Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính - MS7 " - Pdf 15


1

Ministry of Agriculture & Rural Development

Báo cáo tiến độ dự án
MS7: Báo cáo Nghiên cứu / Kỹ thuật
029/05VIE
Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều
ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính

Renkang Peng, Keith Christian, Lã Phạm Lân và Nguyễn Thanh Bình


61 8 89466706
Chứ́c vụ
Giáo sư
Fax:
61 8 89466847
Cơ quan
Đại học Charles Darwin
Email:
[email protected]

Phía Úc: Quản lý
Họ và tên
Jenny Carter
Điện thoại:
61 08 89466708
Chứ́c vụ
Trưởng Phòng, Phòng Quản lý
Nghiên cứu
Fax:
61 8 89467199
Cơ quan
Đại học Charles Darwin
Email:
[email protected]

Phía Việt Nam
Họ và tên
Lã Phạm Lân
Điện thoại:
84 0913829560

ng tự như việc sử
dụng thuốc trừ sâu.
• Năng suất điều hạt tương đương giữa hai lô IPM và lô nông dân, nhưng chất lượng
hạt điều tốt hơn trong lô IPM do tác động thu thập thức ăn của kiến vàng.
• Rệp sáp giả và rầy mềm được đánh giá là côn trùng gây hại thứ yếu, không có khả
năng trở thành những loài gây hại quan trọng vì chúng bị kiể
m soát bởi kiến vàng.
Đã xác định được 12 loài thiên địch của rầy mềm và 9 loài thiên địch của rệp sáp
giả. Những loài thiên địch này được tìm thấy với tần suất cao hơn trong lô IPM,
cho thấy rằng khi kiến vàng hiện diện, đồng thời với sự xuất hiện của rệp giả và rầy
mềm, nhưng các loài bắt mồi ăn thịt và ký sinh cũng hiện hiện, vì vậy, sự thiệt hạ
i
cho cây điều là rất thấp.
• Vấn đề then chốt để quản lý thành công lô IPM là duy trì quần thể kiến vàng cao và
ổn định. Sự tranh chấp vùng ranh giới giữa các đàn kiến, sự canh tranh giữa kiến
vàng và các loài kiến khác được xác định là rất quan trọng đối với sự suy giảm
quần thể kiến vàng. Những giải pháp về sự canh tranh này đã được đề nghị và thảo
luận.

Kế
t quả thu thập từ những quan sát đồng ruộng, thí nghiệm trong phòng, và nuôi nhân cho
thấy
• Thuốc ít độc (Abamectin) kiểm soát hữu hiệu bọ trĩ, ít ảnh hưởng đến kiến vàng, và
không độc hại đối với kiến vàng.
• Đặc điểm sinh thái và sinh học của sâu đục cành và sâu đục than và rễ điều đang
được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Căn cứ vào hành vi đẻ trứng, triệu chứng gây
h
ại ban đầu và vòng đời của sâu, kế hoạch quản lý đối với mỗi loài đã được khuyến
cáo, bao gồm những việc như kiểm tra thường xuyên, loại bỏ các ấu trùng dựa vào
triệu chứng gây hại ban đầu, và tiêm thuốc trừ sâu vào lỗ đục.

ển mạnh khỏe, và
(5) Thu thập dữ liệu kỹ thuật để soạn thảo chương trình IPM cây điều và sổ tay
hướng dẫn.
Bản báo cáo này tóm tắt về hiệu quả kiểm soát sâu hại chính trên cây điều của kiến
vàng, bao gồm các dữ liệu về sự thiệt hại trên các đọt non, trái và hạt, tác động của kiến
vàng đến năng suất điều và chất lượng hạt
điều, trong đó có so sánh giữa lô do nông dân
quản lý và lô IPM có thả kiến vàng, và giữa các cây có kiến và lô không có kiến vàng.
Một số vấn đề đã được xác định trong giai đoạn này của dự án:
(1) Sâu đục cành (Rhytidodera integra) và sâu đục thân (Plocaederus obesus) đã
đục vào trong cành và thân cây, triệu chứng thường thấy là các cành bị khô chết hoặc cây
bị chết. Kết quả quan sát cho thấy rằng mặc dù kiến vàng có khả năng săn bắt hoặc xua
đ
uổi con trưởng thành nhưng chúng không có khả năng kiểm soát trùng một khi đã đục vào
trong cành hoặc thân cây điều. Để đề xuất được biện pháp quản lý sâu đục thân mà không
ảnh hưởng xấu đến kiến vàng, cần có được những dữ liệu về sinh học và sinh thái học của
hai loài này, tuy nhiên, thông tin này hiện không có đủ.
(2) Bọ trĩ (Rhynchothrips sp. and Scirtothrips dorsalis) gây hại trên hoa, trái và hạt
điều không phải là sâu hại chính trong lô có xử lý thuốc trừ sâu bở
i vì thuốc trừ sâu đuợc
sử dụng để kiểm soát bọ xít muỗi (Helopeltis antonii và H. theivora), bọ đục nõn
(Alcidodes sp.), và sâu ăn hoa, cũng có thể kiểm soát được bọ trĩ. Tuy nhiên, việc sử dụng
kiến vàng lại không tương thích với việc sử dụng thuốc trừ sâu độc hại. Bọ trĩ gây hại trên
trái và hạt điều đang gia tăng ở vài nơi trồng đ
iều. Kiến vàng có thể làm giảm quần thể của
bọ trĩ nhưng không thể làm giảm sự gây hại của bọ trĩ xuống ngưỡng thiệt hại kinh tế. Vì
vậy, cần thiết phải tìm được loại thuốc trừ sâu ít độc có khả năng kiểm soát được bọ trĩ
nhưng không gây hại cho kiến vàng.
(3) Kiến vàng có mối quan hệ hỗ tương với rầy mềm (
Toxoptera sp. và Aphis

