MinistryofAgriculture&RuralDevelopment
CARDProjectReport
027/06VIE
Tăng cường kĩ năng và cải tiến công nghệ cho các
xưởng xẻ quy mô nhỏ vùng nông thôn Việt Nam
CHÍNH SÁCH: BẢO QUẢN GỖ Ở VIỆT NAM Peter Vinden, Gerry Harris, Philip Blackwell, and P.D. Chien
Tháng9,2009
2
2.4 Đào tạo 3.0 KẾT LUẬN
4.0 PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Xử lý cong vênh và sử dụng
Appendix 2 Loài khó xử lý
Appendix 3 Tiêu chuẩn Úc AS 1604.
3
1.0 TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ
Ngành công nghiệp bảo quản gỗ ở Việt Nam khá nhỏ và không có nhiều nghiên cứu
sâu cũng như được tăng cường nguồn nhân lực cho ngành. Do điều kiện khí hậu ở
Việt Nam, các sản phẩm gỗ bị giảm chất lượng rất nhanh nên cần có những chính
sách cấp quốc gia để thiết lập các quy trình, quy phạm nhằm làm tăng tuổi thọ của các
sả
n phẩm gỗ. Việc này rất cần thiết bởi vì:
• Đầu tư quốc gia rất lớn về cơ sở hạ tầng cấp quốc gia và rất cần thiết phải bảo
vệ.
• Quá trình phân huỷ gỗ sẽ giải phóng một lượng khí các bon ra ngoài không
khí. Làm tăng tuổi thọ của các sản phẩm gỗ sẽ làm tăng việc lưu giữ các bon,
nghiên cứu nên có hiểu biết về thương mại trong nghiên cứu, và có kinh nghiệm
khi làm việc với Chính phủ và các cục, vụ quản lý hoặc liên quan tới quản lý việc
bảo quả
n gỗ quốc gia. Nhóm nghiên cứu cần có mối quan hệ chặt chẽ với nhóm
nghiên cứu sấy gỗ và các nhóm nghiên cứu khác tập trung vào giải tích gỗ, phân
tích chu kỳ sống, lâm nghiệp, kinh tế và phân tích thống kê.
Chương trình nghiên cứu cần tập trung vào các lĩnh vực sau:
• Tiêu chuẩn quốc gia về bảo quản gỗ
• Thị trường cho gỗ được xử lý bảo quản
• Công nghệ xử lý gỗ chân không
•
Xử lý gỗ các loài khó xử lý
• Xử lý bằng phương pháp khuyếch tán và khuyếch tán kép.
• Điều kiện gỗ (bao gồm điều kiện gỗ trong lò microwave) và sấy gỗ
4
• Phòng chống biến màu ở gỗ và và thử nghiệm ở xưởng xẻ loại thuốc và
phương pháp chông biến màu ở gỗ.
• Đánh giá tuổi thọ của gỗ được bảo quản và thơig gian sử dụng ở môi
trường tự nhiên
• Sử dụng hoá chất tạo mặt gỗ
• Tạo mặt gỗ bền đẹp
• Phế thả
i và sử dụng lại thuốc bảo quản
• Vấn đề OH&S liên quan tới bảo quản gỗ
• Đánh giá mục gỗ trong phòng thí nghiệm và xây dựng các phương pháp
bảo quản mới.
• Các hoạt động sản xuất đồ gỗ.
