1
GAP và BMP trong nuôi tôm tại Việt Nam:
Chính sách, hiện trạng và phương phướng thực hiện
Ts. Vũ Dũng Tiến
1
và ông Don Griffiths
2Tóm tắt:
Bài viết này nêu tóm tắt hiện trạng nguồn lực (điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường và cơ sở
vật chất) cho nuôi tôm và thông tin chi tiết về các hình thức nuôi tôm thương phẩm khác nhau đang
được thực hiện ở nước ta. Bài viết cũng cung cấp các số liệu về sự phát triển nhanh chóng của nghề
nuôi tôm ở nước ta trong thập kỷ qua, tiến triển và hiện trạng áp dụng các quy phạm Thực hành nuôi
ftrồng thủy sản tốt (GAP) và Thực hành quản lý tốt hơn (BMP) và có đối chiếu với các nước khác
trong khu vực Châu Á. Bài viết cũng bàn về các khó khăn, trở ngại trong việc triển khai áp dụng GAP
và BMP ở nước ta. Các đề xuất được nêu về phương hướng chỉ đạo tổ chức thực hiện GAP và BMP
và các hoạt động cụ thể mà các cơ quan chính phủ, các nhà tài trợ cũng như thành phần tư nhân cần
xúc tiến để đẩy mạnh áp dụng GAP và BMP ở Việt Nam.
Mục lục
1. Vai trò của ngành thuỷ sản: 1
2. Các hình thức nuôi tôm ở Việt Nam 4
3. Phát triển thực hành nuôi tốt (GAP) và thực hành quản lý tốt hơn (BMP) ở Việt Nam 5
4. Tình hình triển khai áp dụng GAP, BMP và COC 11
5. Định hướng thực hiện GAP, BMP, COC 12
6. Tài liệu tham khảo 13
Bảng 1 - 7 15-21
1. Vai trò của ngành Thủy sản
Ngành thuỷ sản đóng góp một phần quan trọng cho việc đảm bảo an ninh lương thực, nguồn
Từ năm 2005 đến năm 2008, sản lượng thủy sản của Việt Nam đã tăng từ 3.456.900 lên
4.574.900 tấn (xem Bảng 1 ở dưới). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đã đóng góp 50%
tổng sản lượng thủy sản. Năm 2007, lần đầu tiên sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 2.085.200 tấn,
vượt lên sản lượng khai thác thác thủy sản đang ở mức 2.063.800 tấn. Ngành thủy sản cũng là ngành
đứng thứ 4 về xuất khẩu, sau các ngành dầu khí, may mặc và giầy da. Trong suốt thập kỷ qua, xuất
khẩu thủy sản đã tăng trưởng ở mức 18%/năm. Năm 2008, chúng ta đã xuất khẩu 1.236.289 tấn sản
phẩm thuỷ sản với kim ngạch là 4,509 tỉ USD. Con số này tăng 51% về khối lượng và 61% về giá trị
so với năm 2005, khi tổng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đạt 626.991 tấn đạt giá trị xuất khẩu 2,739 tỉ
USD3.
Trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2007, tổng diện tích đất được sử dụng cho nuôi trồng thúy
sản đã tăng 5,8%, từ 952.600 lên 1.008.000 ha. Bảng 2 ở dưới cho thấy năm 2008, nuôi thủy sản nước
mặn và nước lợ chiếm diện tích 702.500 ha (70%) còn nuôi nước ngọt chiếm diện tích 305.500 ha
(30%). Trong tổng số 702.500 ha nuôi mặn lợ, có 625.600 (89%) ha dành cho nuôi tôm. Trong khi đó,
trong tổng số 305.500 ha nuôi nước ngọt trong năm 2008, diện tích danh cho nuôi tôm (nước ngọt) chỉ
là 4.700 ha, tương đương với 1,5%.
Từ năm 2004 đến 2008, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng 102%, từ 1.202.500 lên
2.430.944 tấn, trong đó 381.728 tấn (15,7%) là tôm nuôi (xem Bảng 3). Hiện nay, các tỉnh vùng Đồng
bằng sông Cửu Long đang sản xuất ra 74% t
ổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam.
