Ministry of Agriculture & Rural Development
B ÁO C ÁO D Ự ÁN CARD
027/06/VIE
TÀI LIỆU CHÍNH SÁCH: Nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm
trong lĩnh vựng công nghiệp rừng Việt Nam.
byPeter Vinden, Philip Blackwell and Pham Duc Chien
Tháng 6, 2010
2
MỤC LỤC
Peter Vinden, Phillip Blackwell và Pham Duc Chien
1.0 Tổng quan về nhu cầu đào tạo
Kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát về tỷ lệ và trình độ được đào tạo của những người vận hành các xưởng
cưa nhỏ vùng nông thôn cho thấy có một số vấn đề nổi cộm. Thứ nhất là trình độ văn hoá
của ngành công nghiệp này khá hạn chế, thứ hai là vì một số xưởng xẻ chỉ ra rằng chất
lượng đào tạo không đảm bảo, và ba là vì m
ột số xưởng xẻ, doanh nghiệp cho rằng đào
tạo hiện tại không phù hợp với nhu cầu của họ. Ở mặt tích cực có tới 73% các cơ sở được
phỏng vấn cho biết họ rất quan tâm tới lĩnh vực đào tạo.
Yêu cầu về đào tạo
Khảo sát về quan điểm đối với đào tạo
Bảng 1 tóm tắt quan điể
m về đào tạo hiện tại trong lĩnh vực chế biến gỗ. Số liệu được
tổng hợp cho các vùng của cả nước (ví dụ ở Miền Bắc, Trung, Nam).
Bảng 1. Khảo sát về mức độ được đào tạo ở các cơ sở cưa xẻ
%.
Đội ngũ đã được đào tạo 13
Các cơ sở xẻ mong muốn được đào tạo 73
Các cơ sở xẻ chỉ ra rằng chất lượng đào tạo hiện tại đang có vấn đề 53
Các cơ sở xẻ chỉ ra rằng đào tạo không phù hợp với nhu cầu của họ 63
Bảng 1 chỉ ra một điều rõ ràng là rất ít các thành viên của các xưởng xẻ được đào tạo, tập
Chủ
đề %
Sản xuất đồ mộc 13.4
Mài cưa 12.2
Thực hành xẻ 11.8
Thị trường 11.5
Quản lý doanh nghiệp 9.1
Sấy bằng không khí (hong phơi) 9.1
Bảo quản 8.7
Thiết bị 8.7
Sấy cưỡng bức 7.5
Cơ lý gỗ 4.7
An toàn lao động 4.0
Sơ đồ xẻ 3.2
Chủ các xưởng cưa xác định sản xuất đồ mộc là các ưu tiên hàng đầu, sau đó tới kỹ thuật
mài cưa, thực hành xẻ và thị trường. Chúng tôi tin rằng điều này nó lên sự quan tâm của
một số các chủ xưởng xẻ, những người đang cố gắng có thêm thu nhập cho các xưởng xẻ
của họ, thông qua việc cải thiện kỹ năng; cách thưc tiếp cận thị tr
ường để có thể bán hàng
tốt hơn, và cách thức mài cưa tốt hơn cũng như các kỹ năng vận hành cưa xẻ để hoạt
động được hiệu quả hơn.
Các xưởng xẻ cũng rất chú ý tới các kỹ năng về quản lý doanh nghiệp, sấy (hong phơi và
sau đó là sấy cưỡng bức), bảo quản lâm sản và bảo dưỡng thiết bị. 5
Kiến thức cơ bản về gỗ, một nguyên liệu thô và sức khoẻ và an toàn lao động được xếp
Sử dụng tốt hơn gỗ rừng trồng keo và bạch đàn
Mặc dù chất lượng gỗ tròn keo hiện tại khá thấp, gỗ keo đã rất thành công trong thị
trường nội địa để đóng đồ mộc và ván sàn. Chất lượng nguyên liệu thô trong tương lai
được kỳ vọng là sẽ được cải thiện nhi
ều. Lượng gỗ khai thác được cũng được hy vọng là
tăng lên nhiều. Đồ mộc là sản phẩm có giá trị cao nhất trong các sản phẩm sử dụng gỗ xẻ.
