Trường cao đẳng kĩ thuật y tế II.
I.ĐẠI CƯƠNG:
Kali giống như natri, mang điện tích dương. Nó là chất cân bằng của
natri và đóng vai trò căn bản trong quá trình phân phối nước trong cơ thể.
Trong cơ thể của người nặng 70kg chứa khoảng 140 kali, trong đó 90%
nằm trong tế bào và lượng kali ở dịch ngoại bào là rất ít. Nồng độ của nó
trong dịch tiêu hóa cao hơn trong huyết tương.
• Tăng Kali máu được định nghĩa khi nồng độ Kali máu trên 5,0 mmol/l
đây là vấn đề chuyển hóa đe dọa tính mạng do thận không đào thải
kali, suy giảm cơ thể chuyển kali từ máu vào tế bào, hoặc phối hợp cả
hai yếu tố này. Những yếu tố khởi phát: thuốc ảnh hưởng đến thăng
bằng kali, bệnh lí và mất nước ở bệnh nhân thận do đái tháo đường,
tăng kali máu do hội chứng giảm aldosteron máu giảm rinine.
• Toan- kiềm: toan làm kali ra, kiềm làm kali vào trong tế bào.
• Kali là một cation chủ lực trong các chất điện giải của tế bào, giúp cho
sự co bóp của cơ vân và cơ trơn được dễ dàng, bao gồm cả sự co bóp
của cơ tim. Kali đóng vai trò quan trọng trong dẫn truyền xung động
thần kinh, thăng bằng kiềm toan, hoạt động của các enzyme và chức
Bộ môn gây mê – hôi sức.
1
Trường cao đẳng kĩ thuật y tế II.
năng của màng tế bào. Do khoảng giới hạn bình thường của kali máu
rất hẹp (3,5 đến 5 mEq/L), chỉ cần một lệch hướng tăng hay giảm nhẹ
cũng có thể dẫn đến những hậu quả lâm sàng nghiêm trọng.
• Kali chủ yếu là nội bào, nồng độ K khoảng 150mmol/L của H
2
O nội
bào so với khoảng 5 mmol/L ngoài tế bào ( trong huyết tương). Do đó
để duy trì được nồng độ này, cơ thể chúng ta dựa rất nhiều vào kênh
vận chuyển 3 ion Na ra khỏi tế bào cho mỗi 2 ion K vào trong tế bào.
giải cơ vân, tán huyết, hoại tử
bướu, phỏng, phẩu thuật lớn, xuất
Bộ môn gây mê – hôi sức.
2
Trường cao đẳng kĩ thuật y tế II.
huyết tiêu hoá…
3. Tăng K
+
máu giả hiệu.
- K
+
phóng thích từ tế bào do mẫu máu tăng bạch cầu hoặc tăng tiểu cầu, tiêu
huyết do lấy máu bằng kim nhỏ, buột garo quá chặt…
4. Giảm bài tiết của thận:
-Suy thận dạng thiểu niệu cấp hay mãn.
-Giảm cung cấp Na
+
ở ống thận xa.
-Tổng thương hệ renin-angiotensin.
-Giảm sản xuất aldosterone thứ phát.
-Ức chế sự bài tiết K
+
ở ống thận.
III.CHẨN ĐOÁN:
- Lâm sàng biểu hiện quan trọng nhất là tim và thần kinh ngoại biên.
- Lên tế bào cơ tim: tăng kali máu nặng có thể gây rối lọan nhịp tim:
nhịp tim chậm, ngọai tâm thu thất, nhịp nhanh thất và ngưng tim,
- Lên tế bào cơ khác: Tăng kali máu nặng có thể gây liệt chi (như hạ
kali máu), liệt có thể nặng gây liệt cơ hô hấp,
Bộ môn gây mê – hôi sức.
thấy thay đổi ECG sau 5-10 phút.
- Truyền tĩnh mạch Insulin là đường nhanh nhất để đưa kali vào trong
tế bào. Tiêm mạch 10 đơn vị insulin pha trong 50ml glucose 50%, sau
đó truyền tĩnh mạch glucose 5% 100ml/h để phòng ngừa biến chứng
hạ đường
huyết do
insulin gây
ra.
Bộ môn gây mê – hôi sức.
5
Trường cao đẳng kĩ thuật y tế II.
- Nếu bn đã có tăng đường huyết từ trước, với glycemie ≥ 300mg.dL,
có thể dùng insulin đơn độc . Không nên chỉ dùng glucose đơn độc,
không kèm insulin trên bn bài tiết insulin không đủ, vì tình trạng tăng
đường huyết có thể gây tăng kali từng đợt.
- Truyền insulin có thể làm giảm từ 0,5-1,5mMol/l kali trong 15-30
phút và tình trạng giảm kali này có thể kéo dài nhiều giờ
- Dùng thuốc kích thích beta: phun khí dung albuterol 20mg (pha với
4ml nước cất) trong 10 phút, thời gian bắt đầu có tác dụng sau 30
phút. Liều sử dụng trong tăng kali cao hơn nhiều so với điều trị hen.
- Truyền sodium bicarbonate: Dùng 3 ống tương đương 134 mMol/l.
- Natribicarbonate, đẳng trương. Do natribicarnate chỉ có tác dụng sau
3-4h, nên sẽ ưu tiên chọn trên bn có kèm toan chuyển hóa nặng, khi
HCO
3
dưới 10mMol/l. Bn suy thận mạn giai đọan cuối, việc truyền
NaHCO
3
dể gây quá tải.
- Lợi tiểu mất kali ( furosemide, hoặc thiazide nếu bn chưa suy thận
Bộ môn gây mê – hôi sức.
8
Trường cao đẳng kĩ thuật y tế II.
Bộ môn gây mê – hôi sức.
9