3 HÌNH 1. BẢN ĐỒ VIỆT NAM VỚI 63 TỈNH THÀNH (CHỈ GHI TÊN CÁC TỈNH VEN BIỂN) . 4
Bộ Thủy sản, (năm 2007 đã hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) , đã phân
loại các hình thức nuôi tôm ở nước ta thành 3 cấp độ khác nhau, tuỳ theo các đầu vào và mức độ thâm
canh:
• Nuôi tôm sú quảng canh, sản lượng tối đa tới 0,5 tấn/ha/năm – không thả tôm giống và không
cung cấp thức ăn cho tôm, chỉ thay nước nhờ thuỷ triều;
• Nuôi bán tâm canh, sản lượng 1-2 tấn/ha/năm;
• Nuôi tôm sú thâm canh, sản lượng 5-6 tấn/ha/năm; và,
• Nuôi tôm chân trắng thâm canh, sản lượng đạt từ 15-20 tấn/ha/năm
Hiện nay, phần lớn sản lượng tôm nuôi, đặc biệt là tôm sú, được sản xuất từ các ao nuôi quảng
canh (90% diện tích ao nuôi vẫn còn ở hình thức nuôi này). Tuy nhiên, xu hướng của các hệ thống
nuôi tôm, mà cả các cơ quan của nhà nước, chính quyền địa phương và đội ngũ cán bộ khuyến ngư
đang tích cực thúc đẩy là ngày càng tăng cường mức độ thâm canh.
Khác với các nước Châu Á láng giềng, nơi chủ yếu nuôi tôm chân trắng, tại Việt Nam, tôm sú
vẫn chiếm 80-90% sản lượng tôm nuôi. Nguyên nhân chính là khu vực nuôi tôm chủ yếu là miền
Nam, nơi nhiệt độ nước cho phép nuôi hai vụ trong năm, và vì hình thức nuôi quảng canh vẫn chiếm
5
ưu thế. Nhờ vậy, Việt Nam là một trong số ít các nước vẫn đang sản xuất tôm sú cỡ to, chất lượng cao
và có rất ít đối thủ cạnh tranh trực tiếp ngoài Ấn Độ và Bănglađét. Tuy nhiên, tình hình này sẽ có thể
có thay đổi và điều này sẽ đề cập sau.
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei) có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được du nhập vào Việt Nam
vào khoảng các năm 1997-2000. Kể từ đó, việc nuôi tôm chân trắng đã phát triển nhanh, chủ yếu là
tại các tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Lý do loài tôm chân trắng trở nên phổ biến là 1)
chúng dễ sinh sản và thuần dưỡng, 2) dễ nuôi ở mật độ cao, 3) đòi hỏi hàm lượng protein trong thức
ăn thấp hơn so với tôm sú, 4) chịu được nhiệt độ thấp và 5) chịu được nước có chất lượng kém hơn so
với tôm sú.
Sau khi du nhập vào Việt Nam, sự phát triển nuôi tôm chân trắng đã được Bộ Thủy sản kiểm
soát chặt chẽ. Tuy nhiên kể từ ngày 25/1/2008, tôm chân trắng được phép nuôi tại các ao thâm canh
trong các vùng nuôi an toàn đã được chính quyền địa phương phê duyệt. Do đó, sản lượng tôm chân
trắng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng lên hết sức nhanh chóng, mặc dù hiện chưa có số liệu
cá biển. Điều này đặt ra 2 thử thách lớn: 3
Theo khái niệm của quốc tế, Thực hành nụôi trồng thủy sản tốt (GAP) là các thực hành quản lý hoặc hướng dẫn được
soạn thảo nhằm giảm thiểu nguy cơ các sản phẩm thủy sản được nuôi tại cơ sở bị nhiễm mầm bệnh, hoá chất, chất bẩn và
thuốc thú y bị cấm hoặc sử dụng sai quy cách. Quy định GAP có thể hiểu là những thực hành cần thi
ết để tạo ra sản phẩm
chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.
6
1. Làm thế nào để khuyến khích hàng trăm ngàn cơ sở nuôi thuỷ sản áp dụng GAP/BMP; và
2. Làm thế nào để người nuôi nhỏ lẻ ở vùng nông thôn vốn có nguồn lực hạn hẹp cùng tham gia
vào tiến trình này để họ không bị mất đi những lợi ích xã hội từ nuôi trồng thuỷ sản.