Tuy nhiên, chất lượng đồ mộc phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng chế biến, ví dụ gỗ xẻ
được xử lý tốt (như được sấy), thiết kế, các hoạt động sản xuất các thành phần và lắ
p
ghép, và kỹ thuật tạo bề mặt ví dụ quét sơn. Phát triển thương mại
Phân tích thương mại cho đồ mộc và xuất khẩu đồ mộc của Việt Nam cho thấy thương
mại đã phát triển vượt bậc trong vòng 5 năm qua, và kết quả là Việt Nam là một trong 4
6
nước xuất khẩu đồ mộc lớn nhất trên thế giới. Xuất khẩu đồ mộc dựa vào gỗ tròn nhập
khẩu từ rất nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các chuyến viếng thăm các nhà
máy sản xuất đồ mộc hiện đại ở Miền Trung và Miền Nam Việt Nam chỉ ra rằng các nhà
máy này tập trung vào các thị trường ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Gỗ tròn nhập khẩu để
sản
xuất đồ mộc này có chất lượng rất cao và các loài (ví dụ Sồi Châu Âu, hồ đào Bắc Mỹ và
rất nhiều lòai cây gỗ ở Châu Phi, Đông Nam Á và Nam Mỹ). Tuy nhiên, đào tạo kỹ thuật
đòi hỏi bởi việc sản xuất sử dụng công nghệ cao cũng tương tự như các ngành công
nghiệp nông thôn với công nghệ thấp.
Thị trường mục tiêu cho đào tạo
Tính kinh tế của vi
7
Đào tạo kỹ thuật và đào tạo quản lý doanh nghiệp
Sự ưu tiên cho quản lý doanh nghiệp bao gồm thị trường và quản lý kinh doanh. Không
mục nào ở đây được được dự án thực hiện vì trong quá trình xây dựng dự án một vấn đề
xuyên suất là việc tăng cường hiểu biết về các yêu cầu kỹ thuật cho chế biến gỗ. Tuy
nhiên, với giả thiết là đòi hỏi vớ
i các kỹ năng và kiến thức liên quan tới quản lý doanh
nghiệp, một chương trình sẽ được xây dựng các nguyên lý cơ bản về quản lý doanh
nghiệp. Các chủ đề có thể bao gồm:
• Công nghệ thông tin và truyền thông.
• Quản lý dự án.
• Lãnh đạo và làm việc theo nhóm.
• Chất lượng dịch vụ.
• Sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn lao động.
• Quản lý nhân lực
• Qu
ản lý tài chính.
• Thị trường lâm sản
Yêu cầu về kỹ năng
Yêu cầu về kỹ năng trong lĩnh vực công nghiệp rừng Việt Nam sẽ thay đổi nhiểu trong
vòng 10 năm tới mà mức thay đổi này có thể hơn sự thay đổi diễn ra trong suốt 100 năm
qua. Một mức độ quan tâm lớn hơn là nhu cầu cho sự phát triển các kỹ năng, ví dụ các kỹ
năng về cách thức, t
ại sao, nơi nào; kỹ năng về tri thức, ví dụ lãnh đạo nhóm, kiểm soat
sự thay đổi, kỹ năng đối xử giữa các cá nhân, các cá nhân chủ chốt và cách mạng, và kỹ
năng kinh nghiệm sẽ cung cấp sự chuyển đổi từ quan sát tới các việc làm cụ thể.
nghiệp.
(2) Một khái niệm về động thái mà các kỹ năng liên quan tới sự thay đổi và các khái
niệm đa dạng về công nghệ và tổ chức.
(3) Một khái niệm định hướng quá trình xác định là các kỹ năng c
ần tiếp tục phát triển
theo thời gian và không bị hạn chế bởi ccs khung danh giới cứng nhắc.