cây). Xung quanh lô IPM có một hàng cây bảo vệ. Để kiểm soát côn trùng, thuốc trừ sâu
được sử dụng trong lô do nông dân quản lý, và được phun theo kinh nghiệm của nông dân.
Lô IPM, có thả kiến vàng, và do cán bộ kỹ thuật quản lý. Những kỹ thuật canh tác thông
thường khác như làm cỏ, xén tỉa, bón phân, và phun thuốc trừ nấm bệnh được thực hiện
giống nhau trong cả 2 lô, và do người chủ vườn thực hiện.
Vườn điều có lịch sử là đã sử dụng thuốc trừ sâu, nên trong vườn không có kiến
vàng trước khi vườn được dùng làm thí điểm. Để thiết lập và quản lý các đàn kiến trong
vườn, công việc được thực hiện qua 5 bước:
(1) Xác định loài kiến chiếm ưu thế trên từng cây trong vườn: hầu hết các cây trong
vườn đề
u bị chiếm ngự bởi loài kiến điên (Anoplolepis gracilipes), là loài kiến cạnh
tranh với kiến vàng;
(2) Để giảm quần thể của kiến điên, thuốc tiếp xúc (Motox
®
) được phun vào dưới gốc
cây, các lá khô được cào ra xa gốc để lộ ra các tổ kiến;
(3) Một tuần sau đó, các cây trong vườn được chia thành nhóm 5-10 cây và được nối
liền với nhau bằng dây nếu các cành điều không giao tán với nhau, để chuẩn bị tiếp
nhận các đàn kiến. Để tránh sự đánh nhau giữa các đàn kiến, mỗi nhóm cây chỉ tiếp
nhận một đàn kiến;
(4) Tổng số 10
đàn kiến vàng đã được thả trong vườn với mật độ từ 4-5 tổ/cây trong
tháng 11/2006; và
(5) Cá tươi xay nhuyễn được cung cấp cho các đàn kiến trong thời gian cây ngủ nghỉ.

6
Kể từ 2 tuần sau khi thả kiến, sự hoạt động của các đàn kiến được quan sát định kỳ.
Sự hoạt động của kiến vàng được diễn tả bằng tỷ lệ (%) số cành chính có kiến vàng di
chuyển ((số cành chính có kiến vàng di chuyển / tổng số cành chính của cây) x 100). Đàn
kiến vàng trên cây được đánh giá là “Phong phú” nếu có trên 50% số cành có đường đi của

sâu được phun để bảo đảm kiến vàng không còn
hiện diện trong lô nông dân. Trong lô IPM, sau khi các đàn kiến có sẵn gia nhập đàn cùng
với những tổ kiến được chuyển đến từ các cây có kiến trong lô nông dân, thì tất cả các cây
đều có kiến vàng. Ngoài kiến vàng, các loài kiến khác như kiến ma (Tapinoma
melanocephalum
), kiến crematogaster nhỏ (Crematogaster sp), và một loài kiến đen (chưa
xác định tên) cũng có trong vườn, nhưng chúng không bị loại bỏ vì không cạnh tranh với
với kiến vàng. Thí nghiệm bắt đầu trong tháng 9/2007. Các kỹ thuật canh tác, theo dõi đàn
kiến, điều tra định kỳ, đánh giá năng suất và chất lượng hạt được thực hiện tương tự như
vườn của ông Tỷ.
Vườn ông Bi
Vườn của ông Bi g
ồm 2 khu nằm gần nhau, mỗi khu rộng khoảng 1 ha. Khu 1 được
thực hiện trong thời gian từ tháng 9/2006- tháng 7/2007, vì sự trở ngại gây ra bởi chủ vườn
nên khu 2 được sử dụng từ tháng 9/2007 đến tháng 5/2008. Trong mỗi khu, 120 cây điều
cùng giống và cùng kích cỡ được chọn và chia làm 2 lô (lô nông dân, 60 cây, và lô IPM, 60
cây). Vườn đã được xử lý thuốc trừ sâu thường xuyên nên các cây trong vườn không có
kiến vàng cư ngụ, mà chỉ có kiến crematogaster làm tổ bằng đất, kiến ma, và kiến đen
(chưa xác định tên) chiếm cứ.
Trong năm 2006, để thiết lập đàn kiến vàng trong lô IPM, những loài kiến này được
bẫy với cá xay nhuyễn trộn với thuốc Regent
®
. Một tuần sau khi đặt bẫy, quần thể các loài

