1
Phụ Lục 1
009/06 VIE: Nâng cao năng lực khuyến nông viên các tỉnh trong việc đánh giá những
mặt hạn chế của đất đến sức sản xuất thông qua việc sử dụng hệ thống hổ trợ SCAMP
Một số nhóm đất trồng chính và những mặt hạn chế của
đất ảnh hưởng đến sức sản xuất của những cây trồng cạn
chính của những hộ nông dân sản xuất nhỏ
I. Tỉnh Gia Lai
PW Moody
A
và Phan Thị Công
B A
Bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên và Nước Queensland, Indooroopilly,
Qld 4068, Úc
B
2. Những loại đất chính sử dụng cho h
ộ nông dân sản xuất nhỏ
Những qui mô của các nhóm đất khác nhau (phân loại FAO-UNESCO) ở tỉnh Gia Lai
được trình bày tại (Bảng 1).
3
Bảng 1. Qui mô của các nhóm đất tại tỉnh Gia Lai
(Nguồn: Lê Trung Lập, 2000)
Nhóm đất Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Chromic và Haplic Acrisols Acric, Humic và Vetic
Ferralsols
756.433 49
Dystric và Gleyic Arenosols
Luvisols
364.638 23
Leptosols 164.752 11
Alumic, Hyperdystric và Chromic Acrisols
Acric, humic và Vetic Ferralsols
90.481 6
Mollic Fluvisols
Luvic và Fluvic Phaeozems
Cambisols
64.218 4
Dystric Gleysols 16.774 1
Các loại đất khác 92.275 6
Tổng số 1.549.571
Cấp SCAMP Thuộc tính
Cấp 1
Sa cấu, màu của đất khi ẩm và đốm rỉ, cấu trúc và độ chặt (lúc ẩm),
cấp thoát nước, cấp thấm nước, độ dốc, nguy cơ xói mòn, hàm lượng
sỏi, độ nén chặt.
Cấp 2
pH đồng ruộng (pH nước và 1M KCl), EC đồng ruộng, cấp phân tán
sét, tốc độ thấm
Cấp 3
Carbon hữu cơ, % sét, khả năng cố định lân, Ca, Mg, Na và K trao
đổi, độ chua trích ly (H +Al), ECEC, độ đệm pH
Từ dữ liệu này, SCAMP (Moody và Phan Thị Công, 2008) được sử dụng để xác định những
mặt hạn chế của hai nhóm đất chính này đến sản xuất bền vững (Bảng 3).
Bảng 3. Các ký hiệu SCAMP cho 14 mẫu đất đỏ và 16 mẫu đất xám tỉnh Gia Lai, Việt Nam.
Số lượng mẫu của từng thuộc tính được đặt trong ngoặc đơn. Thuộc tính
Đất đỏ
hs (2)
Nén chặt
comp (4) 5
Những đánh giá này cho thấy rằng sa cấu thịt chiếm ưu thế trong nhóm đất đỏ, với nhiều nguy
cơ xói mòn tùy thuộc vào độ dốc. Những đường di chuyển của nước là do quá trình tiêu thoát
nước hoặc chảy tràn cùng với tiêu thoát nước. Nhóm đất này có pH nước đặc trưng thấp dưới
5,2 nhưng nguy cơ axit hóa thấp là do hàm lượng carbon hữu cơ và sét trong đất cao. ECEC
đặc trưng rất thấp (<4 cmol
c
/kg) và chúng có khả năng cố định lân cao. Thành phần điện tích
trao đổi của vài nhóm đất tiến đến gần hoặc đạt ở mức bằng không (pH
KCl
– pH
H2O
từ -0,10
đến + 0,10).
Đất xám có thành phần cơ giới trung bình chiếm ưu thế, mặt dù thỉnh thoảng cũng xảy ra hiện
tượng sa cấu thịt của tầng mặt nằm trên tầng cát bên dưới. Nguy cơ xói mòn biến thiên từ thấp
đến rất cao tùy thuộc vào độ dốc. Một nữa số điểm nghiên cứu có chiều di chuyển của nước là
thấm sâu thoát nước, nửa số mẫu còn lại nước chảy tràn trên mặt hoặc vừa chảy tràn vừa thấm
sâu. Những hạn chế về độ chua đất không phải hiện tượng phổ biến nhưng hầu hết các đất có
nguy cơ chua hóa ở mức trung bình bởi vì hàm lượng sét và chất hữu cơ trong đất thấp. Hiện
tượng khá phổ biến là kali trong đất thấp. Nhiều nơi bề mặt đất có hiện tượng đóng váng hoặc
nén chặt.
