kho. Ví dụ người sử dụng muốn biết riêng biệt tình hình
sử dụng mặt hàng nào đó.
2.2 Hệ thống tiền lương
Mục đích của hệ thống tiền lương là theo dõi và tính tiền lương phải trả, các
khoản khấu trừ, các khoản thu nhập và thanh toán lương cho nhân viên.
- Cập nhật thông tin về nhân sự: Phòng nhân sự tuyển dụng nhân viên, cập nhật
mới thông tin liên quan tới nhân viên.
- Thu thập và kiểm tra các dữ liệu về thời gian lao động hay kết quả lao động:
Bộ phận tính lương kiểm tra dữ liệu liên quan tới nhân sự do phòng nhân sự chuyển
tới, thời gian hay kết quả lao động do bộ phận sử dụng lao động chuyển tới và sau đó
tính lương cho từng nhân viên.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 12
Kế toán tập hợp các chi phí phát sinh liên quan tới quá trình sản xuất, như các
lệnh sản xuất, phiếu xuất kho, bảng tính lương, chi phí khấu hao, hóa đơn,… làm căn
cứ để theo dõi chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
3. Chu trình doanh thu
Chu trình doanh thu gồm các nghiệp vụ kế toán ghi chép những sự kiện phát
sinh liên quan tới việc tạo doanh thu và thanh toán. Có 4 sự kiện kinh tế xảy ra trong
quá trình doanh thu:
3.1 Nhận đơn đặt hàng của khách hàng
Bộ phận bán hàng hoặc dịch vụ khách hàng nhận các yêu cầu từ khách hàng,
kiểm tra những thông tin về hàng yêu cầu, lập lệnh bán hàng, chuyển bộ phận tín dụng
chấp thuận bán chịu và cuối cùng bộ phận này trả lời đặt mua của khách hàng
3.2 Giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng
Tới ngày giao hàng, kho hàng tiến hành xuất kho theo như lệnh bán hàng. Bộ
phận bán hàng sẽ tiếp tục gởi hàng này cho khách hàng theo địa điểm chỉ định.
3.3 Yêu cầu khách hàng thanh toán tiền
Sau khi hàng được gởi cho khách hàng, giấy gởi hàng được chuyển cho bộ phận
lập hóa đơn. Bộ phận này tiến hành kiểm tra, đối chiếu các chứng từ liên quan và lập
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 13
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
hóa đơn bán hàng ghi nhận hoạt động bán hàng thực sự hoàn thành. Đây là căn cứ để
ghi sổ chi tiết phải thu khách hàng.
3.4 Nhận tiền thanh toán
Khi khách hàng gởi séc thanh toán và giấy báo trả tiền, bộ phận thư tín sẽ phân
loại, lập bảng kê nhận séc thanh toán và chuyển séc cho thủ quỹ, giấy báo và bảng kê
cho kế toán phải thu để ghi sổ chi tiết khoản phải thu khách hàng thanh toán.
4. Chu trình tài chính
Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp
nhận tiền từ nguồn này và đầu tư vào tài sản. Chu trình tài chính theo dõi các nghiệp
vụ kinh tế liên quan tới nguồn vốn này và ghi chép các sự kiện kinh tế:
đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. Chứng từ điện tử phải được in ra giấy và lưu trữ theo
quy định về lưu trữ chứng từ.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 14
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
1.1 Chu trình mua hàng và thanh toán
Hệ thống chứng từ
- Phiếu yêu cầu hàng hóa/ dịch vụ: Đây là chứng từ được lập bởi các bộ phận
trong doanh nghiệp khi có nhu cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ, bao gồm thông tin về
mục đích yêu cầu, mã hàng, tên hàng, quy cách, số lượng hàng, yêu cầu về thời gian
nhận hàng… Yêu cầu mua hàng sau khi được sự xét duyệt, chấp thuận của người quản
lý bộ phận yêu cầu sẽ được chuyển đến bộ phận mua hàng.