Nếu muốn duy trì hoặc thậm chí mở rộng thị trường xuất khẩu tôm thì Việt Nam cần tích cự
c,
chủ động và đáp ứng các yêu cầu của các nước nhập khẩu.
Cho đến nay, Cục Quản lý chất lượng và Thú ý thủy sản (NAFIQAVED, thuộc Bộ Thuỷ sản)
là đơn vị hoạt động tích cực nhất trong việc thúc đẩy áp dụng GAP ở nước ta thông qua các hoạt động
nghiên cửu thử nghiệm, tập huấn và khuyến ngư. Với hỗ trợ ban đầu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, n
ăm
2003, NAFIQAVED đã khởi xướng dự án áp dụng thử nghiệm GAP (dưới đây được gọi là dự án)
nhằm nâng cao chất lượng tôm của Việt Nam, cũng như là tăng cường tính bền vững về môi trường
và xã hội.
Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước khác trong khu vực về phương pháp triển khai Bộ Quy
tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO, trong đó các hệ thống GAP/COC của Thái Lan và xem
xét điều kiện cơ sở hạ tầng cho nuôi tôm của Việt Nam hiện nay, NAFIQAVED đã xác định rằng quy
phạm Thực hành Quản lý tốt hơn (BMP) phù hợp hơn với các cơ sở nuôi quy mô nhỏ, có nguồn lực
hạn chế, bao gồm cả đầu tư tài chính, và họ có thể áp dụng tuỳ theo điều kiện của mình, còn quy
phạm Thực hành nuôi tốt (GAP) và Quy tắc Thực hành nuôi trồng thuỷ sản có trách nhiệm (COC) thì
• Hỗ trợ trang thiết bị cho các đơn vị như cung cấp thiết bị PCR và Elisa cho Sở Thủy sản Bến
Tre (nay là Sở NNPTNT).
• Thử nghiệm áp dụng chứng nhận GAP năm 2006 cho 8 doanh nghiệp và vùng nuôi ở tỉnh Bến
Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
Năm 2006, với sự hỗ trợ của NORAD và Dự án Luật thủy sản, NAFIQAVED đã bắt đầu triển
khai dự án thử nghiệm áp dụng quy phạm Thực hành nuôi tốt với sự hợp tác của các nhóm nông dân ở
tỉnh Trà Vinh (tổ chức nhóm nông dân) và các trại giống tôm ở tỉnh Bình Thuận (sản xuất tôm giống).
Mục đích của dự án “Áp dụng quy phạm Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) vào nuôi tôm” là
để kiểm nghiệm phương thức làm việc với các nhóm nông dân để triển khai GAP và cấ
p chứng nhận.
Các số liệu của NAFIQAVED từ năm 2006 cho thấy sản lượng của các cơ sở áp dụng GAP cao hơn
các cơ sở không áp dụng GAP từ 20- 30%.
Năm 2007, NAFIQAVED đã mở rộng các hoạt động xúc tiến áp dụng GAP tại 15 tỉnh, đặc
biệt là các tỉnh lân cận với năm tỉnh đã được thử nghiệm ban đầu. Các tỉnh này bao gồm Ninh Bình,
Thanh Hoá mở rộng, Thừa Thiên Huế, Ninh Thuậ
n, Bình Thuận, Tiền Giang, Trà Vinh, Kiên Giang,
Long An, Đồng Tháp, An Giang, tỉnh Cà Mau mở rộng, Bạc Liêu mở rộng, Sóc Trăng mở rộng, Điện
Biên, Bắc Giang. Hoạt động xúc tiến được thực hiện chủ yếu thông qua tổ chức tập huấn và phổ biến
các tài liệu khuyến ngư về GAP. Theo báo cáo của NAFIQAD, năm 2007 đã có 160 hộ với tổng số
650 người được tập huấn tại các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
NAFIQAVED đã tổ chức các khoá tập huấn về GAP cho 175 nông dân từ 3 vùng nuôi tôm và
sau đó có thêm 120 nông dân nữa được tập huấn về GAP để nhân rộng GAP ở các vùng nuôi tôm
khác tại tỉnh Bến Tre và Kiên Giang.