Những hạn chế chính trên đất đỏ (Ferralsols) là độ chua (a), hàm lượng dinh dưỡng thấp (e),
cố định lân cao (i) và giới hạn về điện tích trao đổi trên bề mặt keo sét (geric), thoát nước theo
chiều sâu là khá phổ biến (Bảng 2). Từ những mặt hạn chế này, SCAMP cho ra những chiến
khả năng giữ cation của đất bằ
ng cách gia tăng các điện tích âm trao đổi, và là sự chọn
lựa quan trọng cho việc quản lý đất. Bổ sung chất hữu cơ như cây phân xanh cần được
quan tâm vì điều này có thể làm gia tăng điện tích âm trao đổi.
Đối với nhóm đất xám, hạn chế phổ biến nhất là tỷ lệ chất hữu cơ từ thấp đến trung bình, hàm
lượng kali thấp đặc biệt ở những tầng dướ
i lớp đất mặt và các vấn đề lý tính đất liên quan đến
sự dí dẻ và đóng váng bề mặt. Vài nơi cục bộ chịu ảnh hưởng từ quá trình tiêu thoát nước dẫn
đến sự úng nước và đọng vũng. Để giải quyết những hạn chế này, cơ sở dữ liệu SCAMP sẽ
đưa ra những chiến lược quản lý như sau:
om (thấp đến trung bình): Gia tăng chất hữu cơ trong đất sẽ giúp cải thiện lượng dinh dưỡng,
tăng CEC, tăng khả năng giữ nước và khả năng đệm pH. Quản lý chất hữu cơ ở những
đất nhiệt đới bao gồm việc che phủ bề mặt và sự cày vùi các loại cây phân xanh như
cây họ đậu hoặc đồng cỏ, duy trì các tàn dư thực vật nơi hoa màu được trồng, không
đốt cháy tàn dư thực vật, hạn chế hoặc không sử dụng các hệ thống cày bừa, trồng
theo băng và bón chất hữu cơ (như phân chuồng, rác thải thành phố đã ủ, bùn từ cống
rãnh và chất thải hữu cơ công nghiệp địa phương) thu được từ bên ngoài nông trại.
k: Phân kali hoặc và chất bổ sung dạng hữu cơ chứa đựng lượng kali đáng kể cần được bón
cho đất. Đất với khả năng dự trữ kali thấp ở tầng dưới lớp đất mặt, cây trồng có thể có
những biểu hiện thiếu kali trong suốt giai đoạn mùa khô. Trong trường hợp này, việc
bón phân kali bên dưới hạt lúc gieo hoặc trộn phân kali qua đất tại hố gieo là chiến
lược quản lý hiệu quả hơn bón phân kali theo hàng dọc rễ cây trên mặt đất. Cây trồng
nên được giám sát chặt chẻ đối với các triệu chứng thiếu kali.
hs, comp: Đóng váng bề mặt làm giảm tốc độ thấm và dẫn đến cây trồng kém phát triển,
trong khi đó các lớp dí dẻ chặt làm hạn chế sự phát triển bộ rễ và giới hạn chiều sâu
phát triển của bộ rễ dẫn đến cây trồng chiu sức ép rất lớn khi gặp hạn. Việc duy trì tàn
dư thực vật và che phủ bề mặt phải được sử dụng để duy trì ẩm độ
lớp đất mặt do đó
giảm thiểu hiện tượng đóng váng đất. Để hạn chế tối đa nguy cơ dí dẻ đất, chỉ nên làm
đất khi ẩm độ đất thấp hơn giới hạn dẻo của chúng và cày bừa cũng như di chuyển 5. Sự thích hợp của đất cho những cây trồng chính ở những hộ nông dân sản xuất nhỏ
Những đánh giá SCAMP của nhóm đất đỏ và đất xám (Phần 3 bên trên) đã xác định nhiều
mặt hạn chế về đất đến khả năng sản xuất của đất. Một số mặt hạn chế ảnh hưởng đến sức sản
xuất cây trồng, bất chấp loại cây trồng: xói mòn (er), CEC thấp (e), khả năng cố định lân cao
(i), carbon hữu cơ thấp (om), thiếu kali (k), đặc tính điện tích biến đổi (geric), đặc tính đóng
váng bề mặt (hs) và các tầng dí dẻ chặt (comp). Tuy nhiên, Các loại cây trồng khác nhau về
khả năng chịu đựng được những hạn chế khác như sự thoát nước và tính chua; trong khi đó
một thu
ộc tính đất đặc trưng hoặc một hạn chế có thể là một giới hạn chính đến sức sản xuất
của một cây trồng nhưng nó có thể chỉ là một giới hạn không đáng kể tới một cây trồng khác.