7
kiến này giảm xuống rõ rệt, và kiến vàng được thả vào lô IPM vào đầu tháng 12/2006.
Việc thiết kế đồng ruộng, quản lý đồng ruộng, theo dõi đàn kiến, điều tra định kỳ, đánh giá
năng suất và chất lượng hạt được thực hiện tương tự như vườn của ông Tỷ.
Kết quả bất ngờ thu thập được từ tháng 12/2006-7/2007 cho thấy năng suất hạ
t và

Vườn có 60 cây trồng từ hạt (14 cây có tuổi trên 10 năm, và 46 cây khoảng 3 năm
tuổi). Vườn được bao quanh bằng 2 hàng cây vú sữa, và khoai mỳ. Vườn không sử dụng
thuốc trừ sâu, trong vườn kiến vàng có nhiều trên các cây điều lớn và cây mahogany, và
phân tán đến các cây điề
u nhỏ hơn khi chúng tôi đến điều tra trong tháng 7/2006. Vì những
cây điều lớn quá cao để có thể đánh giá đúng sự phá hại của sâu, cuộc điều tra chỉ tập trung
vào 46 cây điều có 3 năm tuổi. Ở mỗi cuộc điều tra, tất cả 46 cây đều được quan sát, chúng
tôi ghi nhận loài kiến ưu thế trên từng cây, tổng số đọt non, phác hoa, số đọt non / phát hoa
bị hại, và tính tỷ lệ thi
ệt hại. Đã thực hiện 3 cuộc điều tra: 7/2006, 12/2006, và 4/2007.
Vườn ông Be
Hai cuộc điều tra đã được thực hiện ở vài phần trong vườn. Cuộc điều tra lần 1 thực
hiện trong tháng 7/2006 trên diện tích 3 ha. Các cây trong diện tích này có tuổi 20 năm,
một số cây trong vườn khoảng 3 năm tuổi (18 cây) phân bố rải rác trong vườn nhằm thay
thế các các đã chết. Thuốc trừ sâu được sử dụng không thường xuyên (kho
ảng 1 hoặc 2 lần
trong năm), vì vậy, trong vườn có kiến vàng cư ngụ trên các cây lớn và đã phát tán đến một
số cây nhỏ. Bởi vì các cây lớn quá cao để đánh giá sự thiệt hại của sâu, cuộc điều tra thực
hiện trên 18 cây nhỏ.

8
Cuộc điều tra thứ 2, vào tháng 8/2007, được thực hiện trên một phần vườn khác có
kết hợp với nội dung thực tập đồng ruộng của lớp TOT. Phần vườn này rộng 1 ha, các cây
vào khoảng 4 năm tuổi. Vườn được bao quanh bởi các cây lớn hơn khoảng 10 năm tuổi.
Trong vườn có một số đàn cư ngụ trên các cây lớn và đã phát tán sang các cây nhỏ. Tổng
số cây 50 cây đã được quan sát.
Phương pháp quan sát tương tự như phương pháp đã thực hiện trên vườn ông
Quang.
Vườn ông Sáu
Đây là vườn bị bỏ hoang, có vào khoảng 53 cây không biết tuổi cây. Trong vườn có

Quần thể kiến vàng trong lô IPM cao và ổn định trong thời gian 12/2006-7/2007,
độ phong phú trung bình đạt trên 80% (Hình 1). Tuy nhiên, từ tháng 8/2007-1/2008, độ
phong phú của quần thể đàn kiến giảm từ 70% xuống 28% (Hình 1), là do sự cạnh tranh
giữa các đàn kiến.

