TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐÀO HỮU CẦN
TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH ĐỒNG THÁP
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
HÀ NỘI- 2011
MỤC LỤC
Thu NSNN trong cơ quan HCNN có những đặc điểm sau: 13
Chi NSNN trong cơ quan HCNN có những đặc điểm sau: 13
Tài khoản kế toán 53
Sổ kế toán 54
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BTC Bộ Tài chính
2. CBCC Cán bộ công chức
3. HCNN Hành chính nhà nước
4. HQ Hải quan
5. HQCK Hải quan cửa khẩu
6. KSNB Kiểm soát nội bộ
7. NSNN Ngân sách nhà nước
8. STQ Sau thông quan
9. TCHQ Tổng cục Hải quan
10.TSCĐ Tài sản cố định
11.XDCB Xây dựng cơ bản
12.XNK Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
3.2.4.5.Thực hiện chế độ công khai thông tin ix
Thu NSNN trong cơ quan HCNN có những đặc điểm sau: 13
Đối tượng nghiên cứu là kiểm soát nội bộ thu chi ngân sách Nhà nước.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ thu chi ngân sách nhà
nước trong cơ quan hành chính nhà nước;
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ thu chi ngân sách nhà nước tại
Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường kiểm soát nội bộ thu
chi ngân sách nhà nước tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp.
i
Luận văn trình bày khái quát chung về cơ quan HCNN; khái niệm, đặc
điểm, vai trò của cơ quan HCNN. Thu chi NSNN trong cơ quan HCNN; khái
niệm thu chi, vai trò, nội dung, đặc điểm của thu chi NSNN trong cơ quan
HCNN. Kiểm soát nội bộ thu chi NSNN trong cơ quan HCNN; yêu cầu và nội
dung kiểm soát nội bộ thu chi NSNN trong cơ quan HCNN. Đặc biệt tác giả
đi sâu phân tích kiểm soát nội bộ với thu chi NSNN tại cơ quan HCNN, môi
trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ
nhằm giúp cho thủ trưởng đơn vị quản lý và sử dụng NSNN có được tư duy
và cách nhìn khách quan, khoa học trong việc đánh giá thực trạng công tác
kiểm soát nội bộ thu chi NSNN.
Tác giả trình bày những đặc trưng cơ bản về hoạt động của Cục Hải quan
Tỉnh Đồng Tháp với kiểm soát: Tổng quan về sự hình thành và phát triển; tình
hình thực hiện thu chi NSNN tại Cục. Đặc biệt tác giả đi sâu phân tích tình hình
kiểm soát nội bộ thu chi NSNN tại Cục như: môi trường kiểm soát với kiểm soát
thu chi, hệ thống thông tin kế toán, thủ tục kiểm soát, nội dung kiểm soát, kiểm
soát công tác chấp hành kế hoạch dự toán và báo cáo quyết toán thu chi NSNN
tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp, qua đó chỉ ra những kết quả đạt được, những
hạn chế trong quá trình kiểm soát và nguyên nhân của những hạn chế. Cụ thể là:
Kết quả đạt được trong công tác kiểm soát nội bộ thu chi NSNN tại
Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua đã đáp ứng được các yêu
cầu trong kiểm soát thu chi NSNN. Các khoản thu được kiểm soát chặt chẽ
soát chi trong đơn vị. Mọi CBCC được quyền giám sát việc thực hiện quy chế
chi tiêu nội bộ góp phần chống tham ô, lãng phí, thực hành tiết kiệm cho đơn vị.
Thứ ba, đơn vị tuân thủ chế độ, chính sách hiện hành tương đối tốt. Dự
toán chi NSNN được TCHQ giao kịp thời tạo sự chủ động, thuận lợi cho đơn
iii
vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao. Hàng năm, đơn vị được TCHQ (Vụ
Tài vụ Quản trị) kiểm tra xét duyệt quyết toán chi NSNN được TCHQ đánh giá là
làm tốt công tác báo cáo quyết toán; các khoản chi chấp hành theo đúng chế độ,
chính sách, định mức chi hiện hành.
Chế độ báo cáo được thực hiện đầy đủ, đúng mẫu biểu, thời gian yêu
cầu. Báo cáo của đơn vị đầy đủ, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu của lãnh đạo,
cơ quan cấp trên là cơ sở để đánh giá, điều hành hoạt động chi NSNN chính
xác, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. Đồng thời, chất lượng báo cáo
cũng cho thấy chất lượng quản lý, kiểm soát tại đơn vị.
Thứ tư, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thực hành tiết kiệm chống lãng
phí, Cục đã xây dựng quy chế quản lý tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế
quản lý và sử dụng tài sản, khoán chi một số định mức như: Điện, điện thoại,
nhiên liệu, văn phòng phẩm, nên những năm gần đây công tác thực hành tiết
kiệm của đơn vị đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cụ thể hàng năm công
chức và nhân viên hợp đồng lao động đều được chi bổ sung thu nhập tăng thêm
0,2 lần và tiết kiệm được cho NSNN hàng trăm triệu đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, kiểm soát thu chi NSNN tại
Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp còn một số hạn chế sau:
Thứ nhất, việc tuân thủ các quy định kiểm soát thu chi NSNN chưa
được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trong tất cả khâu của chu trình kiểm soát
thu chi NSNN.