Khung của FAO (1976) cho việc đánh giá đất sử dụng 5 cấp để phân loại tính thích hợp của
một nhóm đất đặc trưng cho phát triển một cây trồng riêng biệt (Bảng 5). Để thuận tiện cho
việc áp dụng SCAMP, những thuộc tính/hạn chế của đất riêng lẻ xác định cho nhóm đất đỏ và
đất xám được đánh giá theo ảnh hưởng của chúng lên sản xuất bền vững của mùa vụ chính
trên đất cao đối với nông dân sản xuất nhỏ Gia Lai (Bảng 6). Việc đánh giá được dựa trên sự
phối hợp thông tin của Williams (1975), Landon (1984), Page (1984), Schaffer và Andersen
(1994), Robinson (1996) và Dierolf và ctv (2001). 8
Bảng 5. Phân lớp khả năng thích nghi của đất [nguồn: FAO 1976]
2
1
1
3
2
1
2
2
2
1
1
3
2
1
1
3
Phân loại tính
thoát nước
1 (g)
2 (g
-
)
3
4
5
6
2
1
3
4
1
2
3
4
1
1
2
3
1
1
2
3
1
1
2
2
1
1
2
3
pH đất a
-
1
2
2
3
1
2
1
2
N, K cao N, K
cao 9
Những đề nghị dưới đây áp dụng cho các biện pháp kỹ thuật cần được thực hiện để thỏa mãn
những nhu cầu của từng loại cây trồng ngoài những biện pháp đã trình bày ở Phần 3.
Thành phần cơ giới đất
S: Do đặc tính cố hữu của đất cát là lượng nước hữu dụng thấp, do đó tưới nước rất cần thiết
cho những cây trồng có khả năng chịu hạn thấp như bắp, mía và cà phê. Sử dụng lớp
phủ bề mặt từ tàn dư thực vật sẽ làm giảm sự bốc thoát hơi nước và tăng khả năng giữ
ẩm của đất.
Đối với những cây trồng đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao như bắp, mía và cà phê, đất
cát có ECEC thấp đòi hỏi những ion dinh dưỡng như kali cần được bón làm nhiều đợt
theo nhu cầu của cây trồng. Việc trồng cây phân xanh hoặc bón thân lá những cây
trồng này (như quỳ dại) sẽ làm gia tăng khả năng giữ dinh dưỡng (CEC) của đất.
C: Đối với những cây lấy củ như khoai mì không thích hợp trên đất có nhiều sét bởi vì khó
thu hoạch. Đất nhiều sét không thích hợp với những cây trồng không có khả năng chịu
đựng đất có ẩm độ cao trong thời gian dài như cây cà phê; tính thấm nước thấp ở
những đất có nhiều sét làm cho khả năng giữ ẩm kéo dài hơn so với những đất có
thành phần cơ giới nhẹ hơn.
Tiêu thoát nước
Đất thoát nước kém không thích hợp cho những cây trồng không có khả năng chống chịu
trong điều kiện ngập úng như cà phê và bắp, và việc lên luống cũng như tăng cường hệ thống
tiêu thoát nước trên diện rộng cần được thực hiện khi trồng những cây này.
Độ chua
a: Những đất có mặt hạn chế này không thích hợp cho những cây trồng có sức chịu đựng đối
với độc tố nhôm hoặc mangan từ thấp đến trung bình như bắp và cà phê trừ khi một kế
Tài liệu tham khảo
Aitken, R.L., Moody, P.W. & Dickson, T. 1998. Field amelioration of acidic soils in south-
east Queensland. I. Effect of amendments on soil properties. Australian Journal of
Agricultural Research, 49, 627-637.
Berding, F.R., Tran Mau Tan, Truong Dinh Tuyen, Tran Van Hue, Deckers, J. & Langhor, R.
1999. Soil Resources of Gia Lai Province. National Institute of Agricultural Planning
and Projection (Vietnam) and Katholieke Universiteit Leuven (Belgium).