9
0
20
40
60
80
100
120
140
23
Jan
31
Jan
7
Feb
23
Feb
7
Mar
23
Mar
1
Apr
7
Apr

Nông dân 86.6 + 28.3 12.0
IPM 102.3 + 39.7 18.0
Biến thiên 2 chiều Friedman X
r
2
=3.600; df = 1; P = 0.058

Theo dữ liệu điều tra, những côn trùng hại chính được ghi nhận trong lô IPM và lô
nông dân là bọ xít muỗi, bọ đục nõn, sâu đục lòn lá (Acrocercops syngramma), rầy mềm,
sâu đục trái (Nephopteryx sp.), sâu cuốn lá và sâu đục cành. Biến động quần thể của bọ xít
muỗi, bọ đục nõn, sâu đục lòn lá, và rầy mềm được trình bày trên các hình 2, 3, 4, và 5,
theo thứ tự.
0
10
20
30
40
22
Dec
23
Jan
31
Jan
7
Feb
23
Feb
7
Mar
23

10
0
5
10
15
20
25
22
Dec
23
Jan
31
Jan
7
Feb
23
Feb
7
Mar
23
Mar
1
Apr
7
Apr
23
Apr
|-06-| 2007 |-2008-|

Hình 4. Tỷ lệ chồi non bị hại do sâu đục lòn lá trong lô nông dân và lô IPM ở Bình Phước.
Việt Nam.
0
5
10
15
20
25
30
22
Dec
23
Jan
31
Jan
7
Feb
23
Feb
7


Trong giai đoạn từ trước ra hoa đến hình thành hạt (tháng 11 đến tháng 3), mức độ
thiệt hại của các chồi non, phác hoa, hạt non do bọ xít muỗi, bọ đục nõn, sâu đục lòn lá, rầy
mềm và sâu cuốn lá tương đương nhau giữa hai lô nông dân và IPM (P > 0.05; Hình 2-5;
Bảng 2). Tuy nhiên, số hạt bị hại do sâu đục trái và hạt trong lô IPM thấp hơn so v
ới lô
nông dân (P = 0,018; Bảng 2)
0
1
2
3
4
5
22
Dec
23
Jan
31
Jan
7
Feb
23
Feb
7
Mar
23
Mar
1
Apr
7

Loài sâu hại Nghiệm thức Tỷ lệ chồi non bị hại
(trung bình/cây +
SD)
Xếp hạng Thống kê
Nông dân 6,5 + 3,8 14,0 Bọ xít muỗi
IPM 6,7 +
3,2 16,0
X
r
2
= 0,400;
df = 1; P = 0,527
Nông dân 8,3 + 7,0 14,0 Bọ đục nõn
IPM 7,9 +
5,1 16,0
X
r
2
= 0,400;
df = 1; P = 0,527
Nông dân 1,8 + 1,6 15,5 Sâu đục lòn lá
IPM 1,8 +
1,5 14,5
X
r
2
= 0,111;
df = 1; P = 0,739
Nông dân 11,5 + 11,9 14,5 Rầy mềm
IPM 12,4 +

Xếp hạng Thống kê
Nông dân 6,5 + 11,2 16,0 Bọ xít muỗi
IPM 2,4 +
4,3 8,0
X
r
2
= 8,000;
df = 1; P = 0,005
Nông dân 5,0 + 2,0 16,0 Bọ đục nõn
IPM 2,4 +
0,9 8,0
X
r
2
= 8,000;
df = 1; P = 0,005
Nông dân 1,2 + 1,0 15,0 Sâu đục lòn lá
IPM 0,5 +
0,3 9,0
X
r
2
= 4,500;
df = 1; P = 0,034
Nông dân 9,0 + 5,9 8,0 Rầy mềm
IPM 13,3 +
9,6 16,0
X
r

có kiến vàng) của điểm trình diễn Bình Phước. Việt Nam.
Lô (Nghiệm thức) Lượng hạt
(trung bình/cây +
SD)
Số cây Xếp hạng
Nông dân (sử dụng thuốc trừ sâu) 558.3 + 380.3 70 3200
IPM (sử dụng kiến vàng) 526.9 + 332.3 20 894
Phép thử U Mann-Whitney U = 7150500; df = 1; P = 0.880

Vườn điều Trung tâm Hưng Lộc

Hình 6 cho thấy chỉ số hoạt động của kiến vàng khoảng >60%, và quần thể kiến
phát triển ổn định trong giai đoạn ra hoa và kết trái (tháng 12/2007 – 2/2008). Hình 6. Diễn biến chỉ số hoạt
động của kiến vàng trong lô
IPM ở Trung tâm Hưng Lộc,
Đồng Nai, Việt Nam. Số chồi non của lô IPM nhiều hơn so với lô nông dân, nhưng sự khác biệ
t không có
ý nghĩa thống kê (Bảng 6).