Vào tháng 10 năm 2006, NAFIQAVED và các trung tâm vùng 4, 5 và 6 đã kiểm nghiệm trên
thực tế và xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn kỹ thuật về Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt cho nuôi tôm
sú thâm canh và bán thâm canh và bản dự thảo lần 2 về Quy chế kiểm tra, chứng nhận cơ sở nuôi tôm
an toàn và các sản phẩm tôm an toàn về hoá chất và dư lượng kháng sinh. Kết quả là 3 cơ sở nuôi đã
đạt tiêu chuẩn để chứng nhận là cơ sở nuôi tôm an toàn, song đã không được chứng nhận do thiếu cơ
sở pháp lý. NAFIQAVED và sau này NAFIQAD đã dự thảo Quy chế chứng nhận và văn bản này đã
được Bộ NNPTNT thông qua vào tháng 4 năm 2008 tại Quyết định số 56.
nam;
4) Bản quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ cho một số huyện.
Sau khi Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững (SUDA) thuộc Chương trình
FSPS II thuê tư vấn trong nước thực hiện hoạt động 1.2.4.2 (2006) “Hoàn thiện bản tiếng Việt Hướng
dẫn quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn lợ bền vững”, tài liệu này đã được chỉnh sửa, hoàn thiện và
trình Bộ trưởng Bộ Thủy sản xem xét, quyết định phê duyệt. Văn bản Hướng dẫn quy hoạch nuôi
trồng thủy sản mặn lợ bền vững đã được Bộ Thuỷ sản phê duyệt vào ngày 3/4/2007 (theo quyết định
số 447/QĐ-BTS) và thư thông báo đã được gửi tới tất cả các tỉnh ven biển.
Tương tự như vậy, trong hoạt động 1.4.1 (2006) “Hoàn thiện bản tiến Việt của Hướng dẫn
Đánh giá tác động môi trường”, tư vấn trong nước đã được thuê để chỉnh sửa tài liệu này. Bản Hướng
dẫn Đánh giá tác động môi trường cho các tỉnh ven biển đã được Bộ Thủy sản phê duyệt vào ngày
29/01/2007 (quyết định 133-QĐ-BTS). Theo quy định tại Thông tư số 08/206/TT-BTNMT của Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Hướng dẫn Đánh giá tác động môi trường cho các tỉnh ven biển đã được
gửi tới tất cả các tỉnh duyên hải của Việt Nam để áp dụng ngay.
Ngày 10/4/2006, Bộ Thủy sản đã ban hành Quyết định số 06/2006/QĐ-BTS phê duyệt ”Quy
chế quản lý vùng và cơ sở nuôi tôm an toàn”.
Ngày 29/4/2008, Bộ NNPTNT đã ban hành Quy chế quản lý số 56/2008QĐ-BNN về “Quy
chế Kiểm tra, Chứng nhận nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững”. Văn bản này đã quy định hệ
thống kiểm tra, chứng nhận nuôi trồng thuỷ sản.
NAFIQAVED đã xây dựng dự thảo tiêu chuẩn k
ỹ thuật
5
và hướng dẫn
6
cho nuôi tôm thâm
canh và bán thâm canh, song chưa soạn thảo tiêu chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn cho nuôi tôm quảng
canh và quảng canh cải tiến. 5
99-1996- Tôm biển – Tôm sú bố mẹ – Yêu cầu kỹ thuật .
3. 28 TCN 100-1996 – Tôm biển – Tôm he bố mẹ – Yêu cầu kỹ thuật.
4. 28 TCN 190- 2004 – Cơ sở nuôi tôm – Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
5. 28 TCN 191:2004 Vùng nuôi tôm- Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngoài việc chuyển đổi (không phải sửa đổi) các tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn kỹ thuật, Bộ
NN&PTNT cũng đang dự thảo Quy chế kiểm tra, chứng nhận nuôi trồng thuỷ s
ản theo hướng bền
vững (sửa đổi)và một số quy định điều kiện nuôi các đối tượng thủy sản để chứng nhận, bao gồm 3
cấp – BMP, GAP và CoC7. Các tài liệu này (hiện đang trong quá trình dự thảo và sẽ phải hoàn thiện
và công bố vào cuối năm 2009) nhằm đưa ra các tiêu chuẩn để cấp chứng nhận
6
Hướng dẫn là các tài liệu hướng dẫn việc triển khai các Bộ quy tắc ứng xử, Quy tắc thực hành, các nguyên tắc chứng
nhận, các tiêu chí và tiêu chuẩn v.v…
7
Dự thảo quyết định về “Quy định về điều kiện nuôi tôm sú và tôm chân trắng theo hướng bền vững”.