Nhu cầu về đào tạo dựa vào sự thành thạo để phát triển kỹ năng không phải là một vấn
đề. Đòi hỏi về pháp chế đang được phát triển ở Việt Nam ví dụ như sự liên quan tới sức
khỏe nghề nghiệp và anh toàn lao động (OH&S) và đòi hỏi về môi trường làm vi
ệc an
toàn đòi hỏi đào tạo dựa vào sự thành thạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh đào tạo hạn chế của
ngành công nghiệp rừng Việt Nam, phải để người công nhân, những người yêu cầu kỹ
năng mới nhận thức được và cho phép sự nhận thức và sự thay đổi của công nhân.
Trong khi các mức độ khác nhau của đào tạo kỹ năng trong lĩnh vực công nghiệp rừng có
th
ể được xác nhận, tính chất của thông tin do các nhà đào tạo, các cục vụ của Chính phủ,
chính quyền địa phương, công nghiệp, giáo dục, giáo viên cần cho công đồng nông thôn
là mức độ đào tạo mức độ 4-6 trong hệ thống các bậc từ 1-8, (mức độ 1 là mức cơ bản đủ
hoàng thành một công việc tới mức độ 8 là tiến sĩ).
Mức độ 1-3 (thực hiện kỹ năng) tốt nh
ất là được ngành công nghiệp giám sát ở nơi làm
việc hoặc là trong trường hợp đào tạo vùng nông thôn do các cán bộ khuyến lâm của Cục
lâm nghiệp thực hiện trong khi trình độ 7 và 8 và được giám sát tốt nhất người có trình độ
đại học hoặc sau đại học giám sát. Điểm mấu chốt để đào tạo trình độ 4-6 với các mức độ
kiến thức cơ sở khác nhau là có một bài giảng ở lớp đầ
u tiên để các học viên tự học, tài
liệu này có thể được đưa lên internet trước khi khóa học bắt đầu. Tài liệu kỹ thuật cung
lâm nghiệp). Như vậy, tất cả các đội ngũ
kỹ thuật của dịch vụ lâm nghiệp bao gồm các
nghiên cứu viên được cung cấp đào tạo trong lớp học (để đảm bảo cập nhật nhu cầu cho
các khóa học). Rất nhiều các khóa đào tạo được xây dựng và sẵn sàng đào tạo học viên
trong lĩnh vực lâm nghiệp và công nghiệp rừng.
Bằng Diploma quốc gia trong quản lý công nghiệp rừng
Dựa vào kết quả khảo sát các xưởng xẻ vùng nông thôn, các cu
ộc thăm và làm việc với
ngành công nghiệp, một số các cục vụ của Chính phủ và phân tích nhu cầu, đòi hỏi của
nghiên cứu và đào taọ về cưa xẻ, bảo quản gỗ, sấy gỗ và đóng đồ mộc, các chuyên gia
của dự án đã xác định và chi tiết hóa các chủ đề cần thiết để đào tạo quản lý công nghiệp
rừng (trình độ 4-6). Chi tiết của môn học đượ
c trình bày ở Phụ lục 1.
Có các nhóm chủ đề phục vụ việc đào tạo trình độ cho học viên: Chứng chỉ quốc gia (4
chủ đề), Diploma quốc gia (8 chủ đề) và bằng Diploma cấp 1 quốc gia (16 chủ đề), với
các tín chỉ và chủ đề phù hợp với các chứng chỉ của trình độ đại học.