Tại một số đơn vị trực thuộc Cục, một số cán bộ được giao nhiệm vụ
làm kế toán chi hoạt động hành chính nhưng không có chuyên môn, nghiệp
vụ về kế toán nên chất lượng công tác kế toán còn nhiều hạn chế.
Cán bộ trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ về mua sắm tài sản, đầu tư xây
v
không có trình độ chuyên môn về công tác quản lý tài chính nên ít nhiều hạn chế
đến công tác tự kiểm tra, KSNB;
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế như sau:
Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật, hướng dẫn chưa đầy đủ, đồng
bộ. Các chính sách, chế độ, định mức chi của Nhà nước, Bộ Tài chính, TCHQ
chưa đầy đủ, nhiều nội dung chưa rõ ràng, khó hiểu, chưa cụ thể, thường
xuyên thay đổi nhất là các văn bản quy định, hướng dẫn về mua sắm tài sản,
đầu tư xây dựng nên việc cập nhật, nghiên cứu, áp dụng các chế độ, tiêu
chuẩn, định mức còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, một số chế độ, tiêu chuẩn, định
mức do BTC và TCHQ quy định còn chưa phù hợp với tình hình thực tế và
thiếu khả thi như quy định về chi tiếp khách, ;
Thứ hai, thời gian xét duyệt quyết toán chi nhân sách nhà nước hàng
năm của TCHQ cho đơn vị ngắn (1,5 - 02 ngày) và đơn vị phải mang hồ sơ
đến địa điểm tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét duyệt quyết toán
nên không có thời gian kiểm tra toàn bộ các chứng từ, hồ sơ và sổ sách có liên
quan, phát hiện những sai sót nhằm giúp cho đơn vị chấn chỉnh kịp thời
những hạn chế;
Thứ ba, các cấp kiểm soát thu chi NSNN chưa thực hiện việc kiểm
tra, giám sát thường xuyên đối với công tác kiểm soát thu chi NSNN của
đơn vị; đơn vị chưa tự giác trong việc thực hiện tốt nguyên tắc công khai
tài chính, dân chủ trong công tác thu chi NSNN;
Thứ tư, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Cục chưa thực sự quan tâm
đến công tác chi NSNN. Nhiệm vụ chính của đơn vị là chống buôn lậu và
thực hiện thu thuế đối với hàng hoá XNK, do vậy thủ trưởng các đơn vị chủ
yếu tập trung vào công tác chống buôn lậu và thu thuế, công tác chi là việc
của kế toán tài vụ. Ngoài ra, các đơn vị chưa thật sự sử dụng và bảo quản tốt
tài sản của nhà nước; chưa tiết kiệm được trong việc sử dụng điện, nước,
vi
nhiên liệu, văn phòng phẩm, ;
quản lý rủi ro; lực lượng HQ đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu, được trang
bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; góp phần nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội,
bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trong quá trình kiểm soát đặc ra những vấn đề thực tiễn sau: Chưa có
ban hành quy trình thủ tục kiểm soát thu chi NSNN; thủ trưởng các đơn vị
trực thuộc Cục chưa thật sự quan tâm đến việc kiểm soát chi của đơn vị và
xem việc kiểm soát chi là nhiệm vụ của kế toán tài vụ; công chức làm công
tác kế toán ở các đơn vị trực thuộc không thích làm kế toán, không chịu khó
học hỏi nên chất lượng công tác kế toán chưa tốt; không có dự toán cấp chi
cục và tương đương nên kế toán chi hoạt động hành chính ở các đơn vị trực
thuộc Cục không có trình độ chuyên môn về kế toán thường là kiêm nhiệm
nên chất lượng kế toán chưa cao; cần phải tăng cường vai trò của phòng
Thanh tra trong công tác kiểm tra KSNB; số thu thuế của các Chi cục không
đều nên lãnh đạo các Chi cục cần phải quan tâm, tăng cường quan hệ, tạo mọi
điều kiện cho khách hàng đến làm thủ tục HQ trong khuôn khổ pháp luật cho
phép để tạo thêm nguồn thu cho NSNN; việc kiểm soát một số nội dung chi
nhạy cảm còn mang tính hình thức đối phó với chế độ quy định, kế toán chưa
kiểm soát chặt chẽ như chi tiếp khách, gây lãng phí cho NSNN.
Từ những tồn tại và hạn chế trên, Tác giả đưa ra những giải pháp nhằm
mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình kiểm soát thu chi NSNN như sau:
Hoàn thiện môi trường kiểm soát; nâng cao nhận thức về KSNB cho đội ngũ cán
bộ quản lý, là điều kiện để hoạt động kiểm soát thực sự có hiệu lực và hiệu quả;
điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức, tăng cường biên chế, chức năng nhiệm vụ KSNB,
viii
tăng cường nhân sư có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về kế toán cho phòng
Thanh tra; chính sách nhân sự về tuyển dụng CBCC, cần xây dựng tiêu chuẩn,
yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với từng vị trí công việc, khen
thưởng, động viên kịp thời những CBCC hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc có sáng
kiến cải tiến lề lối làm việc; nâng cao chất lượng công tác kế hoạch tài chính, một
và đồng bộ. Thực hiện kiểm soát chi đối với tất cả các khoản chi qua Kho bạc,
không để bất kỳ một khoản chi nào không được kiểm soát.