Dierolf, T., Fairhurst, T. and Mutert, E. 2001. Soil Fertility Kit. Potash and Phosphate
Institute: Singapore.
FAO. 1976. Framework for land evaluation. Soils Bulletin No. 32. FAO:Rome.
Landon, J.R. (ed.) 1984. Booker Tropical Soil Manual. Longman Inc.: New York
.
Le Trung Lap 2000. Land use and sustainable development for soil resources of Gia Lai
Province. Proceedings of Workshop on Environment and Sustainable Development of
the Central Highland. Pleiku, Sept 2000. Department of Science, Technology and
Environment, Pleiku.
Moody, P.W. and Cong, P.T. 2008. Soil Constraints and Management Package SCAMP):
guidelines for sustainable management of tropical upland soils. ACIAR Monograph
No. 130, 86pp. Australian Centre for International Agricultural Research, Canberra.
Moody, P.W., Phan Thi Cong, Legrand, J.
& Nguyen Quang Chon 2008.
009/06 VIE Báo cáo định kỳ 6 tháng_04/2008
1
Phụ lục 2
Khóa tập huấn SCAMP ở Gia Lai vào tháng 3 năm 2008
Khảo sát trước và sau khóa học
Các câu hỏi trước và sau khóa học được khảo sát trên 85 học viên tham dự tại Khóa tập huấn
SCAMP ở GiaLai vào tháng 3 năm 2008. Những câu hỏi trước khóa học được thiết kế nhằm
xác định những gì mà các học viên xem là các mặt hạn chế chính của đất đối với năng suất
cây trồng trong khu vực họ phụ trách. Các câu hỏi sau khóa học được xây dựng nhằm đánh
giá bất kỳ thay đổi nào trong nhận thức về các m
ặt hạn chế chính của đất và xác định những
hoạt động tiếp theo mà các học viên dự định thực hiện khi họ trở về từ khóa học.
Khảo sát trước khóa học
Hai nhóm đất chính ở Tây Nguyên là Ferralsols và Acrisols. Loại đất này có những đặc tính
trái ngược nhau về mặt vị trí xuất hiện trong địa hình, khả năng thoát nước, sa cấu và khoáng
sét và hy vọng rằng những mặt hạn chế của đất sẽ được các học viên đề xuất, phụ thuộc vào
loại đất ở từng địa phương của họ. Bảng 1 cho thấy đặc tính độ chua của đất, hàm lượng chất
hữu cơ, độ dốc, độ xói mòn và sự thiếu hụt dinh dưỡng được cho là những hạn chế chính yếu.
Các mặt hạn chế quan trọng khác như độ dí dẻ của đất, sự phân tán khoáng sét và tầng đất mặt
nông không được cho là những hạn chế quan trọng.
Bảng 1. Tính chất/mặt hạn chế của đất được cho là có liên quan đến việc suy giảm sức sản xuất
của đất tại Gia Lai
dinh dưỡng” như là yếu tố giới hạn chính đối với sản lượng, bao gồm cả thiếu hụt lân,
nhưng kiến thức của họ không đủ để tách riêng lân ra khỏi các chất dinh dưỡng khác. Khóa
học này đặc biệt đề cập đến lân như là yếu tố bị thiếu hụt thường xuyên ở một số loại đất
vùng cao, và điều này cho phép các học viên nâng cao kiến thức của mình đối với các hạn
chế về mặt dinh dưỡng.
Khiếm khuyết trong kiến thức
Các học viên tham dự nhận ra những chỗ thiếu sót trong kiến thức của họ là làm thế nào để
xây dựng được công thức phân bón và duy trì sự cân bằng dinh dưỡng trong đất (Bảng 2).
Khóa tập huấn SCAMP cấp 3 (bao gồm các chỉ tiêu đo carbon hữu cơ, lân và kali khả trích
trong đất) có thể giúp giải quyết sự thiếu sót này, kết hợp với phân tích đất tại chỗ tại địa
phương bằng cách sử dụng phòng phân tích di động.