cấp độ 8. đào tạo tiến sĩ). Mức độ 1-3 là phù hợp nhất với công nghiệp, hoặc trong
trường hợp tập huấn được tổ chức bởi các cơ quan khuyến lâm trong khi cấp độ 7 và 8
được nghiên cứu bởi các sinh viên đại học và sau đại học ở các trường đại học. Cũng
cầ
n nhấn mạnh ở đây là các tài liệu giảng dạy ở trên cần phân phát tới người học ít
nhất là 1 tuần trước khoa học. Số người cần đào tạo ở mức độ 4-6 ở trên là khoảng
20-30 người cho 1 năm. Tuy nhiên, hội thảo 1 ngày cần được tổ chức để giúp xác
định các vấn đề như kiểm soát sự biến màu ở gỗ mà có thể có tới 50 -100 người tham
dự. Chìa khoá để
tổ chức các khoá đào tạo mức độ 4-6 với các học viên cớ trình độ cơ
bản khác nhau là thiết kế các tài liệu giảng dạy cho các học viên tự học và được hoàn
thành trước khoá học và học viên có thể dễ dàng có được bằng internet trước mỗi
5
khoá học. Tài liệu giảng dạy nên do các nhóm nghiên cứu đã đề cập bên trên phối hợp
với các tác giả của báo cáo này xây dựng.
1.3 Tiêu chuẩn bảo quản gỗ
Cách tiếp cận cho tiêu chuẩn bảo quản gỗ ở Việt Nam đã được đề xuất. Cách tiếp cận
mở đầu với khái niệm “Các nhóm rủi ro”. Các tiêu chuẩn này ban đầu được giới thiệu
ở New Zealand và Australia những năm đầu thập kỷ 1980’s và sau đó được chấp nhận
ở nhiều nước trên thế giới trong vòng 30 năm qua. Ở Việt Nam, tiêu chuẩn này được
giảm từ 6 nhóm sử dụng ở
Australia và New Zealand xuống còn 2 nhóm:
(i) Gỗ tiếp xúc với mặt đất và
(ii) Gỗ không tiếp xúc với mặt đất
Việc phân nhóm này xuất phát từ việc khả năng các loại gỗ bị mục rất cao ở Việt
Nam, và hình thành một số giải pháp bảo vệ. Tuy nhiên, một điều cần được ghi nhớ là
để bảo quản lâm sản. Thời gian cho xử lý khuyếch tán đơn thường nhanh hơn phương
pháp ngâm nhanh để đảm bảo rằng không có công nhân nào tiếp xúc với chất bảo
quản trong suốt quá trình bảo quản. Ngâm nhanh thường bị lãnh phí thuốc bảo quản,
và khoảng 50% lượng thuốc bảo quản có thể bị
mất vì quá trình này do nhỏ giọt.
Khuyếch tán kép thường được áp dụng với gỗ tròn hoặc gỗ xẻ được sử dụng có tiếp
xúc với mặt đất. Phương pháp áp dụng khuyếch tán kép không nằm trong báo cáo
này. Một lần nữa, trên thế giới có rất ít các nghiên cứu về phương pháp xử lý bảo
quản lâm sản này. Và cần phải có những nghiên cứu quy mô tiếp theo để tìm ra các kỹ
thuật tốt nhất. Phương pháp này rấ
t lý tưởng cho sử dụng gỗ ở nông thôn, miền núi
cũng như cho sản xuất công nghiệp. 6
Một phương pháp nữa rất tiềm năng cho vùng nông thôn là sử dụng băng quấn.
Phương pháp này rất có ý nghĩa cho bảo vệ sản phẩm gỗ ở vùng nông thôn như bảo
vệ cột điện, hàng rào, cột gỗ ở các công trình. Phương pháp này được đề cập ở Phụ
lục 1 của báo cáo đang được phát triển ở Đức. Phương pháp này nên được áp dụng
vào điều kiện Vi
ệt Nam. Muốn có được điều này đòi hỏi các nhà khoa học của địa
phương tiến hành các nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về vùng nông thôn.