Cần có sự quan tâm đúng mức đến công tác tài chính kế toán ngành Hải
quan, đặc biệt là công tác tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ. Cần kiện toàn lại
tổ chức bộ máy tài chính kế toán ở đơn vị theo hướng cho thành lập phòng Kế
toán tài vụ đối với các đơn vị có quân số từ 150 người trở lên.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về chế độ quản lý tài chính để
công chức làm công tác tài chính kế toán cập nhật các văn bản, chính sách
mới; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng
cao trình độ, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát thu chi NSNN.
Thành lập bộ phận kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập với Vụ Tài vụ Quản
trị, nhằm giúp Tổng cục trưởng kiểm soát toàn bộ quy trình kiểm soát quản lý thu
chi NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán NSNN của toàn
ngành HQ. Đối với các đơn vị dự toán cấp III cũng cần phải có bộ phận kiểm soát
nội bộ nhằm giúp thủ trưởng đơn vị sớm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
các hành vi tiêu cực trong quá trình quản lý và sử dụng NSNN; đặc biệt là thực
hiện khoán chi, thực hiện việc tăng cường kiểm tra KSNB có ý nghĩa rất quan
trọng đảm bảo NSNN phải được sử dụng đúng mục đích, hạn chế lãng phí, tham
nhũng, góp phần tăng cường công tác kiểm soát thu chi NSNN ở các đơn vị.
x
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐÀO HỮU CẦN
TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH ĐỒNG THÁP
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
HÀ NỘI- 2011
NSNN của cơ quan HCNN và phân tích, đánh giá thực trạng KSNB thu chi
NSNN tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp, Đề tài rút ra những tồn tại, bất cập
và đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường KSNB
thu chi NSNN tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là KSNB thu chi NSNN.
Phạm vi nghiên cứu: Tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp từ năm 2006
đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thực chứng
và chuẩn tắc trong kinh tế đánh giá chi tiêu công, Luận văn sử dụng phương
pháp phân tích, thống kê, tổng hợp; áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu số
cấp và thứ cấp, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong thu
thập và xử lý thông tin, để làm rõ bản chất của KSNB thu chi NSNN tại Cục
Hải quan Tỉnh Đồng Tháp.
5. Đóng góp của Luận văn
Về lý luận, Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về KSNB thu
chi NSNN trong cơ quan HCNN;
Về thực tiễn, Luận văn phân tích và đưa ra những giải pháp tăng cường
KSNB thu chi NSNN tại Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp, giúp các nhà quản lý
nhìn nhận đúng về kiểm soát thu chi và vận dụng vào quản lý thu chi NSNN.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của Luận văn gồm 3
chương:
2
Chương 1: Lý luận chung về kiểm soát thu chi ngân sách Nhà nước
trong cơ quan hành chính nhà nước;
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ thu chi ngân sách nhà nước tại
Cục Hải quan Tỉnh Đồng Tháp;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường kiểm soát nội bộ thu
quy định của Hiến pháp, pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan HCNN
cấp trên; bốn là, được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước cùng cấp và báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng
cấp; năm là, có tính độc lập và sáng tạo trong tác nghiệp điều hành nhưng theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc quyền lực phục tùng;
Thứ ba, về mặt thẩm quyền, cơ quan HCNN được quyền đơn phương
ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lực
bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan HCNN có quyền áp
dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản lý
của cơ quan HCNN;
Thứ tư, cơ quan HCNN có chức năng quản lý hành chính nhà nước,
thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội trong khi các cơ quan nhà nước khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý
trong phạm vi, lĩnh vực nhất định;
Thứ năm, cơ quan HCNN nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành
của cơ quan quyền lực nhà nước, do vậy thẩm quyền của các cơ quan HCNN
chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành. Theo đó cơ quan
HCNN chỉ tiến hành các hoạt động để chấp hành Hiến pháp, pháp luật của cơ
quan quyền lực nhà nước trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành của
nhà nước; như vậy cơ quan HCNN đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào
cơ quan quyền lực nhà nước; chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ
quan quyền lực nhà nước cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ
quan đó. Đồng thời cơ quan HCNN có quyền thành lập ra các cơ quan chuyên
môn để giúp cho cơ quan hành chính nhà nước hoàn thành nhiệm vụ;
5
Thứ sáu, cơ quan HCNN là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ và
có đối tượng quản lý rộng lớn. Tất cả các cơ quan HCNN có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau: Đó là mối quan hệ trực thuộc trên - dưới, trực thuộc ngang -
dọc, quan hệ chéo tạo thành một hệ thống thống nhất mà trung tâm chỉ đạo
là chính phủ (nội các); hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước mang tính