- Bảng báo giá: Tài liệu do những nhà cung cấp cạnh tranh đưa ra, giới thiệu
những hàng hóa dịch vụ cần cho doanh nghiệp, về đơn giá, mẫu mã và những điều
kiện khác.
- Đơn đặt hàng: Căn cứ trên phiếu yêu cầu mua hàng, bộ phận lập đơn đặt
hàng sẽ lập đơn đặt hàng gửi đến nhà cung cấp đã chỉ định hoặc tổ chức đấu thầu trong
trường hợp đặc biệt. Thông tin trên đơn đặt hàng bao gồm các thông tin tên hàng, qui
cách, số lượng, đơn giá, thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng, số của phiếu yêu cầu,
cũng như các yêu cầu khác về bảo hiểm, điều kiện giao nhận… Nếu đơn đặt hàng
được người bán chấp thuận thì một hợp đồng giữa hai bên sẽ được soạn thảo và ký kết.
- Báo cáo nhận hàng/ Phiếu nhập kho: Báo cáo nhận hàng được bộ phận nhận
hàng lập, sau khi kiểm đếm độc lập hàng nhận được sẽ ghi chép chính xác số lượng,
chất lượng, quy cách của từng món hàng thực nhận. Số liệu thực nhập được dùng làm
căn cứ để ghi tăng TK hàng tồn kho.
- Hóa đơn bán hàng của người bán: Đây là chứng từ xác định quyền sở hữu
hàng được chuyển cho người mua và nghĩa vụ thanh toán của người mua đối với người
bán. Gồm những thông tin: mặt hàng, số lượng hàng hóa và dịch vụ nhận được, giá
gồm cả cước phí vận chuyển, các phương thức chiết khấu tiền mặt, và ngày tính Hóa
đơn.
năng suất hàng ngày.
- Sec thanh toán lương, phiếu chi lương: Đây là các chứng từ chứng minh cho
nghiệp vụ chi lương đã thực hiện.
- Hệ thống tiền gởi chuyên chi lương: Trong thanh toán lương, doanh nghiệp
mở một tài khoản tại ngân hàng hoặc một quỹ đặc biệt tại đơn vị với mức ấn định
trước đủ để thanh toán toàn bộ lương của nhân viên trong toàn doanh nghiệp. Khi tới
kỳ trả lương, căn cứ vào bảng tính lương, bộ phận tính lương yêu cầu chuyển tổng số
tiền bằng tổng số tiền lương từ quỹ chung doanh nghiệp sang quỹ chuyên chi lương.
Khi trả lương cho nhân viên theo bảng tính lương các séc thanh toán lương hay chi
tiền mặt đều được chi từ quỹ chuyên chi lương này.
- Hệ thống chi phí
- Lệnh sản xuất hay thông báo sản xuất: Do bộ phận lập kế hoạch sản xuất lập
dựa trên kế hoạch sản xuất sản phẩm để ủy quyền cho phân xưởng sản xuất tiến hành
sản xuất theo số lượng, chất lượng và loại sản phẩm xác định.
- Yêu cầu nguyên vật liệu: Chứng từ yêu cầu nguyên vật liệu cần thiết cho mỗi
lệnh sản xuất.
- Phiếu xuất kho: Đây là chứng từ chứng minh nghiệp vụ xuất kho đã thực hiện
dựa trên yêu cầu về nguyên vật liệu đã được phê chuẩn.
- Các phiếu chi, hóa đơn GTGT, bảng tính và phân bổ khấu hao,…: Các chứng
từ này chứng minh sự phát sinh của các khoản mục chi phí sản xuất.
