009/06 VIE Báo cáo 6 tháng,tháng 10 năm 2008 Phụ lục 2
VIE 009/06. Nâng cao năng lực khuyến nông viên các tỉnh trong việc
đánh giá những mặt hạn chế của đất đến sức sản xuất thông qua việc sử
dụng hệ thống các quyết định hỗ trợ SCAMP
Các nhóm đất chính và những mặt hạn chế của đất
ảnh hưởng đến sản lượng cây trồng cạn
3. Vùng Đông Nam Bộ
PW Moody
đất trồng trọt vùng cao ở một số tỉnh trọng điểm của Việt Nam.
- Xác định các nhóm đất chính được sử dụ
ng cho hộ nông dân sản xuất nhỏ ở các tỉnh
trọng điểm và xác định những mặt hạn chế của nó thông qua việc sử dụng SCAMP.
- Xác định những hệ thống cây trồng chính đã sử dụng ở hộ nông dân sản xuất nhỏ tại
một số tỉnh trọng điểm và soạn thảo những yêu cầu về đất đặc trưng của các hệ
thống
trồng trọt này.
- Kết nối một số những hạn chế với những yêu cầu về đất của những cây trồng cạn và
xây dựng cẩm nang hướng dẫn cho việc quản lý một số dạng đất đặc trưng cho một số
loại cây riêng biệt.
Phần 3 tập trung trên các hệ thống đất và cây trồng vùng Đông Nam Bộ gồm 5 tỉnh
(Bình Phước, Bình D
ương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu) và ngoại ô Thành phố
Hồ Chí Minh. Vùng này trãi dài từ 105
o
49’ đến 107
o
35’ kinh độ Đông và từ 10
o
20’ đến
12
o
17’vĩ độ Bắc. Tổng diện tích vùng khoảng 2,2 triệu ha (chiếm khoảng 20,3% tổng diện
tích đất Việt Nam).
Vùng Đông Nam Bộ nhận bức xạ mặt trời ở mức cao nhất Việt Nam, hơn 130
Kcal/cm
2
/năm và là vùng thích hợp cho sản xuất nông nghiệp. Nhiệt độ trung bình hàng
năm đạt 26-27
(Nguồn: Phạm Quang Khánh, 1997)
STT Nhóm đất Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
1 Đất đỏ (Ferralsols) 1.018.786 43
2 Đất xám (Acrisols) 744.652 32
3 Đất phèn (Fluvisols) 170.445 7
4 Đất đen (Luvisols) 99.100 4
5 Đất phù sa (Alluvial soils) 87.218 3
6 Đất dốc từ Ferralsols (Colluvial soils) 53.882 2
7 Đất cát (Arenosols) 28.058 1
8 Đất xói mòn trơ sỏi đá (Leptosols) 13.195 < 1
9 Đất mặn (Saline soils) 2.500 < 1
Đất đỏ Ferralsols là loại đất có tính chất vật lý tốt nhưng lại có độ phì hóa học
nghèo. Loại đất này rất quan trọng đối với cây trồng lâu năm như tiêu, cao su, cây ăn quả,
điều và cây cà phê.
Phần nhỏ diện tích đất xám nằm ở vùng trũng thấp do đó hầu hết diện tích này
được sử dụng để trồng lúa. Những diện tích đất ở vùng cao thuộc Đông Nam Bộ thường
sử dụng cho canh tác các cây trồng lâu năm (cao su, cà phê, điều, mía) và cây trồng
thường niên như sắn, đậu phộng, bắp và rau quả.
Đất phèn xuất hiện tại vùng có địa hình thấp gần Thành phố Hồ Chí Minh. Một vài
cây trồng như cây bạch đàn, dứa, mía và lúa được trồng trên đất này.
Đất đen chỉ có ở tỉnh Đồng Nai trên vùng có nguồn gốc từ basal và ở chân núi tỉnh
Tây Ninh.
4
4. Một số hạn chế đất và biện pháp kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp bền vững
chọn loại phân và phương pháp bón phân) cần thiết phải thực hiện. Trong những hệ
thống canh tác mà phân lân được bón ở mức tối thiểu, nên bón trực tiếp với một
lượng nhỏ theo băng hoặc hốc gần với hạt và việc sử dụng những cây trồ
ng có nhu
cầu lân ít. Việc bón phân lân dễ tan trong nước theo băng hoặc hốc sẽ hạn chế mất
lân do hiện tượng cố định. Tuy nhiên, cách bón này sẽ tập trung bộ rễ cây xung
quanh khu vực có phân và do đó làm giảm khả năng lan rộng và ăn sâu xuống đất
của bộ rễ. Ở một số vùng có xảy ra những đợt hạn ngắn, việc bón như vậy có thể ảnh
hưởng đến năng suấ
t do hạn chế khả năng hút nước của bộ rễ. Bón rải một lượng
nhỏ phân ban đầu sau đó bón băng giúp cho bộ rễ phân bố rộng khắp. Đánh giá dinh
dưỡng lân trong đất nên xác định theo định kỳ mới thể hiện được tình trạng lân trong
đất.
