Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Cải thiện chất lượng nước từ ao cá chảy vào đường nước " doc - Pdf 15

Báo cáo kỹ thuật (CARD 023/06 VIE)

Cải thiện chất lượng nước từ ao cá chảy vào đường nước Cao văn Phụng
1
và Bell R.W.
2

1. Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ, Vietnam. Email:

2. School of Environmental Science, Murdoch University, Murdoch 6150, Australia. Tóm lược
Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, chất lượng nước là cực kỳ quan trọng
cho sức khỏe con người và hạnh phúc cũng như cho hệ sinh thái. Nuôi cá da trơn ở ĐBSCL
hầu như giới hạn ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long, được xem như là
nguồn gây ô nhiễm nước ở các tỉnh này. Một cuộc điều tra trên 240 nông dân nuôi cá ở tỉnh
An Giang và thành ph
ố Cần Thơ, và của nông dân nuôi cá Trê ở Cần Thơ khẳng định rằng
việc xả chất thải lỏng và rắn ra nguồn nước cộng đồng có hơn 75% trường hợp vào sông rạch.
Những người dân dùng nước ở các khu vực này nơi có các ao nuôi cá cho rằng nước thải từ
các ao nuôi cá là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng nước. Mẫu nước được thu ở 2 nơi
xả thải của tỉnh An Giang trong 5 tháng khẳng đị
nh rằng việc xả thải làm cho nước kênh vượt
các tiêu chuẩn xả thải về COD, TSS và NH
4
. Tuy nhiên, ngay cả mức chất lượng nền tảng
trước cũng thường trên mức ấn định để sử dụng cho sinh hoạt. Hai nghiên cứu tình huống cho

Trong báo cáo này, kết quả của điều tra cơ bản được đùng để chứng minh dạng của ô nhiễm
nước do chất xả thải từ ao nuôi cá Tra theo cách nhìn của nông dân và còn do lấy mẫu trên
đồng ruộng ở tại 2 địa điểm.
Mẫu nước thu thập được dùng để xác định hiệu quả của xử lý nước bằng cách tái chế qua
ruộng lúa. Sau cùng có thảo luwjn về nguyên tắc dự kiế
n cho việc áp dụng để xử lý nước
trong tương lai bằng cách xả thải qua ruộng lúa.
Điều tra cơ bản ở Cần Thơ và An Giang
Điều tra được tiến hành vào tháng 10 và tháng 11 năm 2007 ở Cần Thơ và vào tháng Giêng
và tháng Hai năm 2008 ở tỉnh An Giang. Trong tổng số 240 phiếu phỏng vấn hoàn tất do các
bên có liên quan (nông dân trồng lúa và nông dân nuôi cá được chọn ngẫu nhiên với số lượng
bằng nhau) được thu thập (2 huyện/tỉnh) (Bảng 1, 2). Kết qu
ả điều tra cơ bản được báo cáo
đầy đủ vào tháng Tư năm 2009 (Cao et al. 2009). Kết quả chính của nghiên cứu này được
thảo luận bên dưới để nêu bật mối quan tâm chính về chất lượng nước như các nông dân
nông dân nhận thức. Thêm vào đó, kết quả điều tra báo cáo về tình hình lan tràn bệnh trên cá
và trên người mà chúng có thể là dấu hiệu cho sự ô nhiễm.
Chất lượng nước
Nhìn chung khoảng phân nửa số nông dân hài lòng về
chất lượng nước và 15-24 % cho rằng
chất lượng nước kém. Chỉ có 5-8 % nông dân nuôi cá có ao lắng riêng và đa số họ thải trực
tiếp chất thải vào kênh rạch mà không qua xử lý. Phan et al. (2009) trong cuộc điều tra 89 trại
nuôi cá dọc theo sông ở DDBSCL thấy chỉ có 3 % nông dân cho biết là có ao lắng riêng. Tuy
nhiên 15-24 % nông dân nuôi cá trong nghiên cứu này xử dụng ruộng lúa làm nơi xả thải.
Chất thải ao cá được nhìn nhận là tác nhân chính gây ô nhiễm ở An Giang trong khi ở Cần
Thơ 37 % trả lời cho r
ằng ao cá Tra là nguyên nhân chính làm cho chất lượng nguồn nước
kém. Một phần cho lý do có sự khác biệt này là do 50 % của người được phỏng vấn ở An
Giang sử dụng nước sông cho mục đích sinh hoạt trong khi có một tỉ lệ hộ tương tụ ở Cần
Thơ sử dụng nước giếng khoan (Cao et al. 2009). Nông dân cũng quan tâm đến hiểm họa cho

