1
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Báo cáo dự án CARD
017/06 VIE
Quản lý và Phát triển rừng bền vững dựa vào cộng đồng một
số vùng tỷ lệ đói nghèo cao tỉnh Bắc Kạn
MS 11: Tăng cường năng lực
Thực hiện bởi
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn, Trường Đại học Nông Lâm Thái
nguyên và tổ chức CSIRO Tháng 3 năm 20102
Tuy nhiên, nhờ có sự can thiệp của dự án CARD, tại bốn điểm của dự án số người quan
tâm tới trồng cây và bảo vệ tốt rừng tự nhiên ngày càng tăng.
2 Tăng cường năng lực
Quản lý rừng cộng đồng (CFM) là một quá trình liên tục và lâu dài. Một cách tiếp cận cơ
bản trong CFM là để cho những người dân sống phụ thuộc vào rừng là người quyết định.
Vì vậy, sự tham gia của cộng đồng địa phương là một phần quan trọng và đảm bảo tính
bền vững của cả dự án. Để việc tham gia có hiệu quả trong CFM, mỗi cộng đồng địa
phương phải có năng lực và các kỹ năng cần thiết trong các hoạt động liên quan đến
CFM. Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề trên, trong quá trình thực hiện, dự án CARD tập
trung chủ yếu vào tăng cường kiến thức và các kỹ năng cho cộng đồng 2 thôn và chính
quyền xã Văn Minh và Lạng San. Đã có những thành quả đạt được thông qua các khóa
tập huấn lý thuyết và thực hành, các đợt thăm quan học tập và hội thảo. Phụ nữ được
khuyến khích tham gia các hoạt động tập huấn. 3
Sau khi tham dự các khóa tập huấn, các trưởng thôn và cán bộ chủ chốt xã đã trở thành
cán bộ tập huấn, hỗ trợ các thôn khác trong xã phổ biến các kiến thức được thực hành
trong dự án CARD.
Dự án CARD đã tiến hành các hoạt động tăng cường năng lực dưới đây:
2.1 Quy hoạch sử dụng đất và giao đất
Ngay sau khi dự bán bắt đầu vào tháng 3 năm 2007, các khóa tập huấn về quy hoạch sử
dụng đất và giao đất được thực hiện trong tháng 5 năm 2007 cho 26 người chủ chốt trong
thôn và lãnh đạo địa phương tại bốn thôn điểm dự án là thôn Nà Mực và Khuổi Liềng xã
Văn Minh và thôn Bản Sảng và To dooc xã Lạng San. Tiến sĩ Lê Sỹ Trung của Trường
CFM
- Chuyển giao đất rừng cho cộng đồng
- Thiết lập các quy định CFM
- Thiết lập và thực hiện kế hoạch CFM
- Thiết lập quỹ phát triển rừng cộng đồng
4
- Giám sát và đánh giá các hoạt động CFM
Báo cáo đầy đủ của khóa tập huấn này được đưa ra trong phụ lục 2
2.3 Nhân rộng mô hình vườn ươm
Mục đích chính là tập huấn người dân trong thôn và cán bộ khuyến nông các kỹ năng cơ
bản trong hoạt động vườm ươm nhằm xuất vườn cây giống chất lượng tốt. Nội dung khóa
học bao gồm các nhiệm vụ chính của thiết lập vườm ươm: lập kế hoạch, lựa chọn vị trí,
vật liệu làm vườn ươm, gieo hạt, cấy vào bầu, chăm sóc và chuyển cây con ra ngoài vườn
ươ
m. Lãnh đạo dự án phía Úc, ông Khongsak Pinyopusarerk chủ trì tập huấn 2 thôn Nà
Mực và To dooc, phía Việt Nam ông Nguyễn Mỹ Hải (Cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc
Kạn) tiến hành tập huấn cho 2 thôn còn lại, Khuổi Liềng và Bản Sảng. Khóa tập huấn thu
hút sự quan tâm rất lớn của người dân, có tới 125 người tham dự, trong đó vượt quá số
người dự kiến là 45 người. Khóa học bắt đầu bằng phần giảng dạy lý thuyết tại hội trường
của thôn, các giảng viên đã sử dụng nhiều giáo cụ trực quan như tranh ảnh, hình vẽ bằng
tiếng việt. Sau phần giảng dạy lý thuyết là phần thực hành, tập trung vào thực hành các
kỹ thuật như chuẩn bị bầu và ruột bầu, gieo hạt. Vào ngày thứ hai, các tập huấn viên và
người học cùng tham gia xây dựng vườn ươm. Một quyển hướng dẫn kỹ thuật vườn ươm
cho tác nghiệp thôn bản đã được chuẩn bị và dịch sang tiếng việt. Báo cáo đầy đủ của
khóa tập huấn này được trình bày trong phụ lục 3.
