MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU
TRÌNH CUNG ỨNG TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA
THỌ
1. Đánh giá thực trạng chu trình cung ứng và công tác kiểm soát nội bộ
chu trình cung ứng hiện nay tại Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hòa Thọ
1.1. Những ưu điểm
Tổng Công ty có môi trường kiểm soát khá chặt chẽ. Về các đặc điểm trong
ban quản lý cũng như phong cách làm việc và quan điểm của họ là khá quan
trọng cho một hệ thống KSNB hữu hiệu. Với quan điểm kinh doanh lành mạnh,
phong cách lãnh đạo làm việc thân thiện, minh bạch, luôn tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức trong kinh doanh của Ban quản lý Tổng Công ty, họ như là một đầu
tàu khá vững chắc và mạnh mẽ, tạo tiền đề xúc tiến sản xuất kinh doanh cũng
như luôn không ngừng cố gắng phát triển và xây dựng uy tín thương hiệu của
mình trong lòng người tiêu dùng và thị trường tiêu thụ. Thực tế đã được chứng
minh qua những giải thưởng, huân chương, … và một điều dễ dàng nhận thấy
rõ đó là Doanh thu của Tổng Công ty liên tục tăng vọt qua từng năm.
(ĐVT: đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
Tổng Doanh thu 689.201.972.626 742.757.426.481 929.193.145.316
Về cơ cấu tổ chức, Tổng Công ty phân bố tương đối nhiều bộ phận, nhiều
Phòng ban, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là cơ cấu tổ chức phức tạp và khó
hiểu. Điều ngược lại là cơ cấu được phân chia rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với quy
mô của Tổng Công ty. Với cơ cấu này, mỗi bộ phận, phòng ban … đều có chức
năng và quyền hạn rõ ràng, khoa học, không gây sự đùn đẩy đối phó và cả sự
chồng chéo lẫn nhau trong công việc.
Chính sách nhân sự luôn được Tổng Công ty coi trọng bởi nhân tố con người
bao giờ cũng quan trọng, tạo tiền đề làm ra mọi thứ và đồng thời cũng là mục
tiêu, mục đích của mọi sự kiểm soát. Một đội ngũ công nhân viên có chuyên
huy chức năng tham mưu kịp thời về tình hình kinh tế tài chính của đơn vị.
Các thủ tục kiểm soát tương đối đảm bảo ba nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc phân công phân nhiệm.
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm.
- Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn.
Ưu điểm của công tác kiểm soát đối với chu trình cung ứng tại Tổng
Công ty:
- Môi trường kiểm soát khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nghiệp vụ,
công tác liên quan đến chu trình xảy ra.
- Cơ chế kiểm soát khá chặt chẽ, sự phân chia công việc, trách nhiệm cho
các bộ phận rõ ràng, quá trình luân chuyển và lưu trữ chứng từ khá nghiêm
ngặt và kiểm soát tốt.
- Việc tổ chức công tác hạch toán kế toán được thực hiện khá khoa học
và chặt chẽ, mỗi phần hành kế toán đảm đương tốt nhiệm vụ được phân chia,
tuân thủ theo các quy định và quy chế chung đã được đề ra.
- Nguyên tắc phân công phân nhiệm và nguyên tắc bất kiêm nhiệm được
đảm bảo. Công việc được phân chia cho nhiều người tạo sự chuyên môn hóa
trong công việc và dễ dàng kiểm soát lẫn nhau tránh những sự cố ý gian lận hay
các sai sót có thể xảy ra. Theo đó trách nhiệm cũng được phân chia rõ ràng và
hợp lý. Chẳng hạn, có sự tách bạch bộ phận đặt hàng (Phòng Kinh doanh) và bộ
phận nhận hàng (Thủ kho nhận hàng và Phòng Kế hoạch - Thị trường lập Phiếu
nhập kho…); có sự tách biệt giữa trách nhiệm thực hiện công việc và trách
nhiệm ghi sổ (Phòng Kinh doanh và Phòng KH - TT chịu trách nhiệm đặt hàng
nhận hàng còn Phòng TCKT đảm đương nhiệm vụ ghi chép và lưu trữ thông
tin…); có sự tách biệt giữa chức năng thực hiện và chức năng kiểm soát (Kế
toán trưởng đảm nhiệm vai trò chỉ đạo chung không tham gia thực hiện vào
một phần hành nào, tránh việc là vừa đảm nhiệm vai trò kiểm tra và vừa thực
hiện công việc…);…
- Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn cũng được đảm bảo (Các chứng
từ trước khi thực hiện hầu như đều có đầy đủ sự ký duyệt của người quản lý
phận này thường chỉ kiểm khi hàng đã nhập kho.