46
39
15
Nước xả thải
- Sông hoặc kênh
- Ruộng lúa
- Ao lắng

80
15
5

100

68
24
8

100

Bảng 2: Lý do làm xấu chất lượng nước dùng để tưới tiêu và cho sinh hoạt gia đình theo nông
dân trồng lúa và nuôi cá. Giá trị tính theo % của người trả lời ở mỗi tỉnh.
Danh mục An Giang (%) Cần Thơ (%)
Chất thải từ ao cá 91 37
Thuốc trừ sâu từ ruộng lúa 9 15
Khác 0 48

Để xử lý nước ao nuôi cá, gần 50 % nông dân ở hai nơi sử dụng Vikong, BKC, Bioca, Yucca,
Aquapure, Prawbac và một số các chất khác (Bảng 4). Họ cũng sử dụng kháng sinh để chủ trị
các bệnh do vi khuẩn gây ra trong đường tiêu hóa của cá Tra. Một số thuốc kháng sinh thông

Hòa vào nước ao nuôi cá 40 4
Xử lý nước 97 100
BKC 21 28
Vikong 43 5
Copper sulfate 7 8
Chlorine 21 10
Khác 8 49

Hầu hết nông dân thường rải vôi hoặc muối ăn dọc bờ ao và đáy ao nuôi sau khi lập ao mới
hoặc sên ao sau khi thu hoạch. Lượng vôi và muối biến thiên từ 300-400 kg/ ha. Ao được
phơi khô trong 3-5 ngày trước khi cho nước vào để nuôi vụ kế tiếp. Có hơn 95 % nông dân
thay và/ hoặc châm thêm nước vào ao thường xuyên (khoảng 1/3 thể tích ao hàng ngày) và có
khoảng 50 % nông dân ở cả hai nơi thực hành vệ sinh đáy ao bằng cách bơm bùn ngoài trong
lúc nuôi cá. Thêm vào đó, tất cả nông dân đều bơm bùn ra khỏi ao sau khi thu hoạ
ch cá
(Bảng 5). Thực hành bơm chất thải rắn trực tiếp vào nguồn nước được 63-70 % nông dân
nuôi cá thực hiện (Bảng 6).
Hầu hết nông dân đều có máy đo pH cầm tay để giám sat chất lượng nước (Bảng 5). Cách
khác để phát hiện chất lượng nước bằng cách quan sát màu hoặc mùi nước. Nông dân kết
luận rằng thiếu oxygen khi hầu hết cá nổi lên mặt ao ravào sáng sớm.
Bảng 5: Quản lý nước trong ao nuôi cá Tra. Giá trị theo % của người tr
ả lời với N= 60 ở
mỗi tỉnh.
Danh mục Cần Thơ An Giang
Thay nước ao cá (%) 100 100
Xử lý vôi (kg/ha) 425 350
Muối (kg/ha) 325 300
Sên ao (%) 100 100
Phơi ao (ngày) 3.5 4
Châm thêm nước hoặc thay nước định

–do vi sinh vật trong kênh rạch không được khảo sát trong nghiên cứu này, mặc dù việc phát
tán chất rắn lơ lững trong chất thải tối thiểu là 600 m từ điểm xả thải. Trong khi nông dân cho
biết thường có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát các loài dịch bệnh chính, giảm thiểu sự lây
lan bệnh tật bằng chất l
ượng nước tốt hơn có lẻ là kết quả của biện pháp xử lý chất thải ao
nuôi cá hiệu quả hơn.
Bảng 6: Quản lý chất thải rắn ở trại nuôi cá Tra. Giá trị theo % của người trả lời phỏng vấn
với N= 60 ở mỗi tỉnh.
Danh mục Cần Thơ An Giang
Mục đích của vét bùn
Vệ sinh 51 65
Kierm soát dịch bệnh 46 35
Phương pháp vét bùn