Khuyếch tán kép có thể được áp dụng bằng cách sử dụng quá trình xử lý đơn. Do đó,
các lò xử lý đơn có thể được thiết kế để có thể áp dụng nhiều phương pháp xử lý bảo
quản. Cưa vòng nằm được sử dụng rất rộng rãi ở Vi
ệt Nam, và là công cụ để chế biến
bước đầu gỗ từ gỗ tròn. Xử lý đơn được được áp dụng ở Việt Nam đáp ứng đòi hỏi
ngày càng cao về bảo quản của gỗ chế biến. Yêu cầu đầu tiên để phát triển quá trình
này là thiết lập năng lực nghiên cứu để tối ưu hoá các chỉ số và đặc tính của xử lý
cường hiệu quả phòng chống côn trùng. Thuốc phòng trừ côn trùng có thành phần
chính là pyrethroids hoặc fipronil là thích hợp nhưng rất cần thiết phải hoà tan chúng
trong các dụng môi cần thích hợ
p. Các hợp chất bảo quản cũng là một lĩnh vực cần
đầu tư nghiên cứu. Nên nhớ rằng các chất hữu cơ có khả năng thẩm thấu vào gỗ kém,
chất bảo quản emulsified có thể thẩm thấu vào gỗ nếu sử dụng phương pháp khuyếch
tán. Thuốc phòng trừ côn trùng có thể bị mất tác dụng với thời gian, đặc biệt khi để nó
tiếp xúc với đất. Chấ
t Fipronil có một số lợi điểm là cần một mức độ rất nhỏ
ingredient để có tác động. Sự suy giảm chất lượng của sản phẩm Fripronil được cho là
do tính chất kết tủa cảu thuốc phòng trừ côn trùng xâm hại.
Thuốc bảo quản thích hợp cho xử lý khuyếch tán kép có không nhiều. Copper
sulphate (Sunfat đồng) và sodium fluoride được khuyến nghị trong báo cáo này vì
7
hàm lượng độc tố của chất không lớn. Tuy nhiên, tính hiệu quả khi sử dụng loại thuốc
này vẫn chưa được kiểm chứng và cần phải đầu tư nghiên cứu thêm.
Trên thế giới đang rất quan tâm tới nghiên cứu các chất bảo quản gỗ và chất phủ bề
mặt gỗ để nâng cao thời gian sử dụng của sản phẩm gỗ, đặc biệt
đối với các sản phẩm
gỗ sử dụng ở ngoài trời. Công nghệ tạo mặt gỗ có thể tìm thấy qua internet, ví dụ từ
trang Website của Cooperative Research Centre Wood Innovations, Australia (Úc).
Có khá ít các nghiên cứu làm bền vững bề mặt bằng các hoá chất. Về mặt nguyên lý,
chất hoá học tạo ra lớp phủ các tế bào mạch và các lỗ thông nhau của các tế bào gỗ
như cellulose, do đó nứt vỡ hoặc vặn xoắn được giảm đi
đáng kể. Quá trình vặn xoắn
và cong vệnh do nồng độ ẩm trong gỗ không đều thường tạo ra áp lực tác động lên bề
mặt gỗ làm bề mặt gỗ bị nứt, vỡ, cong vênh. Một vấn đề vấn chưa được hiểu rõ là độ
cứu sẽ được gắn kết với phân tích của cả luân kỳ, do đó hậu quả đối với môi trường
khi sử dụng một công nghệ sẽ được giám sát, đánh giá trong nhiều giai đoạn sử dụng
sản phẩm, thành phẩm, vận chuyển, sử dụng cuối cùng, phế thải, tái sử dung. Các
đánh giá sẽ tập trung vào đầu vào của mỗi giai đoạn (năng lượng, nguyên li
ệu thô,
nước và chất hoá học) và đầu ra là các sản phẩm và phế liệu và chất ô nhiễm môi
trường.