- Bảng nhập hàng được Thủ kho lập sau khi về kho và mở kiện kiểm tra chi
tiết, chứng từ lại không có số thứ tự, điều này có thể dẫn đến những rủi ro
trong kiểm soát, thất thoát tài sản hoặc gian lận trong việc kiểm hàng.
- Tất cả những gì liên quan đến sự giao dịch thông tin như ĐĐH, Hợp đồng
mua bán, hay Invoice… giữa Tổng Công ty và Nhà cung cấp đều hầu hết qua
đường mail, có thể gặp phải những rủi ro không lường trước được trong đường
truyền thông tin. Mặc dù Tổng Công ty có những biện pháp để khắc phục (như
đã được nêu ở phần trên) nhưng vẫn làm hao tốn thời gian và chi phí, nguy cơ
làm chậm tiến độ sản xuất.
- Kế toán Tiền gửi ngân hàng và Kế toán đối chiếu Ngân hàng thực tế chỉ là
một, điều này vi phạm nguyên tắc trong thủ tục kiểm soát - Nguyên tắc bất
kiêm nhiệm và phân công phân nhiệm, dễ dẫn đến những rủi ro liên quan tài
sản Tiền gửi ngân hàng của Tổng Công ty.
1.3. Lợi ích của việc tăng cường kiểm soát nội bộ chu trình cung
ứng tại Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hòa Thọ
Kiểm soát nội bộ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
tế của các doanh nghiệp và tổ chức. Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị
quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế của công ty mình như:
con người, tài sản, vốn…., góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng được một
nền tảng quản lý vững chắc phục vụ cho quá trình mở rộng, và phát triển đi lên
của doanh nghiệp.
Và trong đó, công tác kiểm soát chu trình cung ứng - tức chu trình mua vật
tư và thanh toán thì đặc biệt có nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của Tổng Công ty. Bởi lẽ, hoạt động của chu trình này tác động mạnh
đến đầu vào chính của DN - Nguyên vật liệu. Kiểm soát tốt được chu trình này
xem như là đã thành công một phần đáng kể, góp phần rất lớn trong mọi công
tác cũng như mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của chính đơn vị. Kiểm soát
tốt chu trình này cũng tức là kiểm soát tốt đầu vào, làm tiền đề cho chất lượng
phận thuộc bộ máy điều hành - quản lý, có chức năng hỗ trợ cho Ban Tổng
Giám đốc Tổng Công ty, giám sát mọi hoạt động trong công ty, đảm bảo mọi
nhân viên thực hiện đúng nội quy, quy chế, những chính sách và các thủ tục
của đơn vị. Ngoài ra, bộ phận này còn có nhiệm vụ phải báo cáo kịp thời kết
quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ và đề xuất các giải pháp kiến nghị cần thiết
nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động an toàn đúng pháp luật.
Tổng công ty đã thành lập Ban Kiểm soát và định kỳ kiểm tra. Tuy nhiên,
lãnh đạo Tổng Công ty lại chưa chú trọng vai trò của bộ phận KTNB để thành
lập bộ phận này trong cơ cấu tổ chức của mình.
Hoạt động KTNB thường gồm:
- Kiểm tra đánh giá tính phù hợp, hiệu lực và hiểu quả của hệ thống kế toán
và hệ thống KSNB. Ban Tổng giám đốc phải có trách nhiệm thiết lập
và thường xuyên xem xét sự phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của các hệ
thống này. KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá thường xuyên đưa ra kiến
nghị nhằm hoàn thiện HTTT kế toán và hệ thống KSNB.
- Kiểm tra, đánh giá và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh
tế, tài chính của BCTC, báo cáo kế toán quản trị và hoạt động của đơn vị. Việc
kiểm tra, đánh giá này có thể bao gồm việc xem xet các phương pháp xác định,