Bơm bùn 86 89
Vét bằng tay 14 11
Nơi thải bùn
Đường nước 70 63
Lấp chổ trũng 30
Tôn gốc cây ăn trái 37
Sô lần vét bùn

Một lần 37 35
Hai lần 60 59
Ba lần 3 6
Thời điểm nạo vét bùn

Trong khi nuôi cá (%) 50 50
Sau khi thu hoạch 60 75


Xuất huyết 92 82
Phù đầu 77
Tuột nhớt 100

Trong khi không phải là số liệu chính, thông tin về chiều hướng bệnh trên người ở 2 huyện có
mật độ ao nuôi cá cao có lẻ liên quan đến sự mở rộng nhanh chóngao nuôi cá trong những
năm gần đây.

Bảng 8: Bệnh trên người theo báo cáo của Trung Tâm Y Tế Dự Phòng năm 2006 & 2007 tại
huyện Ô Môn và Thốt Nốt
Ô Môn Thốt Nốt
Bệnh
2006 2007 2006 2007
Sốt xuất huyết 179 237 246 546
Sốt thương hàn 2 0
Tiêu chảy 159 220 3210 2822
Bệnh lỵ 0 1 138 31

Bảng 9: Bệnh trên người theo báo cáo của Trung Tâm Y Tế Dự Phòng năm 2006 & 2007 tại
huyện Phú Tân và Châu Phú
Bệnh Phú Tân Châu Phú
2005 2006 2007 2005 2006 2007
Sốt xuất huyết 112 300 495 411 595 438
Sốt thương hàn 169 153 71
Tiêu chảy 752 957 1502 189 187 200
Bệnh lỵ 202 250 463 21 10

Chất lượng nước ở kenh nhận chất xả thải từ ao nuôi cá
Các địa điểm được chọn để thu mẫu nước là: huyện Châu Phú và Phú Tân ở tỉnh An Giang;
huyện Thốt Nốt ở Cần Thơ. Khu vực nghiên cứu có mật độ ao nuôi cá cao (Phan et al. 2009).

Hình 1: pH củ
a nước kênh trước và sau khi mở cống xả chất thải ao nuôi cá vào nguồn nước.
Giá trị trung bình cho 40 số được thu 15 ngày 1 lần trong 5 tháng (Tháng Mười Hai đến
tháng Tư) ở hai địa điểm của tỉnh An Giang (huyện Phú Tân và Châu Phú). 6.9
7
7.1
7.2
7.3
7.4
7.5
-100 0 100 200 300 400 500
m
pH
Before
After
0
50
100
150
200
250
300
350
-100 0 100 200 300 400 500

Nồng độ ammonium ở cống xả vẫn cao hơn trước khi xả thải cho tới 500 m xuôi dòng chảy
(Hình. 4). Các nồng độ này nhìn chung cao hơn Tiêu chuẩn Việt Nam cho phép dùng làm
nước sinh hoạt (ít hươn 0.5 mg/L) dựa theo TCVN5492-2005 nhưng chúng vẫn còn chấp
nhậ
n được cho xả thải theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản.
Trong trường hợp của nồng độ nitrite và nitrate đo được ở các thời điểm khác nhau trước và
sau khi mở cống, chúng còn thấp hơn mức cho phép sử dunjng làm nước sinh hoạt ngay cả
trong mùa khô khi nồng độ nitrite và nitrate trong nước kênh đạm đặc hơn mùa lũ (số liệu
không được trình bày).