8
2.0 GIỚI THIỆU
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của Việt Nam (nhiệt độ cao, mưa nhiều và độ ẩm cao) tác
động trực tiếp tới điều kiện môi trường rất thích hợp cho sự phát triển của mốc, nấm
biến màu gỗ, nấm mục phát triển trong gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ. Các loại gỗ rất
khác nhau về khả năng chống chịu với n
ấm mốc và biến màu, biến động từ rất dễ
nhiễm như gỗ cao su có thể bị biến màu chỉ trong vài ngày sau khi khai thác tới gỗ
keo có thể bị biến màu tỏng vài tuần hoặc vài tháng hoặc gỗ thông bị biến màu ở mức
độ trùng bình so với 2 loài trên. Chuyến thăm và làm việc với các xưởng xẻ ở vùng
nông thôn Miền băc, Miền trung và Miền Nam Việt nam cho thây biến màu xanh
(fairly chronic blue stain) xảy ra với gỗ cao su và gỗ thông. Sự
biến màu làm giảm giá
trị của gỗ đóng đồ mộc và sản xuất ván, và ở tình trạng xấu hơn là bị mục gỗ. Rất
nhiều đồ gỗ ở thị trường vùng nông thôn sử dụng sơn hoặc vecni sẫm màu để quét bề
mặt sản phẩm gỗ để xoá sự biến màu của gỗ.
Như một nguyên lý, cây sau khi bị chặt hạ sẽ ngay lập tứ
c dễ bị tổn thương vì quá
trình sinh học hoặc là hậu quả của sự xâm nhập của nấm mốc hay nấm mục. Côn
trùng là vật mang nấm bệnh và cần được kiểm soát và phòng trừ cùng với thời gian
dụng hỗn hợp borax và
alkyl ammonium chloride (AAC) có thể là những bước đầu tiên. Các chất này ít có
hại tới con người (nhưng có hại cho cá) và khá rẻ. Vì chất này có hại cho cá, các
phương pháp và vận hành bảo quản với loại thuốc này phải rất cẩn thận. Khuyến nghị
ở đây là nên sử dụng hệ thống xử lý khép kín, ví dụ bằng quá trình xử lý đơn, người
vận hành sẽ không phải tiếp xúc với hoá chất độc h
ại và môi trường cũng không bị
tổn hại vì không phải dùng phương pháp nhỏ giọt hoặc phun. 9
Có rất nhiều loại gỗ bản địa sẵn có ở Việt Nam. Tuy nhiên, các loài gỗ này đang trở
nên hiếm dần và không phải lúc nào gỗ có chất lượng có thể chống chịu được nấm
bệnh cũng sẵn có. Việt Nam cũng có nhiều loại gỗ khác. Tuy nhiên, phần lớn các loài
gỗ này kém bền và rất khó áp dụng bảo quản chân không đối với các loài gỗ này.
Có nhà máy sản xuất thiết bị bả
o quản chân không như ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Giá bán của các thiết bị này rất cao nên không thể áp dụng được ở phần lớn các vùng
sâu, vùng xa của Việt Nam. Ngay cả khi một nhóm các xưởng xẻ được quy tụ gần
nhau để có đủ nguyên liệu, năng lực cho xử lý bảo quản thì cũng không chắc chắn là
các các chủ cơ sở có trả được số tiền đầu tư trừ khi xử lý cho các mục tiêu có giá trị
cao cho các thị trường riêng biệt, ví dụ xử lý gỗ cao su để xuất khẩu sang Đài Loan.
Có rất nhiều loại gỗ sẵn có ở Việt Nam cần được xử lý bảo quản. Tuy nhiên, rất nhiều
trong số này rất khó xử lý làm thẩm thấu thuốc bảo quản, các công nghệ xử lý bằng áp
lực/chân không được đánh giá cao. Không may là không có kỹ thuật xử lý áp lực/chân
không nào là đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả
làm cho gỗ bền và đáp ứng được các yêu
cầu của sản phẩm gỗ cuối cùng hoặc có thể sử lý tất cả các loại gỗ. Tuy nhiên, có thể
10
Bảng 1. Nhóm tiêu chuẩn rủi ro Australia tương đương với thì trường gỗ
xử lý chủ yếu ở Việt Nam.
Các nhóm tiêu chuẩn Australia Đề xuất yêu cầu đối với gỗ xử lý tương
đươc ở Việt Nam
Rủi ro thấp
H1 và H2 mối và côn trùng tấn công, trên
mặt đất được bảo vệ khỏi sự phá huỷ của
thời tiết.