Các khóa đào tạo đặc biệt (Specialised training courses)
Cơ hội cho việc nhóm các nhóm chủ đề giống nhau
để phù hợp với đào tạo nghệ nghiệp ở
các trình độ kỹ thuật. Các khóa học tương tự cũng cần cho đội ngũ cán bộ chuyên môn
(ví dụ các nhà lâm nghiệp trình độ đại học) những người đang làm việc cho dịch vụ lâm
nghiệp và cần các kỹ năng thực hành và kiến thức về ngành công nghiệp mà có thể không
có trong chươgn trình đào tạo bậc đại học. Các khóa đào tạo này cũ
ng sẽ cung cấp việc
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa cán cán bộ kỹ thuật và chuyên môn. Điều này sẽ tạo
thêm các lợi ích cho các cán bộ kỹ thuật muốn được được đào tạo để trở thành các cán bộ
chuyên môn. Các khóa học như vậy có thể bao gồm thanh tra gỗ, vận hành doanh nghiệp,
ở trên:
Đầu tiên, các khó đào tạo cung cấp sự phát triển của các kỹ năng mà thường không không
có trong chương trình đào tạo ở các trường đại học. Ví dụ, các trường đại học hi
ếm khi
cung cấp cho sinh viên các kỹ năng về lãnh đạo, làm việc theo nhóm, chất lượng dịch vụ
vv. Giáo dục đại học thường không cung cấp đào tạo dựa vào khả năng ví dụ như kỹ năng
về sức khỏe nghề nghiệp và anh toàn lao động cho ngành công nghiệp. Tương tự, thông
tin kỹ thuật cho xưởng xẻ, bảo quản gỗ, sấy, quản lý sâu bệnh hại vv sẽ rất khác với các
thông tin t
ương tự do các nhà thực hành cung cấp. Sinh viên, người lao động hưởng lợi từ
cả hai hướng sẽ đòi hỏi mức độ thành thạo nhanh hơn và sẽ đánh giá cao sự áp dụng các
kỹ năng này thông qua các hoạt động ở cơ sở của họ.
Một điều được bàn luận là mức độ đào tạo 4-6 trong quản lý công nghiệp rừng tốt nhất
khi được thực hiện
ở các trung tâm đào tạo trong các dịch vụ lâm nghiệp. Một số cho
rằng như vậy thì các dịch vụ lâm nghiệp sẽ không hưởng lợi trực tiếp; rất nhiều sinh viên
hoặc người bắt đầu làm việc với dịch vụ lâm nghiệp sẽ quay trở lại làm việc cho công
nghiệp khi được đào tạo xong. Điều này co thể không đúng nếu đứng về góc độ viễn cảnh
kinh tế
. Thư vây, cần có một nhiệm vụ rõ ràng hoặc một viễn cảnh cho vai trò của dịch
11
vụ lâm nghiệp, vai trò hoặc đạo tạo nghề của dịch vụ lâm nghiệp và đào tạo tiếp tục mà
cần phải được thực hiện. Điều này rõ ràng là cần thiết hơn nhu cầu bậc trung và nội bộ
của dịch vụ lâm nghiệp, nhưng phải đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và công nghiệp
rừng.
Các chủ đề yêu cầu cho 3 ngành nghề (thanh tra gỗ, vậ
-Quản lý dự án
13
Bảng 5. Mức độ đào tạo 4-6 cho người vận hành cơ sở (cưa xẻ, xử lý gỗ, sấy gỗ).
2a. Người vận hành
(Điều kiện tiên quyết Phương pháp đo đếm được)
- Cưa xẻ
-Sấy gỗ
-Bảo quản gỗ
-Sức khỏe nghề nghiệp và an toàn lao động.
2b. Người vận hành cao cấp
-Khoa học gỗ
-Công nghệ thông tin và truyền thông.
-Lãnh đạo và làm việc theo nhóm.
-Chất lượng dịch vụ.
2c. Trưởng vận hành
-Chất lượng dịch vụ.
-Sức khỏe nghề nghiệp và an toàn lao động
3c. Trưởng bảo vệ rừng
-Quản lý nhân viên
-Quản lý tài chính.
-Quản lý dự án
-Thị trường lâm sản
15
Đào tạo công nhân ở các cơ sở xẻ vùng nông thôn
Chiến lược đào tạo công nhân trình độ 1-3 cho các cộng đồng nông thôn miền núi là
cung cấp một hệ thống lao động quốc gia về lĩnh vực thanh tra gỗ, vận hành cơ sở và bảo
vệ rừng, và các nhà lâm nghiệp với kiến thức kỹ thuật cần thiết cho mỗi lĩnh vực, và họ
có kiến thức, nguồn lực và động lực c
Sản xuấ đồ mộc
Kỹ thuật mài cưa
16
MODULE 2
Hong phơi (sấy không khí).