Trị số trung bình TSS trong nước kênh sau khi xả thải (261± 64 mg/l) cao hơn gấp 5 lần
trước khi xả thải (54 ± 20 mg/l). Hình 5 cho thấy rằng hầu hết trị số TSS trong nước kênh do
tác động của xả thải cao hơn từ 10-13 lần Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995 (cột A-
TSS nhỏ hơn 20 mg/l). Ngay cả giá trị cho phép (nhỏ hơn 80 mg/L) chất thải ao cá xả vào
nguồn nước mặt theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản cũng thường bị vượt quá.
Như vậy kết quả lấy mẫu cho thấy rõ rằng tác động đo đạc được của nước thải trên chất
lượng nước kênh tối thiểu 100 m ngược dòng và 500 m xuôi dòng nước chảy. Chất lượng
nước đo được suy giảm do COD, NH
4
và TSS tăng cao.
Số liệu chất lượng nước này bổ trợ cho kết quả điều tra cơ bản của nông dân. Tại Cần Thơ và
An Giang, 7-36 % nông dân đánh giá chất lượng nước là xấu, mà trong đó 37 đến 91 % là do
chất lượng nước xấu do các ao cá thải ra. Một tỉ lệ nông dân ở An Giang cao hơn nông dân ở
Cần Thơ bị lâm nguy do chất lượng nước kém, có lẻ bởi vì tỉ lệ hộ gia đình cao h
ơn vẫn còn
lệ thuộc vào nước sông rạch dùng cho sinh hoạt.

0.0000
0.0200
0.0400

ải từ ao
nuôi cá thải vào nguồn nước theo Thông Tư số 02 của Bộ Thủy Sản. Nếu cống xả thải nước
ao cá bên cạnh cách khoảng dưới 500 m sẽ làm tác động tích lủy trên chất lượng nước. trong
khi Bosma et al. (2009) chứng tỏ rằng tác động dồn của chất thải ao cá Tra lên chất lượng
nước trên dòng chính sông Mekong sẽ không có ý nghĩa, trong các kênh sườn và trong hệ
thống đê bao khép kín, sự suy giảm chất lượng nước đo l
ường được là bằng chứng trong các
mẫu nước ở huyện Châu Phú và Phú Tân. Thật vậy, sau khi xả thải, mẫu nước trong kênh
dưới mức tiêu chuẩn về TSS, COD và NH4. Trong nghiên cứu này chúng tôi không khảo sát
các đỉnh cao nồng độ về chất lượng nước tồn tại bao lâu theo phút, giờ hay ngày. Sự hiện
diện của các đỉnh trong nước ô nhiễm do chất thải ao nuôi cá xả ra dường như có liên quan
dến mức độ ô nhiễm của nước th
ải, thể tích của nước thải quan hệ với dòng nước chảy trong
kênh. Kênh nhỏ vào mùa nắng với dòng chảy thaaspddeer tẩy rữa dường như chịu suy giảm
về chất lượng nước.

Chất lượng nước trong ao nuôi cá:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng Mười Hai năm 2007 đến tháng Sáu 2008 ở huyện Phú
Tân và Châu Phú của tỉnh An Giang trên chất lượng nước của 12 ao nuôi cá sử dụng 2 loại
thức ăn viên và thức
ăn tự chế.
Kết quả cho thấy rằng trị số pH vẫn nằm trong mức chấp nhận được (7.0-8.0) mặc dù có sự
khác biệt giữa các ao sử dụng thức ăn viên và thức ăn tự chế (kết quả không được trình bày).
Tất cả các ao cá đều có độ đục cao hơn mức cho phép để ao cá xả thải (80 mg/L; kết quả
không được trình bày). Ao cá ở Phú Tân có TSS thấp hơn ở Châu Phú bởi vì hầ
u hết ao ở Phú
Tân gần sông lớn để họ có thể thay nước tốt cho ao cá (số liệu không trình bày). Trị số TSS
và BOD trong ao nuôi thức ăn viên thấp hơn ao nuôi bằng thức ăn tự chế nhưng không khác
biệt về thống kê. COD ở cả hai nơi đều cao hơn giới hạn cho phép về nước thải ao nuôi thủ
sản thải ra nguồn nước mặt điều này cũng phù hợp với mẫu thu trong kênh có xả thải (Hình

TAN
(mg/L)
NO
3
-

(mg/L)

PO
4
3-
(mg/L)

TN
(mg/L)
TP
(mg/L)
BOD
(mg/L)
COD
(mg/L)
TSS
(mg/L)
TĂ viên 0.145 0.032 0.134 0.662 0.416 13.3 69.4 86.9
TĂ tự
chế 0.138
0.077 0.104 0.569 0.318
18.0
73.3
90.7

2
) 500-3000 1000-3000
Chiều sâu ao (m)

Nuôi cá giống 1.2 1.1
Nuôi cá thành phẩm 1.8 1.6
Mật độ cá /m
2
90-120 70-100
Hệ số biến chuyển thức ăn (thức
ăn/thịt)
3.5 3.6