Đồ gỗ bao gồm viếc sử dụng song mây
và tre trúc. Phòng chống mọt, mối nhưng
bao gồm sự cần thiết phòng chống mốc
biến màu và nấm mục.
Rủi ro cao
H3 ở trên mặt đất nhưng không được bảo
vệ chống lại sự phá huỷ của thời tiết
Gỗ tròn, gỗ xẻ và tre trúc sử dụng cho
xây dựng nhà cửa ở miền núi
H4 và H5 gố tiếp xúc với mặt đất
H6 Gỗ tiếp xúc với nước biển .
H4, H5 và H6 nênd được tổng hợp lại thành rủi ro mục gỗ đơn (Rủi ro cao). Trong
khi nhóm rủi ro H3 có thể được xử lý quá mức với mức độ đơn giản, thị trường của
loại này hiện tại rất nhỏ, và phần lớn các loài sẵn có ở Việt Nam cho thị trường này
thì lại rất khó để thẩm thấu chất bảo quản. 2.2 Công nghệ xử lý
Công nghệ xử lý áp lực truy
ển thống và chế độ xử lý sẵn có cho xử lý bảo quản không
được sử dụng nhiều trong khi các loại gỗ đang được xử lý rất khó áp dụng với thẩm
thấu áp lực. Công nghệ xử lý khác bao gồm khuyếch tán khi mà bề mặt được bảo
quản bằng thuốc phòng trừ côn trùng/nấm mốc được áp dụng với mặt gỗ tươi và thời
11
gian để thuốc thẩm thấu vào gỗ là khoảng vài tuần (ví dụ là 3 tuần) trước khi gỗ được
sấy. Trong khi về mặt lý thuyết bất cứ loại gỗ nào cũng có thể xử lý được bằng
phương pháp này, nhưng thưc tế các loài khác nhau rất nhiều về khả năng khuyếch
tán chất bảo quản. Yêu cầu xử lý cũng khác nhau giữa các loài tuỳ theo độ bền tự
nhiên của các loài. Do v
ậy, một xử lý bảo quản tốt hơn có thể thu được khi xử dụng
công nghệ khuyếch tán khi mà gỗ của loài khó bị thẩm thấu thuốc bảo quản.
Công nghệ bảo quản sẵn có cho xử lý bề mặt của gỗ xẻ hoặc gỗ tròn trước khi xử lý
khuyếch tán. Về mặt truyền thống, các công nghệ bao gồm nhỏ giọt, phun, và ngâm
tẩm. Việc sử dụng các ph
ương pháp này dựa vào tiêu chí về môi trường và sức khoẻ
con người vì người vận hành sẽ phải tiếp xúc với hoá chất trong khi bảo quản hoặc
thuốc bảo quản sẽ ảnh hưởng tới môi trường nếu sử dụng phương pháp nhỏ giọt.
Bảo quản bằng cách ngâm tẩm nhanh có thể mất tới 50% lượng thuốc bảo quản do
nhỏ giọt. Vận chuyển bằng tay gỗ đượ
vận chuyển chất bảo quản có thể được thực hiện rất nhanh, và quá trình xử lý diễn ra
rất nhanh như đối với phương pháp xử lý nhanh. Ưu điểm của phương pháp này công
nhân không phải làm tr
ực tiếp với thuốc bảo quản và không làm tổn hại tới môi
trường. 2.3 Ứng dụng bảo quản
Xử lý bảo quản gỗ tròn và gỗ xẻ bằng khuyếch tán có nhiều ưu điểm hơn xử lý bảo
quản bằng áp lực khi mà gỗ được cho là khó khăn trong việc ngâm tẩm và quá trình
thẩm thấu chất bảo quản vào gỗ là khó khăn khi sử dụng phương pháp chân không/áp
l
ực. Phương pháp này cũng có rất nhiều ưu điểm khi xử lý gỗ xẻ tươi. Sấy gỗ tròn
hoặc gỗ xẻ thường là điều kiện tiên quyết cho thẩm thấu sử dụng áp lực, và sấy gỗ
12
thường rất đắt đỏ về cả phương diện năng lượng và thời gian. Do vậy, có một số ngoại
trừ khi gỗ xẻ hoặc gỗ tròn có thể được thẩm thấu bằng áp lực trong điều kiện nửa
tươi. Các xử lý này áp dụng với các loài đã biết và đòi hỏi các nghiên cứu ở điều kiện
địa phương và có chuyên gia về lĩnh vực này tham gia.