Bảng 2. Những đề mục mà các học viên cho là cần thiết sau khóa tập huấn
Đề mục
(%)
Cân bằng dinh dưỡng/kỹ thuật bón phân 47.6
Làm thế nào để đưa ra công thức phân bón cho những cây trồng
chính
90.5
Tăng cường thực hành ngoài đồng trên nhiều loại đất 66.7
Tổ chức thêm nhiều khóa tập huấn cho các nông dân khác 19.0
Sản xuất hạt giống cây phân xanh 35.7
Tập huấn SCAMP cấp 3 81.0
Bổ sung phòng phân tích lưu động 69.0
Những kế hoạch dự kiến thực hiện trong tương lai
Kế hoạch của các học viên sắp tới bao gồm việc phổ biến SCAMP cho các cán bộ khuyến
nông khác, hội nông dân và nông dân ở mức độ xã (Bảng 3), nhấn mạnh chính vào việc quản
Sử dụng các nguồn chất bổ sung khác nhau, ví dụ cây phân xanh, tàn
dư sau mùa vụ, chất thải động vật
11.9
Cải thiện hoạt động của vi sinh vật 19.0 Kết luận
Các câu hỏi trước và sau khóa học đã cho thấy những chuyển biến trong cách nhận thức
của các cán bộ khuyến nông sau khi tham gia khóa học. Đặc biệt là, việc quản lý đất đặc
thù và sự hiểu biết tốt hơn về thiếu hụt dinh dưỡng phải đi đến việc quản lý đất tốt hơn ở
mức độ nông trại. Rõ ràng là các khuyến nông viên muốn truyền đạt kiến thức của họ
đến các nông dân khác.
Về phía dự án, rõ ràng rằng việc bao gồm một phòng phân tích lưu động để phân tích
các mẫu đất tại địa phương và lý giải các kết quả phân tích (trong bối cảnh địa phương)
sẽ làm tăng đáng kể tác động của khóa huấn luyện. Khía cạnh này sẽ được đề cập trong
2 khóa huấn luyện sắp tới của dự án. Thêm vào đó, một bộ phận của khóa học sẽ
được
dành cho việc mô tả làm thế nào đánh giá SCAMP trên loại đất mà nó có thể được sử
dụng để thiết kế một thí nghiệm đơn giản nhằm chứng minh các biện pháp kỹ thuật
được cải tiến.
1
Phụ Lục 3
Tóm tắt Nghiên cứu thí nghiệm đồng ruộng
tại vùng Tây Nguyên
Vần đề của nghiên cứu
lược ngắn hạn, về lâu về dài cần thực hiện chương trình bón vôi và phải theo dõi
pH đất thường xuyên.
e: Nên tăng CEC trong đất bằng cách gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất (duy trì
các tàn dư thực vật từ mùa vụ, bổ sung chất hữu cơ, trồng cây che phủ hoặc trồng
cây phân xanh) kết hợp với chương trình bón vôi để gia tăng pH đất và từ đó khả
năng trao đổi cation hữu dụng. Vấn đề thực tiễn của việc bón bổ sung sét hoạt động
cao để gia tăng điện tích vĩnh cửu có thể áp dụng.được.
i: Đối với đất có khả năng cố định lân cao đòi hỏi cần được bón một lượng lân khá lớn
hoặc phải có những biện pháp quản lý lân thích hợp (ví dụ như nguồn và phương
pháp bón phân lân) cần
được thực hiện. Việc bón phân lân trong các hệ thống canh
tác đầu tư tối thiểu nên được hướng dẫn sử dụng liều lượng lân tối thiểu bón theo
2
băng hay theo hốc gần với hạt và sử dụng cây trồng có nhu cầu phân lân ít. Việc
bón phân lân dễ tan trong nước theo hố hay băng sẽ làm giảm việc thất thoát lượng
lân dễ tiêu do hiện tượng cố định lân trong đất. Tuy nhiên, việc bón phân như vậy
sẽ làm cho rễ tập trung xung quanh phân và có thể làm giảm mức độ phân tán bộ rễ
trong đất. Ở những vùng xảy ra những đợt hạn ngắn, điều này có th
ể làm giảm
năng suất cây trồng vì bộ rễ kém phát triển không thể vươn xa để lấy nước. Ngay
từ lúc ban đầu, việc bón vải kết hợp với bón theo băng sẽ giúp phân bố bộ rễ đồng
đều hơn. Việc xác định mức độ lân trong đất phải được thực hiện định kỳ nhằm
giúp cho việc theo dõi tình trạng lân trong đất.