Bảng 6. Số chồi non trên cây của lô nông dân và lô IPM tại điểm trình diễn ở Trung tâm
Hưng Lộc, Đồng Nai, Việt Nam.

nông dân và lô IPM của điểm trình diễn ở Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai, Việt Nam.
Biến thiên 2 chiều Friedman
Loài dịch hại Nghiệm thức Tỷ lệ chồi bị hại
(trung bình/cây +
SD)
Xếp hạng Thống kê
Nông dân 1,25 + 2,64 6 Bọ xít muỗi
IPM 2,49 +
3,40 9
X
r
2
= 3,000;
df = 1; P = 0,083
Nông dân 0,64 +
1,79 5273,5 Bọ đục nõn *
IPM 0,26 +
1,06 5166,5
U = 2788,5;
df = 1; P = 0,135
Nông dân 3,13 +
3,85 7 Sâu cuốn lá
IPM 3,42 +
3,93 8
X
r
2
= 0,333;
df = 1; P = 0,564
Nông dân 2,75 +

của vườn trình diễn ở Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai. Việt Nam.
Lô (Nghiệm thức) Số lượng hạt
(trung bình/cây +
SD)
Xếp hạng
Nông dân (sử dụng thuốc trừ sâu) 179,2 + 104,7 17
IPM (sử dụng kiến vàng) 177,9 + 143,9 13
Biến thiên 2 chiều Friedman X
r
2
= 1,600; df = 1; P = 0,206 Vườn điều ông Bi
Kết quả điều tra định kỳ cho thấy sâu hại thường gặp trong vườn gồm có bọ xít
muỗi, bọ đục nõn, sâu đục lòn lá, sâu cuốn lá, bọ trĩ, rầy mềm, sâu đục trái và sâu đục
cành. Về kỹ thuật canh tác, vườn được quản lý rất tốt; cỏ dại được phòng trừ tốt trong hai
lô nông dân và IPM (phun thuốc trừ cỏ hai lần, và làm cỏ tay một lần), thu
ốc trừ sâu được
phun 6 lần trong lô nông dân trong giai đoạn cây điều trước ra hoa, và hình thành hạt (cuối
tháng 10 – đầu tháng 3). Kết quả trong giai đoạn từ tháng 11/2006-tháng 7/2007 được tóm
tắt như sau:

14
(1) Mức độ hoạt động của đàn kiến trong lô IPM là thấp, < 40%,
(2) Trong giai đoạn trước ra hoa đến hình thành hạt (tháng 12 – 3), mức độ các chồi
non bị thiệt hại do các loài sâu hại chính trong lô IPM cao hơn so với lô nông dân;
(3) Năng suất và chất lượng hạt của lô IPM thấp hơn lô nông dân có ý nghĩa thống kê.

Vào cuối tháng 1/2008, kết quả về kiểm tra sâu hại định kỳ, quản lý đàn kiến, cùng


Để xác định sự cạnh tranh này, chúng tôi đã thực hiện hai việc; (1) phun dầu nhớt
quanh gố
c cây để ngăn cản kiến ma bò lên cây, (2) Bẫy kiến ma bằng cá xay nhuyễn trộn
với thuốc Regent
®
. Dầu nhớt chỉ có tác dụng trong khoảng 12 giờ. Bẫy cá xay nhuyễn rất
thu hút kiến ma, quần thể kiến ma giảm xuống đáng kể trong 3-4 ngày đầu. Tuy nhiên, bẫy
cũng thu hút rất nhiều ruồi, ruỗi ăn bẫy sẽ chết sau đó và rơi xuống đất hoặc trên các lá
cây. Vì quần thể kiến ma giảm xuống, kiến vàng bắt đầu hoạt động mạnh lên và thu thập
thức ăn ở các hoa và lá bánh t
ẻ. Chúng tôi thấy rằng nhiều xác ruồi chết được kiến vàng
mang về tổ. Hậu quả là quần thể kiến vàng giảm xuống nghiêm trọng trong 2 ngày sau đó,
và nhiều kiến vàng đã chết trong tổ vì nhiễm độc từ xác chết của ruồi. Độ phong phú của
đàn kiến đã giảm từ 65% đến dưới 15% trong vòng 2 tuần. Vì vậy, mức độ thiệt hại của
các chồi non trong lô IPM cao hơn nhiều so v
ới lô nông dân, năng suất và chất lượng hạt
trong năm 2008 của lô IPM thấp nhiều so với lô nông dân.
15

