TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM
NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Ngọc Mai
Lớp : A13
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : Cô Lê Minh Trâm
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI MỸ 25
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI
MỸ 26
1. Bảo hiểm cây trồng 26
1.1. Lịch sử phát triển của bảo hiểm cây trồng tại Mỹ 26
1.2. Các loại hình bảo hiểm cây trồng tại Mỹ 30
1.3. Hình thức công ty tham gia thị trƣờng bảo hiểm cây trồng Mỹ 36
ii
1.4. Hoạt động tái bảo hiểm cây trồng liên bang 39
1.5. NCIS – Hiệp hội bảo hiểm cây trồng Mỹ 42
2. Bảo hiểm chăn nuôi 42
2.1. Bảo hiểm “Phòng ngừa rủi ro chăn nuôi” (Livestock Risk Protection)
43
2.2. Bảo hiểm “Tỷ lệ lợi nhuận gộp cho gia súc” (Livestock Gross Margin)
45
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
TẠI MỸ 48
1. Thành tựu đạt đƣợc 48
1.1. Thành tựu của bảo hiểm cây trồng 48
1.2. Thành tựu của bảo hiểm chăn nuôi 53
2. Hạn chế trong quá trình phát triển bảo hiểm nông nghiệp tại Mỹ 55
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 58
I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM 58
1. Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam 58
2. Tình hình triển khai bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam 59
3. Những kết quả đã đạt đƣợc 63
Agriculture Risk
Protection Act
Luật bảo vệ rủi ro nông nghiệp
BHNN
Bảo hiểm nông nghiệp
CBOT
The Chicago Board of
Trade
Sàn giao dịch Chicago
GAO
Government
Accountability Office
Cơ quan giải trình Chính phủ
Mỹ
GTBH
Giá trị bảo hiểm
FCIC
Federal Crop Insurance
Corporation
Hội đồng bảo hiểm cây trồng
liên bang
FSA
Farm Service Agency
Cơ quan dịch vụ nông nghiệp
MPIC
Multi-peril crop
insurance
Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa
Sơ đồ: Đặc trƣng của nông hộ và kỳ vọng lâu dài cho thị trƣờng bảo hiểm
nông nghiệp ở Việt Nam: Bảo hiểm chỉ số dễ tiếp cận nhất cho số đông các
nông dân 86
1
LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất nông nghiệp luôn phải chịu rất nhiều rủi ro nhƣ thiên tai, dịch
bệnh. Thiên nhiên khắc nghiệt có thể khiến hàng ngàn hecta cây trồng bị mất
trắng, đi kèm sau đó là những tổn thất tài chính nặng nề đối với ngƣời nông
dân. Đây chính là tiền đề cho việc phát triển thị trƣờng bảo hiểm nông nghiệp.
Năm 1988 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp tại nƣớc Phổ.
Từ đó đến nay, bảo hiểm nông nghiệp đã và đang đƣợc áp dụng rộng khắp
trên toàn thế giới với đa dạng các hình thức và tổng phí bảo hiểm ngày một
tăng cao. Đặc biệt, tại Mỹ bảo hiểm nông nghiệp đã trở thành công cụ bảo vệ
đắc lực nhất đối với ngƣời nông dân. Theo báo cáo tháng 2/2010 của Bộ
Nông nghiệp Mỹ, tính đến cuối năm 2009, 80% diện tích đất nông nghiệp đã
đƣợc bảo hiểm, tƣơng đƣơng với 265 triệu mẫu Anh, tổng số phí bảo hiểm chỉ
tính riêng cho bảo hiểm cây trồng đa thảm họa đã đạt 8.94 tỷ USD, gấp 1.3
lần so với tổng phí bảo hiểm nông nghiệp toàn thế giới năm 2001. Tuy nhiên,
những thành tựu nổi bật trong triển khai bảo hiểm nông nghiệp lại chỉ đạt
đƣợc tại các nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ Mỹ với thị phần thị trƣờng bảo
hiểm nông nghiệp toàn cầu đạt 55% (bao gồm Mỹ và Canada), trong khi đó,
con số này của các quốc gia Châu Á chỉ đạt 4% năm 2007 [Schuetz, FAO,
2007].