5
Đất xám
Diện tích lớn đất xám của vùng được sử dụng cho trồng mía, trong đó Tây Ninh
chiếm diện tích trồng mía lớn nhất. Những tính chất đất ở một số vùng trồng mía được
trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2. Đặc tính đất của một số vùng trồng mía ở tỉnh Tây Ninh.
(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường, Viện KHKT NNMN)
ST
T
pH
KCl
C hữu
cơ
(%)
c
kg
-1
)
CEC
(cmol
c
kg
-1
)
1 4,43 1,33 0,076 1,4 0,03 0,9 0,5 3,4
2 4,47 1,30 0,067 1,4 0,04 1,0 0,6 4,0
3 5,06 1,35 0,097 1,2 0,06 1,2 0,8 3,5
4 3,87 1,33 0,052 1,9 0,03 0,6 0,2 3,8
5 4,47 1,48 0,120 1,8 0,38 3,0 1,4 7,0
6 4,63 1,43 0,109 2,6 0,50 3,2 2,8 7,7
7 4,45 1,48 0,086 1,1 0,15 1,2 1,0 6,4
8 4,55 1,53 0,084 0,8 0,07 1,1 0,9 4,8
9 3,98 1,38 0,098 0,4 0,05 0,5 0,3 3,8
10 4,13 1,38 0,081 0,4 0,06 1,1 0,7 3,8
11 4,12 1,32 0,083 0,4 0,09 1,0 0,6 3,6
12 4,01 1,38 0,072 1,2 0,04 0,8 1,0 2,6
13 3,85 1,33 0,045 0,1 0,03 0,7 0,5 3,7
14 4,16 1,28 0,067 0,6 0,10 0,6 1,2 3,7
15 4,06 1,28 0,063 0,8 0,04 0,6 0,2 3,0
16 4,00 2,76 0,116 0,8 0,03 0,5 0,3 5,5
17 4,07 2,86 0,073 0,7 0,03 0,6 0,3 6,0
Số liệu ở Bảng 2 cho thấy đất có tính chua. Chất hữu cơ trong đất nhìn chung cao
k: Bổ sung phân kali hoặc bón chất chấ
t hữu cơ có chứa kali là rất cần thiết. Những
đất có khả năng dự trữ kali kém ở các tầng đất bên dưới, cây trồng sẽ thể hiện
triệu chứng thiếu kali trong giai đoạn bị hạn. Trong trường hợp này, việc bón
phân kali bên dưới hạt lúc gieo hoặc trộn phân kali tại hốc trồng là chiến lược
quản lý hiệu quả hơn rải phân kali theo hàng bên trên bề mặt đất. Cây trồng cầ
n
được theo dõi sâu sát các triệu chứng thiếu kali.
hs, comp: Đóng váng bề mặt làm giảm tốc độ thấm và làm cho cây sinh trưởng kém trong
khi hiện tượng dí dẻ chặt làm hạn chế sự phát triển bộ rễ và giới hạn độ sâu của
rễ nên cây gây hại như khi bị hạn. Giữ lại tàn dư thực vật và trồng cây che phủ
đất sẽ duy trì được ẩm độ đất do đó hạn chế đất b
ị đóng váng. Để hạn chế sự dí
dẻ, đất nên được canh tác vào thời điểm khô hơn giới hạn dẻo của chúng và
tránh cày bừa và sử dụng phương tiện cơ giới khi đất ẩm hơn giới hạn dẻo.
5. Các mùa vụ trồng chính trên đất vùng cao ở những hộ nông dân sản xuất nhỏ
Bảng 3. Tổng diện tích (x 1000 ha) bắp, mía và đậu phộng trồng ở vùng Đông Nam
Bộ năm 2006 và 2007 (Nguồn: Niên giám thống kê 2007)
Tỉnh Bắp Mía Đậu phộng
Năm 2006 2007 2006 2007 2006 2007
Bà Rịa Vũng Tàu 19,0 18,8 0,4 0,5 1,4 1,7
Bình Dương 0,8 0,6 1,1 1,1 3,6 3,0
Bình Phước 7,0 6,3 0,8 0,7 1,7 1,2
Đồng Nai 56,7 58,2 8,8 8,9 1,6 1,4
Tây Ninh 7,8 7,1 38,0 31,3 20,9 21,3
TP. Hồ Chí Minh 1,2 1,1 2,3 2,0 0,7 1,0 7
Bắp, mía và đậu phộng là những cây trồng chính đối với những hộ nông dân sản
Năng suất
ở 10 CCS
(tấn/ha)
Giá trị
nông sản
(1000đ)
Chi phí
đầu tư
(1000đ)
Thu nhập
(1000đ/ha)
Tỉ lệ thu
nhập/chi
phí đầu
tư
1 Đốt xác bã 77,1 29.298 11.741,4 17.556,6 1,53
2
Che phủ tất cả các
hàng
92,8 35.264 12.238,0 23.026,0 1,88
3 Che phủ cách hàng 97,5 37.050 12.706,8 24.343,2 1,92
8
6. Tính thích nghi của đất đối với một số cây trồng cạn chủ yếu được các nông hộ
nhỏ trồng
Đánh giá SCAMP trên đất đỏ và đất xám (Phần 4 bên trên) đã xác định được nhiều
mặt hạn chế của đất đến sản lượng của cây trồng. Một số mặt hạn chế luôn có ảnh hưởng
đến sản lượng của cây trồng, không kể đến lo
trồng nếu các biện pháp cải tạo những giới hạn
chính được thực hiện, (ví dụ,tính thoát nước
trên diện tích rộng)
4 Hiện tại không
thích hợp
Đất không thích hợp cho phát triển bền vững
cây trồng. 9
Bảng 6. Các cấp thích hợp của các thuộc tính/hạn chế của đất ảnh hưởng đến sản
lượng một số loại cây trồng đặc biệt.