Rất ít các được thực hiện liên quan tới việc vận hành xử lý bằng khuyếch tán kép.
Một báo cáo tóm tắt trình bày hiện trạng về xử lý khuyếch tán kép được thể hiện ở
phụ lục 1. Theo truyền thống, xử lý khuyếch tán kép được thực hiện bằng cách sử
dụng công nghệ ngâm tẩm. Tuy nhiên, thuốc bảo quản có thể được sử dụng bằng cách
sử dụng xử lý đơn để
duy trì thuốc bảo quản (chức năng thuốc bảo quản chuyển từ
dưới lên trên và nồng độ thuốc bảo quản).
Dung dịch cô đặc hỗn hợp hoặc lỏng có thể được chuẩn bị để giúp cho việc vận
.
• Hoạt động của các thiết bị xử lý bảo quản bao gồm cách thức sử dụng công cụ
để tính toán cách sử dụng thuốc bảo quản, thời gian xử lý và phân tích nông
độ thuốc bảo quản
• Tiêu chuẩn và việc chuẩn bị gỗ cho xử lý bảo quản, bao gồm sấy và tính toán
thời gian, kỹ thuật sử dụng hơi nước cho việc sấy gỗ. 13
• Các xử lý cho các loài gỗ khác nhau và cách lựa chọn các phương pháp xử lý;
yếu tố ảnh hưởng tới tính thấm của gỗ và ccs đặc điểm liên quan tới tính thấm
chất bảo quản của gỗ
• Trách nhiệm của người vận hành để xử lý gỗ bảo đảm tiêu chuẩn cao
• Phát triển dài hạn về bảo quản gỗ và tầm quan trọng của x
ử lý gỗ trên thị
trường gỗ và các sản phẩm gỗ.
• Kiến thức về di gen di truyền liên quan tới kinh tế công nghiệp, thống kê kinh
tế và thiết kế thí nghiệm, vv
Kiến thức này rất chuyên sâu nhưng không quá phức tạp. Yêu cầu đối với những hoc
sinh, sinh viên được lựa chọn cần có kiến thức và kỹ năng toán đáp ứng nhu cầu, hiểu
biêt các khái niệm, định nghĩa và có thể
độc lập xử lý các vấn để dựa vào các kiến
thức của các chủ đề đã học.
Khuyến nghị cần tăng cường cho giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực xử lý bảo quản
lâm sản. Kiến thức về lĩnh vực này có thể được bao gồm trong tài liêu giảng dạy có
mức độ từ loại 4-6. Điều này có nghĩa là các sinh viên tiềm năng sẽ cần phải hoàn
thành chương trình phổ thông trung họ
c để có khả năng hiểu được các kiến thức và
khái niệm trong khoá đào tạo về xử lý bảo quản gỗ. Đào tạo cho những người vận
hành các thiết bị xử lý bảo quản kể cả ở vùng nông thôn cũng đòi hỏi phải có trình độ
đọc và viết thành thạo để có thể hiểu biết các khái niệm cũng như những kiến thức
14
được trang bị của khoá học. Do đó, các khoá đào tạo, tập huấn ở cấp trung ương về
lĩnh vực bảo quản lâm sản cần phải có các nhóm nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực
này tham gia. Khoá đào tạo có thể kéo dài 1 tuần liên tục và chuyên sâu, và tài liệu
tập huấn cần được phát tới tay người học trước khi tổ chức khoá học.