Đặc biệt, tại Việt Nam, một quốc gia có tới 60-70% dân số làm trong
nông nghiệp, nhƣng khái niệm bảo hiểm nông nghiệp vẫn còn khá xa lạ với
ngƣời nông dân. Sau gần 20 năm thực hiện thí điểm, thị trƣờng bảo hiểm
nông nghiệp vẫn còn là một mảnh đất trống. Không tham gia bảo hiểm, ngƣời
nông dân phải gánh chịu những hậu quả nặng nề khi rủi ro xảy ra, nhà nƣớc
Chương III: Một số kiến nghị đối với chính sách phát triển bảo hiểm
nông nghiệp tại Việt Nam
3
Do những hạn chế về kiến thức chuyên môn và khó khăn trong việc tìm
kiếm thông tin, khóa luận này còn nhiều thiết sót, em mong nhận đƣợc sự góp
ý của thầy cô để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Lê Minh Trâm, ngƣời đã
nhiệt tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp.
4
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM
NÔNG NGHIỆP
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẨN THIẾT
CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất của xã hội, cung
cấp lƣơng thực và thực phẩm cho con ngƣời, nguyên liệu cho công nghiệp
nhẹ, công nghiệp thực phẩm và hàng hóa để xuất khẩu. Nông nghiệp cũng là
ngành thu hút nhiều lao động xã hội, góp phần tạo công an việc làm và chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, sản xuất nông
nghiệp lại có xu hƣớng không ổn định do những đặc điểm riêng biệt của
ngành này, đó là:
- Sản xuất nông nghiệp đƣợc tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
việc các cây trồng có thể bị dịch bệnh tấn công do thiếu nƣớc tƣới nên những
tổn thất đối với ngƣời nông dân khi gặp phải hạn hạn kéo dài là rất lớn.
Gió bão: Gió mạnh, bão lớn, áp thấp nhiệt đới thƣờng xuất hiện ở các
nƣớc có khí hậu nhiệt đới. Hậu quả trực tiếp của gió bão là làm đổ và gãy các
loại cây trồng và vật nuôi bị cuốn trôi
Lƣợng mƣa quá lớn: Cây trồng cần nƣớc tƣới và phần lớn sản xuất
nông nghiệp trên thế giới đang phát triển dựa vào nƣớc mƣa. Tuy nhiên,
lƣợng mƣa quá lớn có thể phá hủy vụ mùa và gây tác hại nghiêm trọng, đặc
biệt với cây mới đƣợc gieo trồng. Rủi ro này xảy ra trong hoặc trƣớc khi thu
hoạch cũng có thể khiến cả vụ mùa bị mất trắng, ví dụ nhƣ nho có thể bị nứt
quả và không thể bán đƣợc ra thị trƣờng.
Lũ lụt: rủi ro này có thể xảy ra do mƣa quá nhiều hoặc dài ngày khiến
nƣớc sông hồ tăng đột biến, khiến đê điều bị sạt lở, các công trình thủy lợi bị
hƣ hại, cây trồng và vật nuôi bị cuốn trôi…Đôi khi lũ lụt là một trong những
kết quả của các cơn bão cấp độ lớn.
6
Sƣơng muối: mặc dù đây không phải là rủi ro phổ biến ở hầu hết các
nƣớc nhƣng tại một số khu vực nhƣ Đông Âu và Trung Đông, nơi có địa hình
thung lũng phổ biến thì sƣơng muối có nguy cơ xảy ra thƣờng xuyên, có tác
hại đặc biệt tới rau và cây ăn quả. Sƣơng muối gây ra thiệt hại do việc làm
lạnh thành phần nƣớc của các tế bào thực vật, khiến cây, quả bị hƣ hại sau đó.
Sƣơng muối là rủi ro có thể tác động đến một khu vực rộng lớn, gây tổn thất
nghiêm trọng đối với ngƣời trồng trọt. [Grant Thornton, 2009]
Mƣa đá: mƣa đá rất phổ biến tại các nƣớc Âu, Mỹ, có thể khiến mùa
màng bị mất trắng dù loại thiên tai này lại dễ dự đoán hơn cả và thƣờng rất
hạn chế về vùng thiệt hại, chỉ từ một vài mét vuông, đến vài trăm và hiếm khi
lên đến một vài km. Khi mƣa đá xảy ra, ngƣời nông dân hầu nhƣ không có
cách nào phòng vệ, thậm chí cơ quan nghiên cứu đã chứng minh việc dùng
cuộc sống cho hàng triệu ngƣời dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị
trƣờng tự do, đặc biệt là giá cả của các mặt hàng thiết yếu nhất nhƣ: lƣơng
thực, thực phẩm. Bên cạnh đó, bảo hiểm nông nghiệp cũng giúp ổn định ngân
sách nhà nƣớc, ổn định đời sống xã hội và giữ vững anh ninh lƣơng thực quốc
gia.