Bảng 12: Chất lượng nước ao cá Trê thu mẫu ở ao tại quận/huyện Bình Thủy và Phong Điền
của TP. Cần Thơ.
Danh mục Bình Thủy Phong Điền
BOD
5
(20
0
C) (mg/L) 120 104
TSS (mg/L) 312 258
oxygen hòa tan(mg/L) 0.05 0.1
COD (mg/L) 128 117

Tất cả các ao nuôi cá Trê qua điều tra cho thấy đều thải nước trực tiếp vào đường nước làm
cho ô nhiễm cao ở các khu vực này. Sự xung đột giữa nông dân nuôi cá Trê và cư dân trong
vùng là phổ biến vì vậy rất khó để thuyết phục học hợp tác để xử lý chất thải. Mặc dù chính
quyền địa phương đã xiết chặt việc cấm xả thải trực tiếp vào nguồn nước nhưng v
ấn đề này

nitrate-N, tổng N, TSS, COD và tổng P (Bảng 14).
Trên đường nước ở Châu Phú từ kênh chính dẫn nước ô nhiễm đi đến kênh xả thải, nồng độ
N và P giảm 3-4 lần (Bảng 14). Trị số COD cũng giảm xuống từ hơn 230 mg /L xuống
khoảng 100 mg/L. Tuy nhiên TSS gia tăng chút ít với trị số ở VTT10 và VTT11 vẫn giữ ở
khoảng 100 mg/L và cao hơn tiêu chuẩn cho phép xả
thải nước ao cá (80 mg/L) và cho hộ gia
đình là nước sinh hoạt (20 mg/L).
Nơi ao lắng và khu đất ngập nước, thành phần của nước khó mà thay đổi so với trên các kênh
nhỏ dẫn nước đi lên ruộng, thật vậy đạm ammonium-N và nitrate-N gia tăng. Hình 6. Các điểm thu mẫu nước ở Châu Phú từ dòng kênh chính (VTT1, VTT2- đầu trái),
đường thoát nước nước nhỏ trên ruộng (VTT3,4,5), ao lắng (VTT6), khu đất ngập nước
(VTT7,8), đường thoát nước ruộng (VTT9) và kênh dẫn nước chính (VTT10,11).

Nước từ ao cá Trê ở Phong Điền được cho chảy qua ruộng lúa trước khi thải ra kênh. Mẫu
nước được thu ở 15 vị trí (Hình. 7) từ nơi ao nuôi cá cho đến kênh chính và được phân tích
các chỉ tiêu về pH, EC, BOD, COD, TSS, tổng N, nitrate-N và tổng P (Bảng 15).
Bảng 14. Thành phần của nước ở các điểm trình bày trong hình 6.

NH
4

(mg/L)
NO
3

(mg/L)
TSS
(mg/L)

lúa (Điểm 4-6) và ở chiều xuôi kênh (Điểm 7-15). Giá trị trung bình của 3 điểm lấy mẫu cho
mỗi vị trí. Xem Hình 7 sơ đồ vị trí thu mẫu.
Vị trí pH
EC
(mS/cm)
TSS
(mg/L)
COD
(mg
O
2
/L)
TN
(mg/L)
NO
3

(mg/L)
TP
(mg/L)
BOD
(mg
O
2
/L)
1,2,3 6.64 0.22 618 35 17.0 16.3 1.2 119
4,5,6 6.86 0.14 43 19 4.8 3.7 0.9 70
7,8,9 6.83 0.14 35 19 4.1 3.5 0.9 69
10,11,12 6.81 0.14 32 16 3.9 3.3 1.1 68
13,14,15 6.76 0.14 42 13 3.5 3.1 1.0 70