Sấy cưỡng bức
Bảo quản gỗ
MODULE 3 Bảo dưỡng thiết bị
Thị trường
Quản lý kinh doanh
Khoa học gỗ, sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn lao động và sơ đồ xẻ được xây dựng như
là các thành phần tổng hợp của các khoá học.
Chương trình được xác định bên dưới được định hướng để cung cấp một tiêu chuẩn quốc
tế trong các viện nghiên cứu công nghiệp rừng trong khi cũng đáp ứng các mục tiêu dài
hạn của các sản phẩm công nghiệp rừng có tính cạnh tranh quốc tế và đáp ứng nhu cầu
của các cộng đồng vùng nông thôn. Chi tiết về nhu cầu nghiên cứu v
ề cưa xẻ, sấy và bảo
quản gỗ được trình bày trong các báo cáo khác. Mục tiêu là cung cấp một chương trình
nghiên cứu nơi mà các ngành có thể đảm đương. Chương trình được xác định phía dưới
là đối tượng cho công nghiệp rừng và không xác định nhu cầu nghiên cứu lâm nghiệp. V
V
a
a
i
it
t
r
r
ò
òn
n
g
g
i
i
a
at
t
r
r
o
o
n
n
g
gc
c
ô
ô
n
n
g
gn
•
Giảm sử dụng năng lượng hoá thạch giá trị thông qua các quá trình thay thế
than/dầu mỏ bằng cách sử dụng bền vững nguyên liệu ligno-cellulosic khai thác từ
sinh khối/sợi gỗ thực vật và
18
• Tăng cường thời gian sử dụng sản phẩm thông qua các nghiên cứu cơ bản về cấu
trúc và chức năng của ligno-cellulose ở các sản phẩm và ứng dụng các kiên thức
này thông qua công nghệ sạch tiên tiến.
Cellulose là polymer tự nhiên sẵn có nhất trên trái đất. Lignin là polymer sẵn có thứ hai.
Cả hai loại polymer này có các đặc tính lý hóa học tuyệt vời và đặc tính công nghệ có thể
làm nguyên liệu chủ yếu cho thức ăn, ngăng lượng, nguyên liệ
u đốt lỏng, nguyên liệu và
hóa chất một cách bền vững.
Nhu cầu nghiên cứu bao gồm:
Chuyển các nghiên cứu cơ sở sang nghiên cứu về cơ sở phân tử của cellulose, lignin và
sản phẩm sợi gỗ, làm sáng tỏ sự hình thành hóa sinh tổng hợp của lignin, cellulose và
hemicellulose ở thực vật và tìm hiểu xem kiến thức nào có thể được áp dụng cho công
nghiệp sản xuất nguyên liệu gỗ, ví dụ như rưng trồng, cung c
ấp gỗ, sợi gỗ cho công
nghiệp chế biến.
Sử dụng kết quả phân tích chu kỳ sống để đánh giá các ứng dụng tiên tiến của sợi gỗ thực
vật hay sinh khối. Việc sự dụng kết quả phân tích vòng đời nên được thiết kế tập trung
nghiên cứu và các nhà khoa học để xem xét vấn đề cơ sở và các giải pháp tiến tiến làm
lợi trực tiếp tới các ch
ủ đất (nông nghiệp, lâm nghiệp và làm vườn), kiến trúc, xây dựng,
kế hoạch, nhà công nghiệp, nhà sản xuất và khách hang. Tiến trình và nội dung nghiên
cứu cũng thu hút sự quan tâm của công chúng và sinh viên, những người muốn mở rộng
sự hiểu biết của họ về sản xuất và sử dụng sản phẩm sử dụng ligno-cellulosic; thiết kế hệ
thống công nghiệp và kế hoạch dài hạn cho một tưong lai bền vữ
1. Đổi mới
• Thiết kế sử dụng Carbon hiệu quả.
• Thiết kế cho tái chế, tái sử dụng.
• Thiếtkếchosửdụnglâubền.