Nhƣ đã nói ở trên, bảo hiểm nông nghiệp ra đời có tác dụng rất lớn cho
ngƣời nông dân và chính phủ các nƣớc nhƣng xét từ góc nhìn của một công ty
bảo hiểm thì đây cũng là một thị trƣờng đầy tiềm năng. Mặc dù triển khai bảo
hiểm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, song với đối tƣợng là hàng trăm loại
cây trồng và vật nuôi khác nhau sẽ giúp các công ty bảo hiểm dễ dàng khai
thác, hạn chế đƣợc sức ép của cạnh tranh. Đồng thời, nó còn phát huy tối đa
quy luật “số đông bù số ít” trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nhƣ vậy, sự
cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp đối với sản xuất nông nghiệp là điều
không thể phủ nhận, và suốt hàng trăm năm qua, bảo hiểm nông nghiệp đã
hình thành và phát triển trên khắp thế giới nhƣ một công cụ bảo vệ đắc lực
cho ngƣời nông dân.
8
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
TRÊN THẾ GIỚI
Trong hơn một thế kỉ qua, bảo hiểm cây trồng khi gặp rủi ro do mƣa đá
và hỏa hoạn thƣờng đƣợc thực hiện cho các trang trại ở một số nƣớc phƣơng
Tây. Thông thƣờng những ngƣời đứng ra bảo hiểm đƣợc tổ chức trên cơ sở
các hội hỗ trợ tại địa phƣơng do chính những ngƣời nông dân tổ chức. Sau
này khái niệm bảo hiểm đƣợc truyền đến Bắc Mỹ và nhiều khu vực khác trên
thế giới, thoạt đầu xuất phát từ hiểm họa mƣa đá và một số hiểm họa khác và
gần đây (trƣớc năm 1945) là bảo hiểm cây trồng mọi rủi ro (MPCI).
Năm 1898 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp. Nƣớc Phổ đã
tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng thông qua hoạt động của các
hiểm
Cơ quan
tiến hành
Nguồn hình
thành quỹ
BH
Hình thức
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
1
Jamaica
1946
Bão
Cây chuối
Chính phủ
Bắt buộc
2
Canada
1917
Mƣa đá
Tất cả cây
trồng
Chính phủ
Công ty tƣ
nhân
Từ phí BH
nông dân và
sự hỗ trợ
của chính
phủ
Phí BH
nông dân
đóng góp
Tự nguyện
Tự nguyện
4
Nhật Bản
1938
1947
Mọi rủi ro
Cây ngũ
cốc, cây ăn
quả, dâu tằm
Hội BH
1978
Mọi rủi ro
Ngô, lúa,
lạc, đậu
tƣơng, bông,
hƣớng
1
dƣơng
Công ty bảo
hiểm nhà
nƣớc
Phí nông
dân đóng
góp
Bắt buộc với
ngƣời vay
tiền (Nguồn: PGS – TS Nguyễn Văn Định (2005), Giáo trình Bảo Hiểm, NXB Thống Kê)
10
III. CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP PHỔ BIẾN
1. Bảo hiểm cây trồng
Cây trồng rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Tùy theo quá trình
sinh trƣởng, mục đích sử dụng và biện pháp canh tác, có thể phân loại cây
thời gian ƣơm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác.
Nhƣng do thời gian sinh trƣởng khác nhau, cho nên mỗi loại đối tƣợng
nêu trên có thời gian bảo hiểm khác nhau. Thời gian bảo hiểm cây hàng năm
thƣờng tính từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản phẩm. Còn cây lâu
năm, thời gian bảo hiểm có thể kéo dài một năm, sau đó đƣợc tái tục qua các
năm. Thời gian bảo hiểm vƣờn ƣơm bắt đầu từ lúc gieo trồng đến khi cây đủ
tuổi nhổ đi trồng nơi khác. Đối với tất cả các loại cây trồng, đơn vị bảo hiểm
thƣờng là đơn vị diện tích tự nhiên để tính năng suất cây trồng nhƣ: ha, mẫu,
sào… Tuy nhiên, đối với cây lâu năm, do giá trị lớn và chu kỳ sinh trƣởng
kéo dài cho nên còn có thể bảo hiểm đến từng cây hoặc lô cây.