Khi dự án mới bắt đầu người dân còn thiếu kiến thức để thiết lập và quản lý vườn ươm
các vấn đề kỹ thuật, thì các vấn đề khác như thể chế và chia sẻ lợi nhuận, các quy định
của chính phủ cũng đã được giải quyết để người dân quan tâm đến việc liên doanh này có
một sự hiểu biết tốt hơn về các chính sách và quy định của chính phủ về phát triển trồng
rừng.
Khóa tập huấn được tiến hành tại trung tâm xã Văn Minh cho người dân thôn Nà Mực và
Khuổi Liềng, tại trung tâm xã Lạng San cho người dân thôn To dooc và Bản Sảng. Việc
người dân hai thôn tập huấn cùng nhau đã có rất nhiều thuận lợi, giúp tăng cường tác
động lẫn nhau giữa người dân các thôn, tăng cường hợp tác và trao đổi thông tin, chia sẻ
kinh nghiệm.
Báo cáo đầy đủ của khóa tập huấn này được trình bày trong phụ lục 4.
2.5 Luật bảo vệ rừng
Cộng đồng địa phương ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ
rừng cộng đồng, quan tâm tới phát triển trồng rừng thì việc hiểu luật bảo vệ rừng và các
chính sách của chính phủ là cần thiết đối với người dân địa phương. Do đó, một khóa tập
huấn về luật bảo vệ và phát triển rừng (ban hành năm 2004) đã được tiến hành tại hai xã
dự án từ ngày 18-21 tháng 6 năm 2009. Dự kiến những người sau khi tham gia khóa tập
huấn sẽ hiểu và tuân thủ các điều khoản của nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng. Họ sẽ làm việc hiệu quả hơn và không xung đột với chính quyền địa phương.
Có 80 người dân từ bốn thôn điểm tham dự tập huấn, lớp tập huấn do ông Hà Đức Tiến,
phó giám đốc Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn chủ trì. Những nội dung chính của luật bảo
vệ và phát triển rừng hiện hành (2004) đã được giải thích cặn kẽ. Luật 2004 là bản sửa
đổi của luật bảo vệ rừng năm 1991.
Báo cáo đầy đủ của khóa tập huấn này được trình bày trong phụ lục 5.
2.6 Mô hình nông lâm kết hợp
Dự án CARD đã dùng một phương pháp tạo thu nhập cho người dân bằng cách sử dụng
các hệ thống nông lâm kết hợp mà ở đó cây trồng ngắn ngày trồng xen với cây lâm
bốn thôn điểm dự án là thôn Nà Mực và Khuổi Liềng thuộc xã Văn Minh và thôn To
dooc và Bản Sảng thuộc xã Lạng San tại huyện Na Rì từ ngày 26 – 29 tháng 9 năm 2008.
Do tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ ( NTFP) trong các thôn dự án, một số lãnh đạo
và cán bộ chủ chốt của xã đã được mời tham gia tập huấn để cung cấp cho người dân
thông tin liên quan đến chính sách và quy định của chính phủ về thu hoạch và kinh doanh
NTFP. Các cộng đồng địa phương đã thu hoạch và sử dụng NTFP như một phần của sinh
kế hàng ngày, nhưng hầu hết họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của NTFP trong
thương mại quốc tế và tiềm năng để tạo thu nhập cho hộ gia đình.
Do cần có các chủ đề cụ thể cho lớp tập huấn, dự án đã tìm kiếm sự hỗ trợ từ Trung tâm
Nghiên cứu Lâm sản Ngoài gỗ của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện đã cử
một chuyên gia về NTFP, ông Phan Văn Thắng ( Trưởng phòng Trồng trọt và thu hoạch
NTFP) giảng dạy và chuẩn bị vật liệu cho bài tập tại hiện trường. Ông Khongsak
Pinyopusarerk (CSIRO) và tiến sĩ Trần Thị Thu Hà hỗ trợ ông Thắng trong thời gian tập
huấn.
Các bài giảng được trình bày trong một ngày rưỡi, giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan
với nhiều hình ảnh (đã được dịch sang tiếng việt). Các buổi giảng bài của giáo viên đều
có nhiều bài tập và ch
ủ đề thảo luận theo nhóm. Nửa ngày còn lại là thực hành trong một
khu rừng nơi mà những người tham gia được hướng dẫn cách trồng các loài NTFP và làm
thế nào để thực hiện thu hoạch bền vững các loài NTFP khác nhau.
Sau khi tham dự lớp tập huấn, học viên sẽ tiếp thu được những kiến thức cơ bản như sau:
1. NTFP là gì?
2. Vai trò quan trọng của NTFP đối với sinh kế địa phương
3. Nắm được các chính sách quan trọng của chính phủ liên quan tới thu hoạch và
kinh doanh NTFP
4. Kỹ thuật trồng một số loài NTFP
2.9 Hội thảo cộng đồng
Các hoạt động CFM của dự án CARD đã được tiến hành hơn 2 năm tại 04 thôn điểm: Nà
Mực và Khuổi Liềng của xã Văn Minh và thôn To dooc và Bản Sảng của xã Lạng San.