1.3 Chu trình doanh thu
Hóa đơn bán hàng: Là chứng từ xác định quyền sở hữu hàng chuyển cho người
mua và nghĩa vụ thanh toán của người mua. Chứng từ này bao gồm các thông tin về
hàng bán như chủng loại hàng, số lượng hàng, đơn vị tính, tiền, các điều kiện thanh
toán,…Chứng từ này được lập làm nhiều liên bao gồm gởi hàng chuyển kế toán phải
thu và lưu tại bộ phận lập hóa đơn.
Giấy báo trả tiền, phiếu thu, giấy báo có ngân hàng….
Đơn đặt hàng:
Phiếu xuất kho thành phẩm:
Hoá đơn
2.2 Sổ sách kế toán
Doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định chung về sổ kế toán đã được quy định
về thiết kế sổ, ghi chép sổ, sửa chữa sai sót, lưu trữ, bảo quản cũng như xử lý vi phạm.
Sổ kế toán phải được ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ. Thông tin,
số liệu ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với nội dung của chứng từ
kế toán.
Để đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin bên trong và ngoài doanh nghiệp, hệ
thống sổ kế toán được tổ chức thành hai bộ phận là sổ tổng hợp và sổ chi tiết
Sổ tổng hợp dùng để cung cấp thông tin tổng hợp phục vụ cho việc lập báo cáo
tài chính và đánh giá tình hình tổng quát của doanh nghiệp.
Sổ chi tiết dùng để đáp ứng yêu cầu quản lý bên trong doanh nghiệp đối với
từng đối tượng cụ thể.
- Hệ thống sổ kế toán trong chu trình mua hàng và thanh toán gồm các sổ chi
tiết và các sổ tổng hợp của các Tài khoản: 331, 133, 152, 153, 111, 112…
- Hệ thống sổ sách kế toán trong chu trình chuyển đổi bao gồm các sổ chi tiết và
tổng hợp các tài khoản: 621, 622, 627, 334, 152, 153…
- Hệ thống sổ sách kế toán trong chu trình doanh thu bao gồm các sổ chi tiết và
tổng hợp các tài khoản: 511, 111, 333…
- Hệ thống sổ sách kế toán trong chu trình tài chính bao gồm các sổ chi tiết và
tổng hợp các tài khoản: 635, 515, 111…
3. Tổ chức báo cáo kế toán
Báo cáo kế toán trong doanh nghiệp bao gồm:
Các sổ chi tiết
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng cân đối kế toán
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 17
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
Kết luận phần 1: Phần I của đề tài này đã lý giải thế nào là kiểm soát nội bộ
xưởng, kho khoảng 72.000m
2
.
Ngay từ giai đoạn đầu mới thành lập công ty lấy tên là “công ty dệt
SICOVINA” thuộc xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng là một
trong 4 công ty thuộc công ty kỹ nghệ Bông vải Việt Nam. Sau khi thành lập đã đi vào
sản xuất với các thiết bị của các quốc gia lớn như Mỹ, Nhật, Tây Đức.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1975 công ty được tiếp quản và
thuộc sở công nghiệp tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng quản lý và công ty đã đi vào sản xuất
theo chỉ tiêu pháp lệnh trong suốt thời kỳ bao cấp.
Năm 1993 đổi tên thành doanh nghiệp Nhà nước: Công ty Dệt Hoà Thọ theo
quyết định số 241/TCLĐ ngày 24/03/1993 của Bộ Công nghiệp nhẹ.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 18
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
Năm 1997 công ty đổi tên thành “Công ty Dệt May Hòa Thọ” theo quyết định
thành lập số 241-QĐ/TCLĐ của Bộ công nghiệp nhẹ nay là Bộ công nghiệp.
Cuối tháng 10/1999 công ty xây dựng thêm một xí nghiệp gồm 8 chuyền may
với công nghệ và trang thiết bị hiện đại được lấy tên là xí nghiệp may II, đến đầu năm
2000 xí nghiệp được đầu tư thêm một chuyền may và đến ngày 1/4/2001 xí nghiệp
may II được đầu tư mở rộng quy mô sản xuất lớn và tăng thêm 3 chuyền may với trang
thiết bị máy móc hiện đại hơn nhằm đưa xí nghiệp may II ngày càng phát triển mạnh
hơn.