Điều tra dã ngoại bổ sung

Vườn điều của ông Quang
Ba cuộc điều tra quan sát được thực hiện trong năm 2006 và 2007 cho thấy bọ đục
nõn, bọ xít muỗi, sâu cuốn lá và sâu đục trái và hạt là những loại sâu hại phổ biến (Bảng
9). Mức độ thiệt hại trung bình do những loại sâu hại này khoảng 0,8 – 8,6% trên cây có
kiến, và khoảng 3,4 – 36,0% trên những cây không có kiến. Mức độ thiệt hại đối với mỗi

Có 17 2,2 +
3,7 268,0
U = 378,0;
df = 1; P = 0,002
Không 12 6,5 + 7,0 358,5 Bọ đục
nõn
Có 33 2,3 +
3,4 676,5
U = 280,5;
df = 1; P = 0,025
Không 12 3,4 + 4,2 375,5
Tháng
12/2006
Bọ xít
muỗi
Có 33 0,3 +
1,1 659,5
U = 297,5;
df = 1; P = 0,001
Không 19 18,2 + 15,7 532,0 Bọ đục
nõn
Có 25 8,6 +
12,0 458,0
U = 342,0;
df = 1; P = 0,013
Không 19 17,0 + 21,6 522,0 Bọ xít
muỗi
Có 25 2,5 +
6,8 468,0
U = 332,0;

Bảng 10. tỷ lệ chồi non bị gây hại do các loài côn trùng chính trên những cây có kiến vàng
và không có kiến vàng trong vườn ông Be, Đồng Nai. Việt Nam.
Mann-Whitney U test
Lần điều
tra
Loài
dịch
hại
Cây có loại
kiến
1

Số
cây
Tỷ lệ thiệt
hại
(%)
Rank sum Statistic
Không 10 26,2 + 14,0 134,0 Bọ đục
nõn
Kiến vàng 8 0,9 +
1,4 37,0
U = 79,0;
df = 1; P < 0,001
Không 10 24,3 + 17,2 129,0
Tháng
7/2006
Bọ xít
muỗi
Kiến vàng 8 1,4 +

Bảng 11. Tỷ lệ chồi non bị hại do những sâu hại chính trên những cây có kiến vàng và cây
không có kiến vàng ở vườn điều của ông Sau, Đồng Nai. Việt Nam.
Phép th
ử Mann-Whitney U Lần
điều tra
Loài dịch
hại
Cây có
kiến
Số
cây
Tỷ lệ thiệt hại
(%)

Xếp hạng Thống kê
Không 45 8,3 + 8,2 1321,0 Bọ đục
nõn
Kiến vàng 8 2,4 +
3,8 110,0
U = 286,0;
df = 1; P = 0,008
Không 45 5,5 + 4,7 1337,0
Tháng
7/2006
Bọ xít
muỗi
Kiến vàng 8 1,4 +
2,8 94,0
U = 302,0;
df = 1; P = 0,002

đục cành sau khi
được cạo bỏ lớp
chất thải

Bảng 12. Vòng đời của sâu đục cành.
Tháng
Giai
đoạn
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trưởng
thành
| |
Trứng | |
Sâu
non
| |
Nhộng | |

Trong cuộc điều tra bổ sung ở vườn điều của ông Sáu (Đồng Nai), tất cả các cây
đều bị sâu đục cành tấn công, nhưng những cây có kiến vàng cư ngụ bị thiệt hại nhẹ hơn là
những cây không có kiến vàng. Quan sát vào buổi chiều tối, chúng tôi thấy kiến vàng đã
săn đuổi trưởng thành cái từ những chồi còn tươi cho đến chồi đã khô.

Sâu đục thân và rễ
Cây điều có tuổi trên 10 n
ăm bị hại nhiều hơn những cây nhỏ hơn. Trong quan sát
của chúng tôi, nhộng sâu đục thân và rễ bị ký sinh bởi một loài nấm.

Bảng 13. Chu kỳ sinh hoạt của sâu đục thân – cành ở các tỉnh phía Nam.
Tháng
Giai
đoạn
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trưởng
thành
| |
Trứng | |
Sâu
non
| |
nhộng | | Chọn lựa thuốc hóa học kiểm soát bọ trĩ
Hai thí nghiệm diện hẹp được thực hiện cho thấy Abamectine phòng trừ hữu hiệu
bọ trĩ hơn hai loại Applaud và dầu DC Tron, và không gây hại cho kiến vàng vào 2 tuần
sau khi xử lý. 19
Thiên địch của rầy mềm và rệp sáp giả
Trong thí nghiệm nuôi, đã xác định được tổng số 12 loài thiên địch của rầy mềm và