Nhằm phổ biến phương pháp CFM của CARD đến các thôn khác trong các xã, hai hội
thảo cộng đồng được tổ chức liên tiếp tại 2 xã khác nhau từ ngày 22 -23 tháng 6 năm
2009. Chương trình tại mỗi xã gồm có giới thiệu CFM của dự án, các hoạt động tiếp theo,
tiếp tục tổ chức các chuyến thăm quan học tập tới những mô hình nông lâm nghiệp và
vườn ươm. Lãnh đạo xã, cán bộ khuyến nông xã và trưởng thôn đã tham gia các cuộc họp
và các đợt thăm quan học tập.
Hội thảo tổ chức tại xã Văn Minh đã có 46 người tham dự. Ngoài người dân tại thôn điểm
Nà Mực và Khuổi Liềng còn có người dân từ 09 thôn khác (Na Ro, Khuoi Tuc, Tong
Kong, Na Piet, Na Ngoa, Na Deng, Pac Ban, Na Du and Pac Lieng) cũng đến tham dự. 9
Hội thảo tổ chức tại xã Lạng San đã có 46 người tham dự, ngoài người dân tại thôn điểm
To dooc và Bản Sảng còn có người dân từ 7 thôn khác (Cho Moi, Na Diec, Ban Ken,
Phieng Bang, Khau La, Na Huu and Na Riec) đến tham dự
Nội dung chính của các hội thảo gồm có:
• Nhân rộng các hoạt động CFM của dự án CARD đến các thôn khác
• Cung cấp hạt giống trồng chất lượng cao
• Giao đất rừng cộng đồng ( sổ đỏ)
• Các khóa tập huấn đặc biệt chú trọng tới chất lượng vườn ươm thôn để sản xuất
cây con chất lượng cao
Hoạt động tiếp theo của hội thảo cộng đồng là các trưởng thôn Nà Mực và Khuổi Liềng
đã giúp đỡ các thôn lân cận trong việc thiết lập vườn ươm cộng đồng.
rừng cộng đồng, quỹ dành cho phát triển rừng cộng đồng, mô hình vườn ươm và mô hình
nông lâm nghiệp đã được đánh giá cao. Tuy nhiên, cần có kế hoạch để tiếp tục duy trì các
hoạt động này. Dự án CARD cũng nên học hỏi kinh nghiệm từ các tổ ch
ức và dự án khác
10
để nâng cao hiệu quả thực hiện. Nội dung buổi hội thảo đã được đưa tin trên báo chí và
chiếu trên truyền hình Bắc Kạn và đồng thời phát trên kênh truyền hình Na Rì để người
dân nơi đây biết được nội dung hội thảo của dự án CARD. 3 Khảo sát ban đầu lại tại bốn thôn điểm của dự án
Khảo sát lại này được tiến hành để xác định những thay đổi trong hiện trạng kinh tế xã
hội, sử dụng đất rừng được giao và quản lý rừng cộng đồng tại bốn thôn điểm trong hơn
ba năm kể từ khi triển khai dự án CARD. Các kết quả khảo sát cho thấy rằng hầu hết các
hộ gia đình vẫn ở mức nghèo và đối mặt với khó khăn kinh tế xã hội, một số hộ gia đình
còn phải đối mặt với vấn đề thiếu lương thực từ 3-6 tháng/năm. Mặc dù đất lâm nghiệp
có thể được sử dụng để cải thiện sinh kế nhưng thu nhập từ rừng là tương đối nhỏ do
thiếu vốn đầu tư và rừng trồng hiện tại vẫn còn quá trẻ để thu hoạch. Tuy nhiên, tại bốn
điểm của dự án số người quan tâm tới trồng cây và bảo vệ tốt rừng tự nhiên ngày càng
tăng.
Sự can thiệp của dự án CARD đã góp phần thay đổi đáng kể hiện trạng rừng cộng đồng
trong vùng dự án. Qua những buổi phỏng vấn với người dân địa phương thì tất cả người
dân nơi đây đều nhận thấy có sự thay đổi to lớn trong CFM hơn ba năm qua. Những thay
đổi tích cực được thể hiện trong một số chỉ tiêu cơ bản như làm giàu rừng cộng đồng,
giảm các trường hợp khai thác rừng trái phép, tuân thủ luật bảo vệ rừng, đặc biệt diện tích
rừng được trồng mới. Trong khi các chỉ số khác thay đổi không rõ ràng như thu nhập từ
rừng cộng đồng, thu nhập của thôn, thu nhập hộ gia đình và hoạt động các nguồn nước.