3. Công nghệ mới
n
g
Na
m Á
(
t
h
ô
n
g
qua
BẢNG 1. Trung tâm nghiên cứu hợp tác về giải pháp Ligno-
Cellulosic
2. Khoa học cơ bản
• Hoá sinh thành tổng hợp sinh học của lignin, cellulose và
hemicellulose
• Hỗn hợp sợi Lignocellulose
• Tác động qua lại của Lignocellulose
• Thay đổi lý hoá tính của sợi gỗ.
• Thoái hoá sinh học
19
M
M
ô
ô
hc
c
h
h
o
ot
t
r
r
u
u
n
n
g
gt
t
â
â
m
m
c
c
ứ
ứ
u
uv
v
ề
ềg
g
i
i
ả
ả
i
ip
p
h
h
á
o
s
s
i
i
c
c Chương trình 1. Đổi mới (cải tiến)
1.1 Thiết kế sử dụng carbon tích cực (CPD); thiết kế cho tái sử dụng tái chế và
dây chuyề
n và độ bền cao cung cấp chương trình tổng thể cho đổi mới. Một chương
trình có thể được phát triển và ứng dụng để kiểm tra các ý tưởng, kế hoạch, chính sách,
tiến trình, sản phẩm, nghiên cứu, phát triển công nghệ, xây dựng hoặc hệ thống nông
nghiệp: kiểm tra môi trường tiềm năng, tác động xã hội và kinh tế trong một vòng chu
kỳ của đổi mới. Tiến trình cho phép tác động qua lại để kiểm tra s
ự cải tiến cho tới khi
giải pháp tối thu được. Tiến trình cung cấp đầu vào (năng lượng và tài nguyên) và đầu
ra (sản phẩm cuối cùng, phế thải và ô nhiễm) với chú ý đặc biệt vào CO
2
và các chất
độc hại có thể làm tổn hại tới sức khỏe con người và môi trường so sánh với các họat
động của con người với các hoạt động lý tưởng hoặc hiện tại.
CPD bao gồm phân tích vòng đời thông qua mô hình tổng hợp đầu vào trực tiếp và gián
tiếp. Mục tiêu là nên chú trọng vào các giải pháp mà đã được xây dựng và mở rộng ứng
2.1 Biochemical pathways for lignin, cellulose and hemicellulose biosynthesis
Mục tiêu là làm sáng tỏ hơn chức năng gen liên quan tới cellulose, hemicellulose và
lignin và cách thức sinh hóa hình thành và phát tireen sợi gỗ, mô tia và các đặc tính của
gỗ.
20
2.2 Thành phần sợi gỗ Lignocellulose rất khác nhau giữa và trong các loài thực
vật, giữa các loại sợi và mô gỗ của thực vật. Cấu trúc, thành phần hóa học và đặc tính
chất lượng của sợi gỗ sẽ xác định các cách sử dụng gỗ khác nhau. Mục tiêu là xác định
rõ hơn các đặc tính cơ bản của các thành phần sowji gỗ trong mối liên hệ ảnh hưởng
của môi trường và sự điều khiển củ
a gen liên quan tới đặc tính chất lượng của gỗ.
2.3 Tác động tương hỗ của Lignocellulose
Nhiệt độ thấp nhiệt phân nhanh chuyển hóa phản ứng của cellulose, hemicellulose và
lignin cung cấp một hệ thống va hầu hết sự chuyển hóa từ sợi gỗ sang các thành phần
chất hóa học cơ bản và sang các chất hóa học có hữu dụng. Kiểm soát công nghệ của
môi trường chuyển hóa với các yếu tố về nhi
ệt độ, thời gian, có oxy hay không có oxy
và việc tái chế hiện tại đã được sử dụng ở mức độ cao đã có thể thay thế cho việc sử
dụng các chất hóa học tương tự chiết xuất từ dầu mỏ. Thôngo gồm việc sử dụng các
sinh khối khác nhau. Hai sản phẩm thu được từ quá trình nhiệt phân nhanh nhiệt độ
thấp bao gồm chất furfural và cellulose thay đổi. Furfurals là chất sinh học chố
ng lại
nấm nematodes và với một phạm vi hẹp hơn là chống lại côn trùng, nhưng cũng tạo
nên các chất có thể làm mất tác dụng của nhiều chất chiết xuất từ nhựa tới dầu mỏ.