Ký hiệu
theo
SCAMP
Bắp Mía Đậu
Thành phần cơ giới
S
2 2 2
L
1 1 1
C
1 1 3
3 2 2
Khả năng chịu hạn
L L M
Vùng (cm) chất dinh
dưỡng/nước được cây hút
80-100 >100
50-
100
Nhu cầu
chất dinh dưỡng
Nhu cầu
N, K cao
Nhu cầu N
cao
Ca trong
vùng đậu
đâm tia
Những gợi ý dưới đây cần được thực hiện trong việc xây dựng các biện pháp kỹ
thuật để đạt được những yêu cầu của từng loại cây riêng nhằm bổ sung vào những phần đã
được trình bày ở Mục 4 bên trên.
Thành phần cơ giới
S: Do lượng nước hữu dụng có trong đất cát rất thấp, việc tưới nước trở thành một
nhu cầu cần thiế
t cho những cây trồng chịu hạn kém như bắp, mía và cà phê.
Việc sử dụng tàn dư thực vật từ đất sẽ hạn chế sự bốc thoát hơi nước và duy trì độ
ẩm đất.
Đối với những cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng cao như bắp, mía và cà phê, khi
trồng trên những vùng đất cát có ECEC thấp, những chất dinh dưỡng như kali khi
7. Kết luận
Đất đỏ và đất xám là hai nhóm đất chính vùng Đông Nam Bộ. Những hạn chế xảy
ra khá phổ biến ở đất đỏ là tính chua của đất, khả năng giữ ion dương thấp và cố định lân
cao. Ở đất xám, những hạn chế phổ biến là hàm lượng chất hữu cơ ở m
ức trung bình-thấp,
kali dự trữ thấp đặc biệt ở các tầng bên dưới bề mặt đất và thường có hiện tượng đất bị
đóng váng và dí dẻ chặt.
Một số cây trồng khá phổ biến được các nông hộ nhỏ canh tác là bắp, mía và đậu
phộng. Khả năng chống chịu một số hạn chế của đất thay đổi theo từng lọai cây trồng, do
đó các biện pháp kỹ thu
ật canh tác nhằm cải thiện hoặc giảm thiểu ảnh hưởng của những
hạn chế này đến sản lượng cũng phải thay đổi theo. Tuy nhiên việc bón vôi và cây phân
xanh cho đất đỏ (Ferralsols) là cần thiết cho tất cả các cây trồng, trong khi đó cải thiện khả
năng thoát nước, duy trì thảm che phủ bề mặt và bón cây phân xanh là những biện pháp
cần thiết cho cây trồng trên đất xám.
Tài liệu tham khảo
Aitken, R.L., Moody, P.W. and Dickson, T. 1998. Field amelioration of acidic soils in
south-east Queensland. I. Effect of amendments on soil properties. Australian
Journal of Agricultural Research, 49, 627-637.
Dierolf, T., Fairhurst, T. and Mutert, E. 2001. Soil Fertility Kit. Potash and Phosphate
Institute: Singapore.
11
Do Ngoc Diep 2005. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc mía ban đầu cho cây
mía ở Nam Bộ. Project Report. Centre for Sugarcane Research and Development.
Institute of Agricultural Sciences of Southern Vietnam.
Phan, T.C. and Merckx, R. 2005. Improving phosphorus availability in two upland soils of
Vietnam using Tithonia diversifolia H. Plant and Soil 269, 11-23.
Robinson, J.C. 1996. Bananas and Plantains. CAB International: Oxon.
Schaffer, B. and Andersen, P.C. 1994. Handbook of Environmental Physiology of Fruit
Crops. CRC Press: Florida.
Statistical Year Book, 2007. Statistical Publishing House: Hanoi.
Williams, C.N. 1975. The Agronomy of the Major Tropical Crops. Oxford University
Press: London.