- Phạm vi bảo hiểm: trong quá trình sinh trƣởng và phát triển, cây
trồng thƣờng gặp rất nhiều rủi ro khác nhau (cùng một lúc có thể gặp một
hoặc một số loại rủi ro gây thiệt hại)
Các hiện tƣợng gió bão, thƣờng làm cho cây trồng bị đổ, bị gãy, khả
năng thụ phấn của hoa kém, làm mất toàn bộ giá trị hoặc sản lƣợng, năng suất
thu hoạch giảm. Còn hiện tƣợng úng lụt, lũ thƣờng làm cho cây bị chết hoặc
chậm phát triển, đất đai bị rửa trôi, độ màu mỡ giảm, gieo trồng không kịp
thời vụ, những hiện tƣợng này cũng gây hậu quả lớn và rất khó lƣờng. Hạn
hán, gió lào thƣờng làm cho cây bị khô héo, chậm phát triển, thậm chí bị chết.
Các rủi ro sâu bệnh lại làm cho cây bị nhiễm khuẩn, vàng lá, nấm mốc, từ đó
dẫn đến chất lƣợng sản phẩm kém, năng suất thấp… Khi triển khai bảo hiểm,
các công ty thƣờng tiến hành bảo hiểm một hay một số loại rủi ro nhất định,
những rủi ro còn lại đặc biệt là những rủi ro mang tính chất kinh tế, xã hội sẽ
12
đƣợc giải quyết bằng các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nƣớc. Thế nhƣng,
về nguyên tắc những rủi ro đƣợc bảo hiểm phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Là hiện tƣợng bất ngờ mà con ngƣời chƣa lƣờng trƣớc đƣợc hoặc
hoàn toàn chƣa khống chế và loại trừ đƣợc.
từng đơn vị bảo hiểm. Nhƣng cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu
của loại tài sản này đƣợc xác định tại thời điểm vƣờn cây đƣa vào kinh doanh.
Vì thế, GTBH chính là giá trị ban đầu của cây (hay vƣờn cây) đó trừ đi khấu
hao cơ bản nếu có.
1.3. Các chế độ bảo hiểm cây trồng
Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lƣợng sản phẩm và ngay
cả giá trị của bản thân cây trồng phụ thuộc rất lớn vào sự cố gắng chủ quan
của ngƣời trồng trọt. Vì thế, các công ty bảo hiểm thƣờng áp dụng một số chế
độ bảo hiểm sau đây:
- Chế độ bảo hiểm bồi thƣờng theo tỷ lệ: Có nghĩa là khi tổn thất xảy
ra, ngƣời bảo hiểm chỉ bồi thƣờng cho ngƣời trồng trọt theo một tỷ lệ nhất
định so với toàn bộ giá trị tổn thất. Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm
nâng cao tinh thần trách nhiệm của ngƣời tham gia bảo hiểm. Tỷ lệ đƣợc bồi
thƣờng do các bên thỏa thuận, nhƣng tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào:
+ Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp
+ Trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng
+ Khả năng tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm
+ Trình độ dân trí và sự tiến bộ của xã hội
Thông thƣờng ở nhiều nƣớc, tỷ lệ đƣợc bồi thƣờng trong khoảng từ
60% đến 80% so với giá trị tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. [Nguyễn Văn
Định, 2005]
Chế độ bảo hiểm trên mức miễn thƣờng: Có nghĩa là khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm, các bên tham gia thỏa thuận với nhau về mức miễn thƣờng
14
(mức không đƣợc bồi thƣờng). Nếu tổn thất xảy ra dƣới mức miễn thƣờng,
ngƣời bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thƣờng, mà ngƣời trồng trọt sẽ
phải tự gánh chịu phần tổn thất đó. Nếu tổn thất xảy ra lớn hơn mức miễn
thƣờng, ngƣời bảo hiểm sẽ bồi thƣờng phần vƣợt quá hoặc bồi thƣờng toàn bộ
Nhƣng đối với cây hàng năm, việc xác định phí bồi thƣờng bình quân
khá phức tạp, do tính chất mùa vụ và do tính bất ổn định của loại cây này cao
hơn. Chính vì vậy, để xác định đƣợc tỷ lệ phí bồi thƣờng bình quân phải tính
toán qua các bƣớc:
Bước 1: Xác định sản lƣợng thu hoạch thực tế bình quân trên 1 dơn vị
diện tích bảo hiểm (thƣờng căn cứ vào tài liệu thống kê 5 năm trƣớc đó).