so với những cây điều không có kiến vàng cư ngụ (Bảng 9 – 11). Sâu đục cành là một dịch
hại chính trong vườn trình diễn, tác hại của sâu trong vườn không được đánh giá, vì chúng
tôi chú trọng quan sát các chồi non, đọt non, trong khi đó, loài sâu hại này đục vào những
cành già. Tuy nhiên, điều tra bổ sung ở v
ườn điều của ông Sáu cho thấy rằng triệu chứng
thiệt hại thấp trên những cây có kiến vàng cư ngụ. Cũng vậy, theo quan sát vào buổi chiều
tối, chúng tôi thấy rằng kiến vàng săn bắt trưởng thành cái của sâu đục cành từ những chồi
bánh tẻ cho đến những chồi khô. Điều này cho thấy kiến vàng có thể săn bắt hoặc ngăn cản
trưởng thành sâu đục cành. Căn cứ
vào tập tính gây hại của ấu trùng, và sự đẻ trứng của
trưởng thành, để kiểm soát loài sâu hại này, một số biện pháp sẽ được áp dụng, ngoài kiến
vàng (xem bên dưới).
Kiến vàng làm cho hạt tốt hơn, và năng suất hạt tương đương với việc sử dụng
thuốc trừ sâu. Với sự kiểm soát hữu hiệu của kiến vàng đối với những sâu hại này, những
cây đượ
c kiến vàng bảo vệ có nhiều chồi hơn hoặc tương đương với những cây được bảo
vệ bằng thuốc trừ sâu (Bảng 1 và 6). Với sự phong phú của kiến vàng, năng suất hạt của lô
IPM tương đương với lô nông dân (Bảng 5 và 8), nhưng chất lượng hạt của lô IPM cao hơn
chất lượng hạt của lô nông dân. Các hạt điều của lô IPM sạch hơn, và sáng màu hơn so với
các h
ạt từ lô nông dân. Vào giai đoạn hình thành hạt, các hạt non liên tục tiết ra chất mật

20
đường, nhất là ở phần rốn của hạt, là thức ăn ưa thích của kiến vàng. Mật đường này được
kiến vàng tiêu thụ, vì vậy cây trong lô IPM đã cho ra những sản phẩm hạt sạch và sáng.
Trong lô sử dụng thuốc trừ sâu, chất mật đường tích tụ tại rốn hạt, tạo điều kiện cho nấm
tạp phát triển tạo nên các vết đen trên hạt, nên hạt đi
ều trong lô nông dân có nhiều muội
đen, và sắc đục. Mặc dù chúng tôi đã không đo lường sự tồn dư của thuốc trừ sâu trên hạt,
mức độ tồn dư của thuốc trừ sâu trên hạt của lô IPM chắc chắn sẽ thấp hơn lô nông dân vì

cỏ, nhất là vào giai đoạn cây điều ra hoa và tạo hạt, nên không có loại cây nào khác cho
kiến ma sinh sống, ngoài cây điều. Để tồn tại, kiế
n ma buộc phải tìm thức ăn trên cây điều,
mà hậu quả là chiến tranh nghiêm trọng về thức ăn với kiến vàng đã xảy ra. Tuy nhiên, tại
Trung tâm Hưng Lộc, cách đó 25km, kiến ma hiện diện nhiều trong lô IPM nhưng không
cạnh tranh với kiến vàng. Kiến vàng đã rất hoạt động và bình yên thu thập thức ăn ở phác
hoa và hạt non. Kiến ma hầu như không hiện diện trên cây điều có kiến vàng, nhưng r
ất
hoạt động thu lượm thức ăn cỏ dại, cỏ hòa bản, và các chồi non của các gốc điều đã xén tỉa
có độ cao khoảng 30 – 40 cm, ở giữa các hàng cây. Điều này cho thấy cỏ dại là nguồn cung
cấp thức ăn tạm thời cho kiến ma. Vì vậy, để sử dụng kiến vàng trong vườn điều, nhất là ở
những nơi có nhiều kiến ma, cỏ dạ
i trong vườn cần được giữ khoảng 30 – 40 cm chiều cao,
và được quản lý bằng cách cắt ngắn thay vì dùng thuốc trừ cỏ tiêu diệt.
Dịch hại thứ yếu là rầy mềm và rệp sáp giả không thể trở thành dịch hại chính trong
vườn có sử dụng kiến vàng. Kiến vàng được biết là có mối quan hệ hỗ tương với vài loài
dịch hại thuộc bộ Cánh đều, như rệp sáp giả, rầy m
ềm và rệp sáp. Vì chất thải của những
loài thường có chứa chất đường, và là thức ăn ưa thích của kiến vàng. Để có được dung
dịch chứa nhiều chất đường, kiến vàng đã nuôi các loại côn trùng này. Vì vậy, vấn đề các
loài rệp sáp giả, rầy mềm, mà hiện tại là côn trùng thứ yếu, sẽ có thể hoặc không trở thành