Năm 2005 chuyển thành Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt May
Hoà Thọ theo quyết định số 200/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 15/11/2006 chuyển thành Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hoà Thọ theo
quyết định số 3252/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp, và chính thức đi vào hoạt động vào
ngày 01 tháng 02 năm 2007.
Hiện nay Tổng Công ty Dệt May Hòa Thọ có 9 đơn vị trực thuộc:
- Nhà máy May Hòa Thọ I
Lớp: 32K06.1
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
Từng bước đưa “HOA THO CORP” trở thành một thương hiệu Dệt May hàng
đầu Việt Nam của Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
3. Cơ cấu tổ chức quản lý
Mô hình cơ cấu quản lý của Tổng công ty:
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 20
Lớp: 32K06.1
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Các phòng ban
chức năng
Văn phòng
đại diện
Các đơn vị
trực thuộc
Các đơn vị hạch toán phụ thuộc
Cty
sợi
Hoà
Thọ
Nhà
máy
may
Hoà
Thọ
1
Nhà
máy
Hoà
Thọ
Duy
Xuyên
Cty
may
Hoà
Thọ
Đông
Hà
CÔNG TY LIÊN KẾT
Cty cổ
phần thêu
Thiên Tín
Cty TNHH
may Tuấn
Đạt
Cty TNHH
may Bình
Phương
Cty cổ phần
Bao Bì Hoà
Thọ
Văn
phòng
P. tài
chính
kế
toán
P. kỹ
1. Giới thiệu chung về nhà máy may Hòa Thọ II
Nhà máy may Hòa Thọ II được thành lập năm 1999 và chính thức đi vào hoạt
động vào ngày 25/02/2000. Nhà máy II có 12 chuyền sản xuất với 45 công nhân
/chuyền và 60 máy/ chuyền được trang bị các máy móc chuyên dùng hiện đại nhập
khẩu từ Nhật Bản, Chzechoslovakia và Hoa Kỳ. Nhà xưởng được xây dựng phù hợp
với tiêu chuẩn Châu Âu. Hiện nay nhà máy may Hòa Thọ II có tổng diện tích là
5.420m
2
trong đó diện tích nhà xưởng là 3.500m
2
. Nhà máy may II chuyên sản xuất
các mặt hàng dệt kim, áo T-shirt, polo-shirt, quần Âu…Các nhãn hiệu được nhà máy
may tập trung gia công sản xuất là Haggar, Pery Ellis, Nikes. Các sản phẩm may mặc
được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản Đài Loan.
* Kết quả hoạt động qua các năm
Hoạt động kinh doanh của nhà máy đạt được những kết quả khả quan, thể hiện
qua các chỉ tiêu chính như sau: ĐVT: triệu đồng
Doanh thu và lợi nhuận tăng liên tục qua các năm, có được những kết quả như
vậy là do nhà máy không ngừng hoàn thiện công tác quản lý, đầu tư trang thiết bị đáp
ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may nói chung.
2. Đặc điểm tổ chức quản lý tại nhà máy may Hòa Thọ II
* Tổ chức bộ máy quản lý tại nhà máy
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 21
Lớp: 32K06.1
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 Qúi IV-2009
Doanh thu 36.025 38.051 39.200 42.048 9.520
Lợi nhuận trước thuế 1.250 2.015 2.421 2.754 146
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
3. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
Phụ
trách
kỹ
thuật
Phụ
trách
cơ điện
Phụ
trách
KCS
Phụ
trách
hoàn
thành
Phụ
trách tổ
1-4
Phụ
trách tổ
5-7
Phụ
trách tổ
8-12
Bộ
phận
cắt
Bộ
phận kỹ
thuật
Tổ
Chức năng và nhiệm vụ của từng thành viên trong bộ máy kế toán
- Kế toán lao động tiền lương và công tác SA: Có nhiệm vụ tính lương, phụ cấp
các khoản theo lương, cung cấp số liệu về lao động, lập báo cáo tiền lương đồng thời
cũng chịu trách nhiệm về công tác xã hội.
- Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ xác định giá thành hạch toán phân bổ chi phí
sản xuất, xác định kết quả hoạt động sản xuất trong kỳ. Đồng thời kế toán tổng hợp
của nhà máy sẽ làm tất cả các phần hành kế toán trừ phần hành kế toán tiền lương.
- Thủ quỹ: Ghi sổ quỹ, kiểm tra tiền vốn quỹ đối chiếu để lập báo cáo các quỹ.
2. Hình thức sổ kế toán áp dụng tại nhà máy
Nhà máy hiện tổ chức ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ (hình thức này
được áp dụng thống nhất trong Tổng công ty và tất cả các nhà máy, xí nghiệp trực
thuộc) và hiện tại nhà máy đang áp dụng tin học vào trong công tác kế toán của mình,
phần mềm mà nhà máy sử dụng là phần mềm BRAVO.
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ áp dụng trên máy vi tính.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Phượng Trang 23
Lớp: 32K06.1
Kế toán lao
động tiền lương
và công tác SA
Kế toán tổng
hợp
Thủ quỹ
Luận văn tốt nghiệp TS. Hoàng Tùng
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC THEO HÌNH THỨC CHỨNG TỪ GHI SỔ
Chú thích: Ghi hằng ngày
Ghi định kỳ hoặc cuối tháng, cuối quý
Quan hệ đối chiếu
Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính
Hằng ngày kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ
- Phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên,
tính giá hàng xuất kho theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ.
- Kỳ hạch toán của nhà máy theo tháng, cuối tháng kế toán tổng hợp chi phí sản
xuất và giá thành thực tế của sản phẩm, xác định kết quả kinh doanh, phản ánh vào sổ
cái mở cho tháng đó đồng thời in báo cáo tài chính để nộp cho Tổng công ty.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được phân bổ cho từng mặt hàng theo định
mức phòng công nghệ đưa xuống, chi phí nhân công và sản xuất chung phân bổ theo
doanh thu tính lương.
- Sản phẩm dở dang cuối kỳ (cuối tháng) là không đáng kể do đó ở nhà máy
không tính và đánh giá sản phẩm dở dang.
B. THỰC TẾ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NHÀ MÁY MAY HÒA
THỌ II
I. Quy trình công nghệ và đặc điểm tổ chức sản xuất tại nhà máy
1. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Sản phẩm của nhà máy chủ yếu là các sản phẩm may mặc sản xuất theo quy
trình công nghệ sau:
Quy trình công nghệ2. Đặc điểm sản xuất tại nhà máy
Tổng công ty sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng với khách hàng, khách hàng cung
cấp nguyên vật liệu chính (vải) cho Tổng công ty, sau đó Tổng công ty căn cứ vào
từng đơn đặt hàng để lập kế hoạch sản xuất, lập dự toán nguyên vật liệu chính và cấp
xuống cho nhà máy sản xuất. Nhà máy căn cứ vào thông báo sản xuất Tổng công ty
đưa xuống cùng với nguyên vật liệu chính là vải nhập tại nhà máy, phụ trách kế hoạch
sẽ lập kế hoạch sản xuất cho từng chuyền may nhằm đảm bảo từng đơn đặt hàng sẽ
hoàn thành theo đúng kế hoạch. Qua quá trình sản xuất mô tả ở trên, sản phẩm sau khi
hoàn thành sẽ nhập kho thành phẩm, đến đúng thời gian theo thông báo của Tổng công
ty thì nhà máy sẽ tiến hành xuất kho thành phẩm bàn giao cho Tổng công ty.
II. Phân cấp quản lý tại Tổng công ty