Cellulose thay đổi có thể chuyển hóa thành ethanol. Sự thay đổi (tách chiết lignin và
hemicellulose) có thể tiềm năng cung cấp nguyên liệu thô cho các chất tạo ra từ
cellulose (ethanol, bột giấy, plastics sinh học, sợi gỗ tái tạo (ví dụ rayon) sơ
n, thuốc nổ
lignin đã được tách xuất hết. Sự có mặt của lignin chủ yếu làm chậm quá trình axit hóa
21
hydrolysis của cellulose thành đường gỗ. Các loại sản phẩm gỗ như kể trên được đã
được sản xuất sử dụng công nghệ của đại học tổng hợp Melbourne. Rõ ràng là cellulose
phế thải (“than hoạt tính trắng) là một bước chế biến nhỏ từ “than hoạt tính sinh học” và
là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong việc lưu giữ carbon trong đất sản
xuất nông nghiệp.
3.2 Thay đổ
i cấu trúc vỏ cây và tannin để cung cấp chất lọc proteins, kim loại
nặng và dầu thải phục vụ mục tiêu tái chế.
Điều này được thực hiện thông qua các phản ứng hóa học đặc biệt do các công nghệ chế
biến hiện đại đem lại. Vỏ cây có sẵn với khối lượng lớn nhưng có rất ít nghiên cứu để
xác định bản chất của các phản ứng hóa học và các
ứng dụng tiềm năng của nó, ví dụ:
• Tách xuất abattoir và nước thải để tái sử dụng nước, phương pháp mới, sử
dụng ít năng lượng và tạo ra phân bón hữu cơ cải thiện độ phì đất.
• Tách xuất kim loại nặng (ví dụ chì ) từ đất sản xuất nông nghiệp.
• Tách xuất dầu từ dầu tràn ở nước biển.
• Tách lọc nướ
c tinh khiết với khối lượng lớn, chi phí thấp.
• Tái chế hốn hợp composites sinh học sử dụng cho ván sàn hoặc mặt đường
hoặc làm khuôn đúc
3.3 Biến đổi sinh khối bằng Microwave. Biến đổi gỗ bằng Microwave làm thay đổi
tính thấm của nguyên liệu thô để đạt được bột lỏng giấy tới lignin, nơi mà gỗ bị phân
hoá mà không gây ra tác dụng phụ là làm mất sợi dài và giảm tỷ lệ
cellulose thu được.
Việc chuẩn bị cho một trường hợp sản xuất kinh doanh chỉ ra rằng năng lượng có thể
tiết kiểm tới 40% và sử dụng chất hoá học khoảng 30%. Mô hình phân hoá gỗ cùng với
Chương trình nghiên cứu nên tập trung vào 3 lĩnh vực:
i). Thay đổi hoá học của sợi gỗ để tăng cường độ bền vững và tính chống chịu với nấm
mục. Công nghệ chuẩn, ví dụ như sử dụng acetylation và furfuralisation, và công nghệ
mới sẽ được sử d
ụng để cải thiện các tính chất của nguyên liệu này.
ii). Công nghệ hoạt hoá bề mặt sẽ được đánh giá đẻ tạo ra sự kết hợp tốt hơn giữa
polymer và gỗ. Thêm vào đó, khi và sợi gỗ được sử dụng hơn là ván dăm, việc phân
hoá gỗ sẽ được ưu tiên thực hiện để cải thiện cơ lý tính và khả năng chống nứt nẻ của
hỗ
n hợp plastic.
iii). Công nghệ nhiệt Microwave sẽ được sử dụng để thu được các đặc tính tốt hơn của
gỗ plastic trong quá trình đúc sản phẩm để tăng cường chế biến công nghiệp. Các công
việc hiện tại được đại học Melbourne tiến hành sử dụng công nghệ microwave cho chai
PET plastic.