10
4. Tình hình triển khai áp dụng GAP, BMP và COC
Hiện nay tại Việt Nam có 3 tiêu chuẩn quốc tế đang được áp dụng trong nuôi tôm, đó là:
• Tiêu chuẩn “Thực hành nuôi thuỷ sản tốt nhất” (BAP) của Liên minh Nuôi thuỷ sản toàn cầu
do Ủy bản chứng nhận Nuôi trồng thủy sản (ADCC) có trụ sở tại Mỹ cấp chứng nhận. Tiêu
chuẩn này hiện đang được áp dụng tại khu nuôi tôm 74 ha của Công ty Nông Lâm sản Bến Tre
tại tỉnh Bến Tre.
• Chứng nhận của Naturland cho tôm nuôi sinh thái của Công ty Lâm nghiệp 184 tại tỉnh Cà
Mau.
Tiêu chuẩn GLOBALGAP- EurepGAP trước đã được thí điểm áp dụng cho hoa quả và rau
tươi, nay được mở rộng sang sản phẩm thuỷ sản. Một số hoạt động thử nghiệm đối với tiêu chuẩn
GLOBALGAP cho tôm đang được tiến hành. Các bên tham gia trong chương trình GLOBAL GAP ở
11
Cho đến nay, sau sáu năm dò dẫm thử nghiệm từng bước GAP, BMP và COC, và soạn thảo
các văn bản pháp lý về GAP, BMP và COC, bằng cả nguồn ngân sách nhà nước và vốn viện trợ, Việt
Nam vẫn chưa có được các tiêu chuẩn, quy chuẩn dễ hiểu và đầy đủ để có thể thúc đẩy được việc triển
khai áp dụng GAP, BMP hay COC trên diện rộng.
Các bộ “tiêu chuẩn” về GAP, BMP và COC do NAFIQAVED thuộc Bộ Thủy sản trước đây
dự thảo, nay đang được Cục Nuôi trồng thủy sản thuộc Bộ NNPTNT rà soát để xây dựng thành các
Quy chuẩn chính thức. Tuy nhiên cách hiểu/diễn giải GAP, BMP và COC trong các văn bản do
NAFIQAVED soạn thảo không phù hợp với các khái niệm về GAP, BMP và COC đã được cộng đồng
quốc tế chấp nhận. Nếu không được chỉnh sửa, các tài liệu này có thể dẫn tới việc hiểu nhầm, lẫn lộn,
sự hồ nghi chương trình chứng nhận mà sau này sẽ được thiết lập ở nước ta.
5. Định hướng thực hiện GAP, BMP, COC
1. Tất cả các đơn vị có liên quan của Bộ NNPTNT bao gồm Cục Nuôi trồng thuỷ sản (DAQ),
Cục Chế biến và Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối (DPT), Cục Thú y (DAH),
NAFIQAD và Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia (NCAFE) cần tổ chức các
cuộc họp để thống nhất và xây dựng chiến lược tổng thể triển khai áp dụng GAP, BMP và
COC, nhằm cuối cùng sẽ dẫn đến các tiêu chuẩn GLOBALGAP và ACC cho thị trường EU và
Mỹ. Chiến lược sau khi hoàn thiện phải được Bộ NTPTNT phê duyệt.
2. Các yêu cầu GAP hiện nay quá nghiêm ngặt và phức tạp đối với cơ sở nuôi quy mô nhỏ và cần
phải được đơn giản hoá, chỉ giữ lại những thông điệp và thực hành chính, đồng thời vẫn duy
trì ưu tiến về vệ sinh an toàn thực phẩm, nghĩa là đưa GAP của Việt Nam ngày càng gần với
khái niệm GAP của quốc tế.
3. Cục Nuôi trồng thủy sản cần thể hiện vai trò lãnh đạo và chỉ đạo cả quá trình với sự tham gia
của các thành phần liên quan nhằm xây dựng và thông qua các tiêu chuẩn chứng nhận đơn
giản, dễ đo lường, sát với các khái niệm GAP, BMP và COC mà quốc tế đã chấp nhận cho
nuôi tôm sú và tôm chân trắng trong thời gian sớm nhất có thể.