=
=
=Trong đó:
– Sản lƣợng thu hoạch thực tế bình quân trên 1 đơn vị bảo hiểm
(thực chất là năng suất bình quân).
Q
i
– Sản lƣợng tổn thất bình quân tính trên 1 đơn vị sản phẩm.
S
t
– Diện tích gieo trồng năm t.
W
t
– Sản lƣợng thu hoạch thực tế năm t tính trên 1 đơn vị diện tích bảo
hiểm.
Bước 3: Xác định tỷ lệ phí bồi thƣờng bình quân (tỷ lệ phí thuần) (
)
=
×
Nếu bảo hiểm theo sản lƣợng thu hoạch thực tế bình quân (tức năng
suất bình quân) thì mức phí thuần trên 1 đơn vị bảo hiểm sẽ là:
=
×
Ở đây, P
i
là giá cả thực tế 1 đơn vị sản phẩm năm thứ i.
Nhƣ vậy, áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau, mức phí tính ra sẽ
khác nhau. Nhƣng xét về khả năng tài chính và tâm lý của ngƣời trồng trọt thì
áp dụng chế độ bảo hiểm nào đơn giản, dễ hiểu và có mức phí thấp nhất, họ
dễ dàng tham gia bảo hiểm nhất. [Nguyễn Văn Định, 2005]
17
1.5. Giám định và bồi thường tổn thất
Sau khi nhận đƣợc thông báo rủi ro tổn thất của ngƣời tham gia bảo
hiểm, công ty bảo hiểm phải cử ngay cán bộ hoặc nhân viên giám định đến
hiện trƣờng để giám định tổn thất. Trƣớc khi xuống hiện trƣờng, cần tính toán
và dự kiến trƣớc một số vấn đề nhƣ: Số lƣợng ngƣời giám định, các cơ quan
cần mời tham gia giám định nhƣ: chính quyền địa phƣơng, cơ quan bảo vệ
thực vật Yêu cầu của công tác giám định là kiểm tra hiện trƣờng nơi xảy ra
tổn thất, nguyên nhân tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không, tính
toán và xác định quy mô, mức độ tổn thất phải theo những phƣơng pháp khoa
học phù hợp với đối tƣợng bảo hiểm và tình hình thực tế. Lập biên bản giám
định tổn thất phải có đầy đủ các bên hữu quan tham gia và phải ký kết vào
biên bản để xác nhận.
Phƣơng pháp xác định giá trị tổn thất đƣợc bồi thƣờng phụ thuộc từng
loại cây trồng. Cụ thể nhƣ sau:
- Đối với cây hàng năm:
Giá trị tổn thất
đƣợc bồi thƣờng
=
Giá trị sản
- Đối với cây lâu năm:
Giá trị tổn
thất đƣợc bồi
thƣờng
=
Giá trị tổn
thất thực tế
_
Giá trị
tổn thất
thực tế
x
Tỷ lệ
khấu
hao
x
Số tháng đã
bảo hiểm /
12 tháng
Giá trị tổn thất thực tế đƣợc tính đến từng cây lâu năm hoặc diện tích
gieo trồng cây đó. Chỉ có những cây, những diện tích bị chết hoặc gãy hẳn
mới đƣợc coi là tổn thất. Tổn thất xảy ra vào tháng nào, tính khấu hao cả
tháng đó. [Nguyễn Văn Định, 2005]
Khi tiến hành bồi thƣờng, ngƣời bảo hiểm phải chú ý một số vấn đề
nhƣ: Tỷ lệ bồi thƣờng, mức miễn thƣờng, giá trị tận thu, chi phí đề phòng tổn
thất
2. Bảo hiểm chăn nuôi
2.1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
- Đối tƣợng bảo hiểm trong chăn nuôi là các sản phẩm chăn nuôi và
các loại vật nuôi. Đối với vật nuôi là tài sản cố định thƣờng đƣợc bảo hiểm
lƣợng xuất chuồng bình quân một số năm trƣớc đó (thông thƣờng là 3 đến 5
năm) nhằm loại trừ những nhân tố ngẫu nhiên ảnh hƣởng. Đối với vật nuôi là