ước hơn và đến khi
sắp thu hoạch thì nước được thay nhiều hơn. Ao thay nước thường xuyên có lẻ tích tụ chất
thải rắn chậm. Ngược lại, khi người nuôi cá thay nước ít thường xuyên làm cho ao ao sẽ có
nhiều dinh dưỡng và các bon và tích tụ chất thải rắn lớn hơn vào thời điểm thu hoạch. Số
lượng cá và kích cở cá thả nuôi (cả hai yếu tố này đều làm ảnh hưởng đến lượng thức ă
n cung
cấp hàng ngày) sẽ ảnh hưởng dến thành phần của nước thải. Việc sử dụng thức ăn viên cũng
như thức ăn tự chế cũng có thể ảnh hưởng đến nước thải và chất thải rắn tích tụ do sự khác
biệt về lượng thức ăn, thành phần của thức ăn và hệ số biến chuyển thức ăn. Theo Bosma et
al. (2009) hệ s
ố biến chuyển thức ăn của 89 trại nuôi cá ở DDBSCL là 1.86, trong khi Phan et
al. (2009) báo cáo hệ số biến chuyển thuwssc ăn trung bình của thức ăn viên là 1.69 và của
thức ăn tự chế là 2.25. Khoảng dao động dường như là từ 1,45-3.
1. Tải nước thải
Lúa được trồng bằng cách tưới hoàn toàn vào mùa khô ở DDBSCL và được tưới bổ sung vào
đầu vụ mùa mưa. Vào lúc mưa chính vụ, tháng Chín-tháng Mười một, DDBSCL ít có trồng
lúa do bị mực n
ước sâu. Lượng nước lũ và nước mưa phân bố trong năm sẽ quyết định đến
lượng nước thải có thể tải trên ruộng lúa. Biến động về nhiệt độ làm giới hạn tác động đến
vận tốc bốc thoát hơi nước (ET) ở ĐBSCL. Mây trong mùa mưa cũng có thể làm giới hạn
đến vận tốc bốc thoát hơi nước (Bảng 16).
Với chất thải r
ắn ao cá, tải lượng nước trên một đơn vị diện tích nhỏ hơn chất thải lỏng và nó
không được xem xét đến nữa trong phần này.
Ngập đất ruộng để làm đất cần nhiều nước (300- 700 mm theo Greenland 1997). Hơn thế nữa
duy trì ruộng lúa ở điều kiện ngập nước về cơ bản tiêu tốn một lượng nước cho cây trồng
phát triển. Tùy theo độ bốc thoát hơi nước, vậ
n tốc nước thấm lậu và lượng nước chảy tràn
trên đồng ruộng, cần 1020-2860 mm nước cho lúa cấy có thời gian sinh trưởng 100 ngày
(Greenland 1997). Lúa nước sử dụng 4000 kL/ tấn hạt (Greenland 1997). Để sản xuất 6 tấn

sử dụng để tưới. Đầu mùa mưa, mưa làm cho việc tưới nước thải bị đình trệ như vậy để sử
dụng nước thải 1 ha ao nuôi cần có 20-40 ha ruộng lúa.
Bảng 16. Ví dụ nhu cầu tưới hàng tháng cho ruộng lúa ở DDBSCL và lượng mưa (trung bình
cho Long Xuyên và Cần Thơ
), và tiềm năng bốc thoát hơi (PE) từ TP. Hồ Chí Minh. Ghi
nhận rằng lúa cũng lấy nước từ nước thỷ cấp lúc triều cường.
Tháng Vũ lượng
(R)
PE Tưới
(R – PE)*

(mm) L/ha (mm) (mm) L/ha
Giêng 15 150,000 160 145 1,450,000
Hai 0 0 175 175 1,750,000
Ba 15 150,000 215 200 2,000,000
Tư 70 700,000 200 130 1,300,000
Năm 190 1,900,000 150 - -
Sáu 170 1,700,000 100 - -
Bảy 210 2,100,000 110 - -
Tám 205 2,050,000 130 - -
Chín 255 2,550,000 100 - -
Mười 270 2,700,000 100 - -
Mười một 155 1,550,000 110 - -
Mười hai 55 550,000 130 85 850,000
Annual 1610 16,100,000 1690 835 8,350,000
* tính toán không cho thấm lậu mất
Nếu nước thải được áp dụng theo chu kỳ này làm cho dưỡng chất dư thừa tải lên ruộng lúa
(xem bên dưới), tăng thêm đất lúa cần để áp dụng phương cách này như một chiến lược bền
vững để xử lý nước thải ao cá. Có lẻ cần khoảng 60-80 ha hoặc nhiều đất hơn cần cho mỗi ha
ao cá. Do có khoảng 6000 ha đất được làm ao cá, > 360,000 ha có thể cần để xử lý n