3.5 Cưa xẻ, sấy, bảo quản và sản xuất đồ mộc.
Cưa xẻ, sấy, bảo qu
ản là các lĩnh vực thiết yếu của công nghiệp rừng truyền thống. Tài
liệu chi tiết về các lĩnh vực này đã được chuẩn bị để xác đinh nhu cầu giáo dục, đào tạo
và nghiên cứu dựa vào kế quả khảo sát công nghiệp cưa xẻ ở Việt Nam. Sự tập trung
vào phát triển của ngành sản xuất đồ mộc nội địa, công nghệ xử lý bảo quả s
ẽ tạo ra
nhiều cơ hội hơn cho các công nghệ bảo quản gỗ và sấy gỗ mà sự hiệu quả của các lò
sấy ở Việt Nam và các công nghệ mới dựa vào việc sử dụng năng lượng mặt trời.
Chương trình 4. Giáo dục và chuyển giao kiến thức
Vai trò của Chính phủ trong trong các hoạt động lâm nghiệp và công nghiệp rừng là rất
quan trọng. Một điều đã
chương trình nghiên cứu nên được quản lý ở các trường đại học then chốt ở Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh. Cùng hợp tác đào tạo nên được kết hợp giữa các ngành công nghiệp
và các tổ chức nghiên cứu. Các cơ hội cũng sẽ sẵn có cho việc triển khai các chương
trình nghiên cứu tiến sĩ cho các tổ chức nghiên cứu và đào tạo quốc tế. Các khóa đ
ào
tạo sẽ được xây dựng với các thiết kế thí nghiệm, thiết kế sử dụng carbon tích cực,
chiến lược bảo vệ IP, kỹ năng quản lý con người và quản lý nghiên cứu.
4.2 Chương trình các khóa đào tạo sau thạc sỹ về thiết kế sử dụng carbon tích cực
sẽ được thiết lập với sự hợp tác và tham gia của các trường đại học quốc tế.
4.3 Hỗ trợ phần mềm về thiết kế sử dụng carbon tích cực đưa ra một chiến lược
chính của Trung tâm. Phần mềm và cơ sở dữ liệu sẽ cung cấp chương trình để
đánh giá các sáng kiến và ý tưởng đổi mới.
4.4 Chương trình phát triển chính sách về thiết kế sử dụng carbon tích cực sẽ
được thiết lập với các đối tác thích hợp trong các nước thu nhập th
ấp và sẽ được
thiết lập thông qua các dự án hỗ trợ quốc tế ví dụ qua các dự án ACIAR.
4.5 Bảo vệ công nghệ mới sẽ được thiết lập để hỗ trợ bảo vệ chiến lược kinh doanh. C
C
á
á
c
c
c
c
ứ
ứ
u
ut
t
i
i
ề
ề
m
mn
n
ă
ă
n
n
g
g
s
s
ử
ửd
d
ụ
ụ
n
n
g
gc
c
u
u
ố
ố
i
it
t
i
• Các tổ chức kiến trúc quốc gia
• Các tỉnh/các cục vụ của Chính phủ
• Các ban quản lý
M
M
ố
ố
i
iq
q
u
u
a
a
n
nh
h
ệ
ệ
,
,g
g
i
i
á
á
o
od
d
ụ
ụ
c
cđ
đ
à
à
o
o
h
h
à
à
n
n
h
hc
c
h
h
í
í
n
n
h
h
.
. Nghiên cứu, đào tạ
o và quản lý hành chính nên là những bộ phận tách rời có trách
nhiệm rõ ràng trong dịch vụ lâm nghiệp. Bộ phận đào tạo hay trung tâm đào tạo sẽ chú
trọng tới việc cung cấp tập huấn kỹ thuật và sẽ sử dụng nguồn tài nguyên có sẵn từ các
viện nghiên cứu để cung cấp các dịch vụ này. Dịch vụ khuyến lâm cũng sẽ sử dụng
nguồn tài nguyên của các viện nghiên cứu và các trung tâm đào t