Một câu hỏi được nêu ra là có hay không việc thiết lập m
ột nhóm nghiên cứu quốc gia
có từ 12-14 nhà khoa học và kỹ thuật viên để triển khai nghiên cứu, giáo dục, đào tạo
và phát triển chiến lược quốc gia về bảo vệ gỗ và lâm sản Việt Nam. Trong bối cảnh
cần phải bảo vệ những đầu tư rất lớn của cơ sở hạ tầng; kéo dài tuổi thọ của gỗ và các
sản phẩm từ gỗ, tăng cườ
ng tích tụ các bon; cải thiện chất lượng cuôc sống của người
dân nông thôn, miền núi, và tiến thành đánh giá lợi ích của các nghiên cứu thông qua
việc phân tích lợi ích và chi phí nhưng cũng đánh giá đánh giá các giai đoạn trong
suốt quá trình sự dụng gỗ và sản phẩm từ gỗ, các đầu từ cho nghiên cứu, giáo dục và
đào tạo ở lĩnh vực bảo quản gỗ và lâm sản sẽ rất có ý nghĩa.
15
chính. Xưởng cưa có đầu tư cao sẽ làm trầm trọng thêm nguyên nhân này. Tiền đầu tư
thiết lập một cưa vòng nằm ở Việt Nam là khá thấp, khoảng 3-4.000 đô la. Thực tế là
các xưởng cưa không hoạt động hết công suất nhưng khấu hao thiết bị vô hình không
quan trọng, trong khi việc đầu tư các thiết bị hiện đại vẫn tiếp tuc. Điều này thay đổi
bản chấ
t kinh doanh từ đầu tư thấp, vùng nông thôn, không liên tục, mùa vụ, và mềm
dẻo tới hoạt động liên tục, lý tưởng là 3 ca. Giá vận chuyển gỗ tròn tới các xưởng cưa
lớn hơn sẽ tăng thêm. Rất nhiều các xưởng cưa nhỏ ở địa phương rất khó mở rộng sản
xuất vì họ không thể mở rộng thêm mặt bằng hoặc xưởng cưa nằm ở gần khu đ
ông
dân cư.
Khảo sát một số cở sở chế biến gỗ tổng hợp ở Miền Trung và Miền Nam thành lập
được 2-3 năm về trước sản xuất đồ mộc cao cấp cho xuất khẩu, một số điểm thú vị
cần chú ý.
Đầu tiên, có một mức độ cao về an toàn lao động và bảo vệ sức khoẻ cho công nhân.
Điều này được miêu tả trong một báo cáo khác.
Thứ hai, g
ỗ tròn của một số loài (sồi, beach ) chất lượng rất cao từ Đức, Nga, Hồ đào
và Thông từ Mỹ, Teck từ Philipin, và gỗ rừng tự nhiên lá rộng từ Nam Mỹ được
nhập vào Việt Nam làm nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc cao cấp.
16
Thứ ba, một số hệ thống máy tính hiện đại kiểm soát thiết bị sản xuất (trong một cơ
sở có giá trị khoảng 80 triệu đô la Úc) đã được nhập khẩu vào để sản xuất đồ mộc cho
xuất khẩu. Tuy nhiên, xưởng xẻ có các cưa vòng nằm Việt Nam (trong 1 trường hợp,
20 cưa vòng nằm được lắp đặt trên một dãy) phục vụ việc xẻ gỗ
tròn có chất lượng
cao thành gỗ xẻ có chất lượng cao phục vụ việc sản xuất đồ mộc. Rõ ràng là có thể
xây dựng được cơ sở chế biến trị giá 2-5 triệu đô la Mỹ và lắp đặt hệ thống này. Các
quyết định như vậy cần được cân nhắc vì chưa đề cập tới giá trị của 21 cưa vòng nằm
thực tế là không phải xưỏng cưa nào cũng có thể tự xây dựng và vận hành được một
lò sấy. Sấy không khí đòi hỏi kỹ thuật tốt, nhưng cũng rất ngạc nhiên ở đây là không
có nhi
ều các xưởng cưa ứng dụng sấy không khí. Mặt bằng hạn chế là một vấn đề khi
các xưởng xẻ muốn sấy bằng không khí. Cũng có một câu hỏi là làm giảm độ ẩm gỗ
bằng phương pháp sấy không khí tối đa được bao nhiêu. Có thể độ ẩm này bằng hoặc
thấp hơn điểm độ ẩm bão hoà một chút (fsp).