4. Sau đó, Bộ NNPTNT và các đơn vị chủ chốt của Bộ bao gồm Cục Nuôi trồng thuỷ sản, Cục
6. Tài liệu tham khảo
1. Corsin, F., S. Funge-Smith and J. Clausen (2007) A qualitative assessment of standards and
certification schemes applicable to aquaculture in the Asia-pacific region. Asia-Pacific Fisheries
Commission (APFIC), FAO Regional Office for Asia and the Pacific, Bangkok, Thailand.
2. FAO (2003). FAO Fisheries Technical Paper Number 420, Rome, FAO. 58 pp.
3. NACA and SUMA (2002). Mangrove and rice shrimp farming.
4. NACA/SUMA (2005). Reducing the Risk of Aquatic Animal Disease Outbreaks and Improving
Environmental Management of Coastal Aquaculture in Viet Nam. Final report of the
NACA/SUMA projects, FSPS I, December 2005. 67 pp.
5. NACA (2008). Đẩy mạnh Thực hành quản lý tốt hơn (BMP), Thực hành nuôi tốt (GAP) và Thực
hành nuôi có trách nhiệm (CoC) đối với các mô hình nuôi. Báo cáo của tư vấn khu vực cho hoạt
động số 3.5.5/2007 của Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA),
Chương trình Hỗ trợ ngành thủy sản Pha II (FSPS II). 79 trang. Báo cáo bằng tiếng Việt và tiếng
Anh.
6. NAFIQAVED (2006). Báo cáo tổng kết đề tài “Áp dụng GAP để phát triển nuôi tôm bền vững ở
Việt Nam”, 29 tháng 8 năm 2006, 84 tr.
7. NAFIQAVED (2006). Báo cáo tổng kết dự án “Áp dụng thí điểm Quy phạm thực hành nuôi thủy
sản tốt (GAP) đảm bảo an toàn thực phẩm cho nguyên liệu thủy sản nuôi tại các vùng nuôi 23 ha,
37 ha huyện Bình Đại và vùng nuôi K22 huyện Thạnh Phú - Bến Tre”, tháng 12 năm 2006.
8. NAFIQAVED (2006). Dự thảo Quy chuẩn thực hành nuôi tốt (GAP) và nuôi có trách nhi
ệm
(CoC) tôm sú thâm canh, bán thâm canh. (Good Aquaculture Practices and Code of Conduct for
Responsible Aquaculture for Intensive and Semi-intensive Farming of Penaeus monodon).
9. NAFIQAVED (2005). Sổ tay hướng dẫn thực hành nuôi tốt (GAP) đối với nuôi tôm sú thâm canh ở
Việt Nam. NAFIQAVED (2006). 35 trang. (Guidelines for Good Aquaculture Practices for Intensive
Farming of Penaeus monodon in Viet Nam).
10. NRI (2009). Xây dựng Chiến lược quốc gia tăng cường cơ hội thương mại cho sản phẩm tôm Việt
Nam (Development of National Strategy to Enhance Trade Opportunities for Vietnamese Shrimp).
Báo cáo của tư vấn quốc tế trong hoạt động 1.4.1.3/2008 của Hợp phần Tăng cường năng lực sau
13
2005 3.465.900 1.987.900 1.478.000
2006 3.720.500 2.026.600 1.693.900
2007 4.149.000 2.063.800 2.085.200
2008 4.574.900 2.143.900 2.430.944
Nguồn: FiCEN/CIS.
BẢNG 2. DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC ĐỂ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Đơn vị: hec-ta.