100.000 mg/L trong khi COD tối đa là 250.000 mg/L (Yadav et al. 2002). Nước thải ao cá
của Việt Nam có BOD và COD là 35 và 100 mg/L, còn dưới mức giới hạn để áp dụng trực
tiếp vào đất.
Nước thải ở nhiều điểm tại An Giang và Cần Thơ có chứa 0.5-5 mg NH
4
/L, 0.4-12 mg
NO
3
/L, 5.4-17 mg N/L và 1.2-8.5 mg P/L (Bảng 18). Nước ao cá Trê có chứa N cao đáng kể
nhưng P lại thấp. Mẫu nước chảy ra được chọn dể thu thập tại 9 ao ở ĐBSCL, Bosma et al.
(2009) báo cáo rằng nồng độ N và P nằm trong khoảng giới hạn nêu trên. Nồng độ biến thiên
lớn về N (3- đến 4-lần) và P (7-lần) có liên quan đến việc xác định giá trị thay thế lượng phân
bón của nước thải. Tuy nhiên, sự biến động của các thành phần giải thích cho s
ự biến động
chung của biến động về chất lượng nước là loại thức ăn, tần suất thay nước ao, mật độ cá
trong mỗi ao đều được biết và như vậy nguồn nước thải có thể xếp loại là thấp, trung bình
hoặc cao về chất dinh dưỡng. Giá trị thay thế phân bón của nước thải theo từng ao có thể
đoán biết được theo nồng độ dinh dưỡng trong nước th
ải. Ví dụ, nước tại các ao gần Viện lúa
DDBSCL biến động đáng kể qua 4 tháng sử dụng cho tưới, và lần cuối có nồng độ N và P
thấp được lý giải do việc ngưng cho ăn của nông dân khi giá cá trên thị trường sụt giảm
(Bảng 19).
Bảng 17. Mức BOD điển hình trong nước thải. Nguồn tài liệu: McGowan et al. (2007)
Vật liệu /Cơ chất BOD (mg /L)
Nước thải trại bò sữa 500 - 2 000
Nước thải ủ cỏ/rơm chua 30 000 - 80 000
Bùn thải trại heo (Pig slurry) 20 000 - 30 000
Bùn thải trại Bò (Cattle slurry) 10 000 - 20 000
Nước thải từ nơi chứa bùn 1 000 - 2 000
Nước cống rảnh 10 000 - 20 000

Châu Phú 7.13 234 3.4 0.42 5.40 8.46 4.47
Phú Tân 7.32 243 4.84 0.79 7.66 6.44 5.12
Phong Điền 6.65 217 2.18 12.3 16.7 1.21 6.02
ĐBSCL - - - - 14.8 3.2 -

Bảng 19: Thành phần nước thải dùng để tưới cho 4 lần tại CLRRI.
Số TT pH
EC
(mS/cm)
COD
(mg/l)
PO
4
3-
(mg/L)
NH
4
+
(mg/L)
NO
3
-
(mg/L)
1 7.2 0.38 67.4 3.54 0.12 4.39
2 7.2 0.39 16.8 3.45 0.11 4.33
3 7.1 0.35 75.8 1.50 0.81 1.13
4 7.1 0.37 75.8 1.45 0.79 1.12

Bảng 20. Thành phần chất thải rắn từ ao cá ở Phú Tân và Châu Phú tỉnh An Giang, Vietnam.
Thành phần của chất thải rắn trại chăn nuôi heo do (Duffera et al. 1999) cũng được trình bày