21
côn trùng gây hại chính sau khi các loại côn trùng hại chính đã bị kiến vàng kiểm soát là
một điều đáng quan tâm. Quan sát định kỳ của chúng tôi thấy rằng, mức độ các chồi non bị
tấn công bởi rầy mềm hoặc rệp sáp giả tương đương nhau giữa hai lô IPM và nông dân tại
vườn điều của ông Tỷ và vườn điều Trung tâm Hưng Lộc trong giai đoạn cây điều ra hoa
và kết trái (Bảng 2 và 7). Thí nghi
ệm trong phòng và nuôi sâu, cho thấy đã có ít nhất 20
loài thiên địch bắt mồi và ký sinh của rầy mềm và rệp sáp giả được phát hiện (Bảng 14).

cơ bản (2-3 năm tuổi) những chồi mới bị hại (Hình 7) có thể cắt bỏ
, công việc này kết hợp
với việc xén tỉa thường kỳ. Những cành đã xén tỉa cần được đem ra khỏi vườn để làm phân
xanh hoặc chôn sâu trong đất. Đối với cây điều giai đoạn kinh doanh, thường xuyên bị tái
nhiễm sâu đục cành, ngoài việc xén tỉa các chồi bị hại, những cành bị nặng cũng cần được
loại bỏ. Đối với những cành có xuất hiện những v
ết nhựa chảy màu nâu đậm ở những
khoảng cách đều nhau dọc theo cành chính (Hình 7), cần định vị những vết nhựa tiết ra ở
phía dưới thấp, cạo bỏ lớp nhựa, và bơm thuốc BT hoặc loại thuốc trừ sâu tiếp xúc vào lỗ
đục trong cành, và bịt lỗ đục bằng miếng bông có tẩm với cùng loại thuốc đã bơm vào lỗ.
Phương pháp này đã được áp dụng trong vườn ông Bi.
Tháng 7 là thời điểm tốt nhất để kiểm soát sâu đục thân và rễ. Căn cứ vào hành vi
đẻ trứng của trưởng thành, triệu chứng ban đầu (Hình 8) có thể xác định dễ dàng trên thân
cây trong khoảng từ gốc cây đến 1 m chiều cao, ấu trùng có thể tìm thấy dể dàng và giết
bằng dao nhỏ (Hình 8). Đây là biện pháp hữu hiệu bảo vệ cây non đối với sâu đục thân và
rễ. Đối với vườn điều già hơ
n (> 10 năm tuổi), vì trưởng thành của sâu đục thân và rễ ưa
thích đẻ trứng trên cây đã nhiễm, những cây đã bị nhiễm nặng hoặc cành chính bị nhiễm
nặng cần được cắt bỏ đem ra khỏi vườn để giảm hành động đẻ trứng của trưởng thành. Khi
các cành đã khô vửa đủ, cần đốt đi để giết chết các trứng và ấu trùng còn lại trong cành.

22
Sơn trắng gốc cây khoảng 1m chiều cao cũng làm giảm sự đẻ trứng của trưởnng thành.
Điều rõ ràng là những cây bị nhiễm trung bình hoặc nặng là không thể cứu chữa được, vì
vậy, việc kiểm soát vào giai đoạn đầu của sự xâm nhiễm là thời điểm mang tính quyết
định. Những cây bị tái nhiễm từ 2-3 năm phải được tiêm BT hoặc loại thuốc tiếp xúc vào
l
ỗ đục, sau khi đã loại bỏ phần vỏ cây cùng với dịch nhựa cây tiết ra trong quá trình cây bị
đục. Lỗ đục được bịt lại bằng bông gòn có tẩm carbon disulfide, naphthalene và creosote.
Cuối cùng, vết thương có thể được trám lại bằng đất sét hoặc phân trâu bò.

non (trong mùa
mưa)
Tháng 6
– tháng
9
□ Theo dõi và kiểm tra đàn kiến cho hoạt động tốt (xem chi tiết phần
7.2.1.5);

□ Kiểm soát sâu đục cành và sâu đục thân (4.9, 4.10);
□ Xén tỉa (3.5.1.1);
□ Bón phân (3.5.1.2);

Làm cỏ (3.5.1.3);
□ Làm phân xanh hoặc che phủ đất
(3.3.2 và 3.5.1.3);

□ Xen canh (3.5.1.3
)
;
□ Trồng dặm cây nhỏ, nếu cần (3.5.1.5); và

Nhân giống, nếu cần
.
Giai đoạn trước
ra hoa (bắt đầu
mùa khô)
Tháng 9
– giữa
tháng 10
□ Quản lý đàn kiến vàng để kiểm soát tốt sâu hại;

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status