2005 2006 2007
Tổng số 952.600 976.500 1.008.000
Diện tích nước mặn, lợ 661.000 683.000 702.500
Nuôi cá 10.100 17.200 26.400
Nuôi tôm 528.300 612.100 625.600
Nuôi kết hợp và các sản phẩm thủy
sản khác
1.22.200 53.400 50.200
Nuôi sinh sản 400 300 300
Diện tích nước ngọt 291.600 293.500 305.500
Nuôi cá 281.700 283.800 295.700
Nuôi tôm 4.900 4.600 4.700
Nuôi kết hợp và các sản phẩm thủy
sản khác
1.600 1.700 1.600
(tấn)
Giá trị
(Ngàn
USD)
Khối
lượng
(tấn)
Giá trị
(Ngàn
USD)
Khối
lượng
(tấn)
Giá trị
(Ngàn
USD)
Khối
lượng
% biến
đổi
08/05
Giá trị
% biến
đổi
08/05
Phạm
trù xuất
khẩu
%, khối
lượng
Các sản phẩm
khác
95.214 367.200 103.112 378.234 88.848 357.645 100.107 363.835 95% 101% 8% 8%
Tổng 626.992 2.739.200 811.510 3.348.291 924.947 3.762.666 1.236.343 4.509.418 51% 61% 100% 100%
Nguồn: Số liệu đã công bố của VASEP
17
BẢNG
5. XUẤT KHẨU TÔM 2005-2008, THEO THỊ TRƯỜNG Khối
lượng
(tấn)
Giá trị
(ngàn
USD)
Khối
lượng
(tấn)
Giá trị
(ngàn
USD)
Khới
lượng
(tấn)
Giá trị
(ngàn
USD)
Đài Loan 7.195 52.743 5.818 39.392 7.702 54.146 10.132 65.684 71% 80% 5% 4%
Trung
Quốc và
Hồng
Kông 3.967 28.998 4.275 34.496 4.584 36.790 6.050 48.920 66% 59% 3% 3%
ASEAN 3.159 27.669 2.414 22.058 3.748 35.709 3.463 26.997 91% 102% 2% 2%
Thụy Si 1.453 14.065 1.452 15.178 2.118 22.844 2.029 19.855 72% 71% 1% 1%
Khác 1.928 14.436 2.650 21.123 2.333 19.342 4.944 35.990 39% 40% 3% 2%
Tổng 159.192
1.371.55
7 158.446
1.460.58
7 161.269
1.508.95
9 191.553
1.625.70
7 83% 84% 100% 100%
Nguồn: Số liệu đã công bố của VASEP
18
BẢNG 6. SẢN LƯỢNG TÔM NUÔI THEO TỈNH
Tỉnh
2005 2006 2007 2008
Cả nước 327.194 354.514 386.596 381.728
Đồng bằng sông Hồng 8.283 8.774 9.904 8.479
Hà Nội 21 31 31 31
Vĩnh Phúc 6 2 6 2
Bắc Ninh 221 199 188 208
Hà Tây 4 8 11 -
Duyên hải Nam Trung Bộ 16.315 18.843 19.996 26.772
Đà Nẵng 505 203 256 272
Quảng Nam 3.151 2.930 2.950 5.127
19
Tỉnh
2005 2006 2007 2008
Quảng Ngãi 3.005 4.160 4.950 5.690
Bình Định 1.709 2.310 2.599 4.000
Phú Yên 2.615 2.872 3.170 4.114
Khánh Hòa 5.330 6.368 6.071 7.569
Tây Nguyên 64 62 57
71
Đắk Lắk 55 54 48 50
Đắk Nông 7 5 5 5
Lâm Đồng 2 3 4 16
Đông Nam Bộ 18.917 21.283 21.717 22.800
Ninh Thuận 1.995 3.575 5.412 5.821
Bình Thuận 2.496 1.760 2.756 3.810
Tây Ninh 3 5 2 1
Bình Dương 21819 1
Đồng Nai 1.531 1.262 1.496 2.326
Bà Rịa - Vũng Tàu 3.702 3.981 2.452 2.220
TP. Hồ Chí Minh 9.188 10.682 9.580 8.621
Đồng bằng sông Cửu Long 265.761 286.837 315.435 304.006
Long An 6.014 7.190 7.085 5.683
Tiền Giang 7.998 8.273 9.381 10.118
Bến Tre 25.090 23.446 25.166 23.950
Trà Vinh 19.688 24.142 27.337 20.890
Vĩnh Long 47 34 34 26
Hồ và bể chứa 340.000 ha
Ruộng lúa 580.000 ha
Vùng ven biển: rừng ngập mặn,
vịnh, đầm phá, vùng triều 700.000 ha
Sông ngòi Chiều dài hàng nghìn km
Các hệ thống sông chính Sông Cửu Long, sông Hồng và rất nhiều các hệ thống sông
nhỏ hơn