geric: Những nhóm đất này có rất ít điện tích b
ề mặt và do đó khả năng giữ các cation
dinh dưỡng (canxi và kali) hoặc các anion (nitrat) của chúng bị giới hạn. Phân bón
cần được chia thành nhiều đợt bón với một lượng nhỏ phù hợp với những nhu cầu
đòi hỏi của cây trồng. Bón vôi cho tầng đất nâng pH nước lên 5.5 sẽ làm tăng khả
PBI Sét
(%)
Geric
Ferralsol
5.0 4.2 0.05 3.0 0.08 0.44 9 1040 75
Những hạn chế theo SCAMP của mẫu đất đỏ Ferralsol này là độ chua của đất (a), khả
năng cố định lân cao (i), CEC thấp (e), và hàm lượng kali thấp (k). Các nghiệm thức được
xây dựng để làm giảm tối thiểu những hạn chế ảnh hưởng đến khả năng sản xuất được so
với công thức đối chứng của nông dân trên cây bắp qua 3 năm (Bảng 2). N
ăm cuối cùng
(vụ 2007) một thử nghiệm được bố trí nhằm hổ trợ cho hội nghị huấn luyện SCAMP được
tổ chức tại Gia Lai như một phần của dự án này.
Kích thước ô là 5m với 4 hàng bắp đôi có khoảng cách giữa các hàng đôi là 1,5m. Thí
nghiệm lặp lại bốn lần thiết kế theo khối đầy đủ ngẫu nhiên. Các biện pháp chống xói mòn
đất được thực hiện bằ
ng cách trồng những hàng cây phân xanh và cỏ vetiver theo đường
đồng mức.
Bảng 2. Các nghiệm thức thí nghiệm tại Ia Kha thực hiện trên một loại đất đỏ Ferralsol.
Bắp được chọn làm cây trồng để khảo sát. Tỷ số giữa lợi nhuận/ chi phí được tính
là tổng thu nhập/ tổng chi phí đầu vào. Tổng thu nhập là chi phí bán hạt. Chi phí
3
đầu vào bao gồm chi phí mua hạt giống, chi phí phân bón và chi phí nhân công
cùng với việc thu thập cây Quì dại địa phương để làm nguồn phân xanh. Bentonite
chỉ bón trong hai năm đầu và chi phí cho bentonite được kéo dài suốt 5 năm.
Năm 2005
Nghiệm thức Năng suất
(T/ha)
chi phí
1. Công thức nông dân (115N, 24P, 50K, 39S) 1.2 1.5
2. Đề nghị mức lân cao (115N, 57P, 50K) 3.0 2.8
3. (115N, 29P, 50K) 3.6 4.1
4. (115N, 29P, 50K) 3.4 3.9
5. (115N, 29P, 50K) 3.4 3.9
6. Lân bón (115N, 29P, 50K) theo hốc 3.1 3.6
7. Lân bón theo băng (115N, 29P, 50K) + 1 tấn silica canxi 2.9 1.9
Phân bón được chia: 30%N, 40%K, 100%P (lúc gieo)
30%N, 20%K (30 ngày sau gieo)
40%N, 40%K (60 ngày sau gieo)
Kết quả
Kết quả thí nghiệm năm cuối cùng cho thấy rằng năng suất tăng theo thứ tự sau:
đối chứng nông dân< đề nghị mức lân cao = Lân bón theo băng = Lân bón phân tán<
bentonite = Tithonia = Tithonia + bentonite.
Ở 2 vụ đầu tiên, kết quả phân tích đất và cây cho thấy rằng cùng với khả năng giải phóng
đạm và lân chậm, Tithonia còn làm tăng pH đất (do đó làm cải thiện độc tính nhôm) và gia
tăng ECEC. Bón bentonite cũng làm tăng ECEC, ngăn ch
ặn sự thất thoát kali bón vào
xuống tầng đất cày. Những kết quả này xác nhận một lần nữa những mặt hạn chế đã nhận
biết ở SCAMP trên nhóm đất đỏ và hổ trợ chiến lược quản lý được đề xuất trong SCAMP
nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng từ những mặt hạn chế này đến sức sản xuất.
Tỷ lệ lợ
i nhuận/ chi phí ở vụ cuối cùng cho thấy việc bón độc lập bentonite hay Tithonia
hoặc bón phối hợp đều cho hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, chi phí để bón bentonite rất cao
ngay giai đoạn đầu nên đã làm giảm sức hấp dẫn đối với người nông dân sử dụng
bentonite trong việc quản lý đất so với thu thập cây quỳ dại địa phương sử dụng như
nguồn phân xanh để bón vào đất. Thông qua toàn bộ chu kỳ 3 năm, vi
ệc bón cây quì dại