Tuy nhiên, việc lấy đi thêm rơm rạ nữa có thể gia tăng lượng N và P lấy đi khỏang 50-60 %,
và K lấy đi gấp 4-5 lần (Bảng 21). Như vậy, việc lấy đi rơm rạ là giải pháp lựa chọn củ
a nông
dân cần xem xét nếu họ cần tránh việc tích lủy dưỡng chất dư thừa trong đất. Tuy nhiên, hiện
tại, phần lớn rơm rạ được nông dân đốt bỏ thay vì sử dụng chúng. Như vậy, đây là một trở
ngại và các điều này càn phẩi được hiểu rõ và vượt qua trong chiến lược quản lý dinh dưỡng.
Thật vậy, đốt rơm rạ làm mất đi một lượng N đáng k
ể (và S) dứoi dạng hợp chất bay hơi,
trong khi chỉ có một lượng nhỏ K bị mất. Lân bị mất rất biến động, hầu hết dưới dạng hạt có
thể làm bổ sung thêm lân cho nơi nào đó.
Quan trọng hơn cả việc lấy đi rơm rạ trên đồng ruộng bằng cách giảm lượng phân bón như là
chiến lược có tính cách quyết định để tránh dưỡng chất bị dư
thừa cho lúa khi nước thải hoặc
chất thải rắn được dùng. Sử dụng chất thải ao cá cộng thêm với lượng phân khuyến cáo sử
dụng làm cho sinh trưởng quá mức và đỗ ngã làm giảm năng suất.
Phân vô cơ thường được áp dụng vào các thời điểm 7, 21 và 45 ngày sau khi gieo sạ. Thêm
dinh duỡng trong chất thải ao cá qua bơm nước tưới cho lúa 5 lần (vụ Hè-Thu sớm) hoặc 10
lần (mùa khô) theo lượng nước bằng nhau trong khi canh tác lúa, lần đầ
u khi làm đất. Như
vậy với nước thải ao nuôi cá, việc cung cấp dinh dưỡng bị dời sang vào giai đọan cuối sau 40
ngày.
Ngân quỹ dinh dưỡng có thể được dùng để xác định mức độ quan trọng tương đối cho các
chiến lược để đạt được cân bằng dưỡng chất trên ruộng lúa do việc áp dụng nước thải và chất
thải rắn ao nuôi cá. Cách tính ngân quỹ dinh dưỡng do Dobermann and Fairhurst (2000) thảo
ra được áp dụng dưới đây
để khảo sát nguyên tắc quan trọng của việc quản lý phân bón khi
dùng chất thải ao nuôi cá (Bảng 21).
Sử dụng cách tính đơn giản ngân quỹ dinh dưỡng, một số các kịch bản được khảo sát để xác
định trở ngại do tải chất dinh dưỡng qua việc sử dụng nước thải.
1. Thêm nước thải vào cộng với phân bón được sử dụng

-3 -1.2 -72 Cắt sát mặt đất, lấy đi rơm
29 3.6 2 80 % rơm được giữ lại và trộn vào đất

3. Giảm lượng nước thải dùng
Bằng cách giảm đi phân nữa lượng nước thải, N dư thừa bị giảm đi bớt. Trong mùa mưa, khi
có ít nước thải được áp dụng do mưa, dù sao đi nữa điều này sẽ bị thay đổi.
4. Lấy rơm rạ đi
Lấy đi rơm rạ làm giả bớt dư thừa N nhưng làm cho thiếu K (Bảng 24). Tuy nhiên một lượng
P
đáng kể vẫn còn, đặc biệt là khi canh tác 2 vụ lúa/năm. Trừ khi đaast có khả năng hấp phụ
P cao, tích tụ P theo thời gian dường như làm cho P hòa tan trong dung dịch cao sẽ chảy vào
trong nguồn nước nơi nó làm cho phú dưỡng. Đất phèn chiếm diện tích đáng kể ở ĐBSCL
dường như có khả năng hấp phụ P cao. Qua 2 năm bón P và sử dụng chất thải rắn ao nuôi cá
lượng lân trích được chỉ gia tăng chút ít tương đươ
ng với chỉ 2-3 % của tổng lượng P thêm
vào (Cao et al. 2010a). Tuy vậy, đối với đất phù sa ở ĐBSCL có khả năng hấp phụ P thấp
hơn và dễ làm cho P hữu dụng gia tăng khi chất thải được sử dụng liên tiếp.
Một số csc số liệu dùng để tính tóan ở bên trên được ước lượng, một số qua thí nghiệm chứng
minh được. Sai số trong một vài số liệu có thể làm cho sai số tính tóan sau cùng rất
đáng kể
Sau đây là một số các lảnh vực còn chưa được chắc chắn cho lắm cần có nghiên cứu thêm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status