Việc sử dụng công nghệ sấy dùng năng lượng mặt trời là sự lựa chọn có tính khả thi
và kinh tế. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tiết kiệm năng lượng ở các lò sấy
này là rất lớn. Các vấn đề này cùng các khuyến nghị sẽ được trình bày ở một báo cáo
khác để cải thiện ngành sấy gỗ. Ch
ất lượng sấy là điều kiện tiên quyết để sản xuất đồ
mộc chất lượng cao. Rất nhiều các xưởng xẻ nhỏ vùng nông thôn có kế hoạch mở
rộng sản xuất bằng cách sản xuất đồ mộc, và như vậy nhu cầu về sấy gỗ ngày càng
tăng lên.
Biến màu, mục, và côn trùng phá hại gỗ là các vấn đề rất quan trọng ở Việt Nam do
điề
u kiện thời tiết nóng ẩm, mư nhiều. Ngay sau khi cây được hạ, nó trở thành đối
17
tượng của các tác nhân phá hại. Bài học ở đây là cây chỉ nên được chặt khi đã có kế
hoạch tiêu thụ phù hợp với thời gian lưu bãi hợp lỹ. Cả khảo sát và đánh giá chất
lượng gỗ lưu bãi chất lượng sản phẩm cuối cùng chỉ ra nhiều vấn đề. Biến màu xảy ra
phổ biến ở gỗ tròn. Thông và cao su là hai loại gỗ đặc biệt hay bị biến màu hơ
n các
loại gỗ keo và bạch đàn. Nhưng biến màu vẫn là một vấn đề với các loài này. Ngòai
việc lưu gỗ ở bãi gỗ chờ vận chuyển, các xưởng xẻ cũng lưu gỗ ở cơ sở của mình; nhu
cầu trong một số trường hợp đặc biệt cần phải xử lý gỗ để loại bỏ sự biến màu và
mục gỗ. Một khối l
ượng lớn gỗ keo được sử dụng để đống đồ mộc, và kết quả khảo
i về điều kiện làm việc ở các xưởng cưa. Nhu cầu đào tạo và nghiên
cứu sẽ được trình bày trong một báo cáo riêng rẽ, nhưng cũng là kết quả của đợt khảo
sát. Rõ ràng là từ nhân tố cơ sở của đào tạo về chế biến gỗ, đợt khảo sát đã xác định
được nhu cầu về đào tạo về kinh doanh, kế toán, thị trường và quản lý.
Đợt kh
ảo sát đã cung cấp mộit số thông tin rất có giá trị về nhu cầu cơ bản của các
xưởng xẻ vùng nông thôn Việt Nam. Đợt khảo sát cũng đề xuất cần có thêm khảo sát
để thu thập thêm thông tin về nguồn cung cấp gỗ tròn. Đây là vấn đề cần được thảo
luận bởi các tổ chức lâm nghiệp Việt Nam. Thư hai, nhu cầu thị trường phù hợp cho
các xưởng xẻ cũng cần
được phân tích, thúc đẩy. Điều này cần cách tiếp cận cục bộ
hoặc toàn ngành để thu thập thông tin cần thiết, và cuối cùng là thúc đẩy sự phát triển
của các cấu thành của công nghiệp chế biến là sấy gỗ và sản xuất đồ mộc.